Chương 1: Khái niệm chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra Chương 2: Cơ sở pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại và pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra Chương 3: Thực trạng giải quyết bồi thường thiệt hại và phương hướng hoàn thiện pháp luật Kết luận Vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra là vấn đề phức tạp. Mặc dù cố gắng rất nhiều nhưng do hạn chế về thời gian và những yếu tố khác nên khó tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế trong Luận văn này, do vậy rất mong nhận được sự sư góp ý, hướng dẫn của các thầy cô và bạn bè để luân văn này đuợc hoàn thiện hơn nữa 4 z CHƢƠNG 1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO NGƢỜI CÓ THẨM QUYỀN CỦA CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG GÂY RA 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC TRƢNG, ĐIỀU KIỆN CỦA TRÁCH NHIỆM BTTH NGOÀI HỢP ĐỒNG Chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một nội dung quan trọng trong pháp luật dân sự, có liên quan tới nhiều mặt của đời sống xã hội , tác động tới quyền tự do, dân chủ của công dân, mục tiêu công bằng xã hội, xuất phát từ tầm quan trọng này, chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với tư cách là một chế định độc lập của luật dân sự Việt Nam hiện đại được quy định tại chương chương XXI Bộ luật dân sự năm 2005. Điều 604 – Bộ luật dân sự năm 2005 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm phải bù đắp những tổn thất về vật chất hoặc tinh thần của người gây thiệt hại đối với người bị thiệt hại phát sinh không từ hợp đồng.
Theo nguyên tắc chung khi một chủ thể có hành vi vi phạm thì phải gánh chịu một hậu quả pháp lý xấu. Hậu quả pháp lý này sẽ do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng. Trong quan hệ dân sự, hậu quả pháp lý là hậu quả về tài sản do vậy pháp luật cho pháp các bên tự nguyện thực hiện trách nhiệm đó. Trường hợp không tự nguyện thực hiện thì người bị vi phạm có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biên pháp cưỡng chế để bảo đảm quyền lợi cho mình.
5 z Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng việc xem xét đặc điểm cũng như điều kiện phát sinh trách nhiệm ngoài hợp đồng hết sức quan trọng. * Đặc trƣng của trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng: Cũng giống như trách nhiệm dân sự nói chung trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng cũng mang những đặc điểm chung của trách nhiệm pháp lý. - Cơ sở thực tế của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là những vi phạm pháp luật, ở đâu có vi phạm pháp luật, ở đó có trách nhiệm pháp lý. Không có vi phạm pháp luật thì không thể có trách nhiệm pháp lý - Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thể hiện sự lên án của Nhà nước, xã hội và là một chế tài mang tính trừng phạt đối với chủ thể gây thiệt hại thông qua việc buộc họ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi do hành vi vi phạm của mình, đặc điểm này giải thích lý do tại sao cấu thành của trách nhiệm bồi thường thiệt hại có nội dung chủ yếu là khôi phục những thiệt hại đã xảy ra.
- Cơ sở pháp lý của việc truy cứu trách nhiệm pháp luật là quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Điều này xuất phát từ đặc điểm không tách rời giữa trách nhiệm pháp lý và nhà nước, có nghĩa là nhà nước thông qua các cơ quan, người có thẩm quyền mới có thẩm quyền xác định một cách chính thức hành vi nào là vi phạm pháp luật và áp dụng biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể gây ra thiệt hại đó. - Ngoài ra, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn mang đặc tính của trách nhiệm dân sự là trách nhiệm tài sản nhằm khôi phục lại tình trạng tài sản của người bị thiệt hại do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng. Từ những đặc trưng pháp lý trên cho thấy về cơ bản trách nhiệm bồi thương thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh không phải từ hợp đồng mà chủ yếu từ hành vi vi phạm pháp luật 6 z * Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là những yếu tố, những cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường, người phải bồi thường, người được bồi thường và mức độ bồi thường, nếu thiếu một trong những điều kiện đó thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ không được đặt ra. Bộ luật dân sự không quy định cụ thể các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm, xuất phát từ những quy định, những nguyên tắc của pháp luật nói chung và pháp luật dân sự nói riêng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có những điều kiện sau: - Có thiệt hại xảy ra Thiệt hại được hiểu là sự giảm bớt những lợi ích vật chất hay tinh thần của một người do có sự kiện gây thiệt hại của người khác được xác định bằng một khoản tiền cụ thể.
Thiệt hại đồng thời mang ý nghĩa pháp lý và xã hội. Nhìn từ góc độ xã hội, thiệt hại động chạm và làm ảnh hưởng đến những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Còn góc độ pháp lý của thiệt hại, hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Dưới góc độ xã hội thiệt hại động chạm và làm ảnh hưởng đến những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, còn dưới góc độ pháp lý, thiệt hại tự nó cho thấy hành vi trái pháp luật đã xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cũng như của nhà nước, ý nghĩa này làm cho thiệt hại trở thành tiền đề quan trọng để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việc phân loại thiệt hại có ý nghĩa quan trọng hoạt động xét xử của Toà án, Toà án có thể căn cứ vào loại thiệt hại để áp dụng các biện pháp, chế độ khác nhau để khắc phục những thiệt hại xảy ra hoặc áp dụng những biện pháp cần thiết khác để bảo đảm quyền lợi cho các đương sự. Thiệt hại có thể phân loại thành: 7 z + Thiệt hại về tài sản: Đây là hậu quả của hành vi trái pháp luật do chủ thể có lỗi gây ra mà biểu hiện cụ thể là mất tài sản, giảm sút tài sản, những chi phí để ngăn chặn, hạn chế, sửa chữa, thay thế, những lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác công dụng của tài sản.
+ Thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ là hậu quả của hành vi trái pháp luật do chủ thể có lỗi gây ra làm phát sinh thiệt hại về vật chất bao gồm chi phí cứu chữa, bồi thường, chăm sóc, phục hồi chức năng bị mất, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do thiệt hại về tính mạng, sức khỏe. + Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại: Đây chính là các giá trị nhân phẩm của chủ thể này bị chủ thể khác xâm phạm từ hành vi trái pháp luật, từ đó kéo theo hàng loạt các thiệt hại khác bao gồm chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại - Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật Một trong những điều kiện để xác định trách nhiệm bồi thuờng thiệt hại theo quy định của Bộ luật dân sự là phải có hành vi xâm phạm quyền dân sự, hiểu theo nghĩa rộng đó chính là hành vi trái pháp luật. Trong bộ luật dân sự Việt Nam năm 1995 mặc dù không có điều luật nào quy định cụ thể khái niệm hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, theo quy định tại điều 609 có thể hiểu hành vi trái pháp luật là hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác” Hành vi gây thiệt hại thường được thể hiện dưới dạng hành động, chủ thể đã thực hiện hành vi mà đáng ra không được thực hiện các hành vi đó, Tuy nhiên, không phải tất cả các hành vi gây thiệt hại cho người khác đều là hành vi trái pháp luật, 8 z Hành vi gây thiệt hại có thể là hành vi hợp pháp nếu người thực hiện hành vi đó theo nghĩa vụ mà pháp luật hoặc nghề nghiệp buộc họ phải thực hiện hành vi đó.
Trong truờng hợp này nguời gây thiệt hại không phải bồi thường; người gây thiệt hại không phải bồi thường trong trưòng hợp phòng vệ chính đáng, trong tình thế cấp thiết hoặc có sự đồng ý của người bị thiệt hại ( khoản 1 điều 613; Điều 614 BLDS). Tuy nhiên, nếu vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng, vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người gây ra thiệt hại vẫn phải bồi thường thiệt hại. Một trong những điều kiện để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ luật dân sự là phải có hành vi xâm phạm quyền dân sự. Hiểu theo nghĩa rộng, đó chính là hành vi trái pháp luật.