Chương 1. MỘT sô VÁN ĐÊ LÝ LUẬN VÊ TRÁCH NHIỆM BÔI THƯỜNG THIỆT • HẠI • DO sủc VẬT • GÂY RA 1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra 1. Khái niệm “súc vật” Súc vật được hiểu là “thú nuôi trong nhà” [24], “con vật nuôi trong nhà”[25], “súc vật nuôi trong nhà”[17,1052J, hoặc có thể hiểu một cách chung nhất là “súc vật là những loài vật nuôi trong nhà”.
Tuy nhiên, vật nuôi có thể là các loài thú hoặc các loài chim, mà súc vật là động vật thuộc lóp thú, là “một loài động vật có bốn chân, có vú và sinh con”[17,1270], gia cầm là “giống vật có cánh nuôi trong nhà như gà, vịt, ngồng.”[17,431], Ngoài ra, súc vật còn được hiểu là “thú dữ được thuần hoá. Mặc dù, BLDS 2015 không đưa ra khái niệm về súc vật, nhưng đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về súc vật. Nhìn chung, các cách định nghĩa này đều khẳng định súc vật là loài thú đã được thuần dưỡng để nuôi ở trong nhà. Chỉ có Giáo trình Luật Dân sự (tập II) của Trường Đại học Luật Hà Nội khẳng định súc vật là “thủ dữ được thuần hoá”.
Theo quan điểm của tác giả thì không nên coi súc vật là “thú dữ được thuần hoá”, bởi vì: Nghiên cứu đã chỉ ra rằng thú dữ là “các loài thú to lớn hay tấn công và ăn thịt thú khác, đôi khi làm hại tới cả con người như: Hùm, beo, chó sói,.” Thú dữ có đặc điểm khác biệt so với súc vật, trong đó có đặc điếm quan trọng là chưa được con người thuần dưỡng. Còn những loài thú nuôi được nuôi trong nhà đều có bản chất là “không dữ”, đã được con người thuần dưỡng, sống thân thiết với con người. Do đó, chỉ nên coi súc vật là loại thú “không dừ”. Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm súc vật như sau: “Súc vật là những loài động vật đã được con người thuần dưỡng để trở thành những 9 vật nuôi trong nhà, sông thân thiện với con người, con người có thê điêu khiển được hoạt động của chúng để phục vụ cho các nhu cầu của minh”.
Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Trong đời sống hàng ngày, các thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân, tài sản, danh dự, uy tín của tố chức có thể xảy ra dưới nhiều tác động khác nhau, những tác động đó có thể là tác động khách quan, có thế là những hành vi vi phạm một quy tắc xử sự, đó có thế là ý chí của các bên tạo ra hoặc do một quy tắc xử sự do pháp luật quy định. Do đó Nhà nước sử dụng nhiều biện pháp pháp luật để ngăn chặn hậu quả của những tác động, quy tắc xử sự. Ví dụ: Điều 166 BLDS 2015: Quyền đòi lại tài sàn; Điều 584: Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Như vậy, giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại sẽ phát sinh một quan hệ pháp luật, theo đó người bị thiệt hại có quyền yêu cầu người gây thiệt hại phải bồi thường những thiệt hại do bên gây thiệt hại đã gây ra.
Quan hệ pháp luật đó được gọi là trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Căn cứ vào điều kiện phát sinh, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được phân thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo họp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Theo đó, trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng được hiểu bằng những khái niệm như sau: Tránh nhiệm dân sự ngoài họp đồng là trách nhiệm của người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác về tài sản, sức khoẻ, tính mạng, các quyền nhân thân .”[13,8]; Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài họp đồng là quy định của luật dân sự nhằm bắt buộc người có hành vi xâm phạm đến tài sản, sức khoẻ, tính mạng,. cùa các chù thể khác mà gây thiệt hại phải bồi thường những thiệt hại mà mình gây ra”[15,389].
10 Tuy nhiên, các khái niệm này đêu được xây dựng dựa trên căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định tại Điều 604 BLDS 2005, trong đó nguyên nhân gây ra thiệt hại được xác định là hành vi xâm phạm các đổi tượng được pháp luật bảo vệ. Trước thời điểm BLDS 2015 có hiệu lực, các khái niệm được đưa ra hoàn toàn phù hợp với quan điểm lập pháp của Việt Nam; khi BLDS 2015 được thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2015 (có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2017) đã có sự thay đổi cơ bản về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trong đó nguyên nhân dẫn đến thiệt hại được đề cập tại Điều 584 BLDS không chỉ có hành vi mà còn có hoạt động của tài sản nói chung và súc vật nói riêng. Điều này cho thấy khi BLDS 2015 có hiệu lực thi hành, các quan điểm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng sẽ phải thay đổi cho phù hợp với quan điểm của các nhà lập pháp. Tức là khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không chỉ xây dựng trên cơ sở hành vi gây thiệt hại, mà còn phải dựa vào trường hợp súc vật gây thiệt hại nhưng vẫn dựa trên nền tảng của trách nhiệm của dân sự nói chung.
Theo đó, khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có thể được hiểu như sau: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm dân sự theo đó một hoặc nhiều chủ thể phải bù đắp những tổn thất (tổn thất này có thể là tổn thất về vật chất hoặc tổn thất về tinh thần) mà người bị thiệt hại phải gánh chịu khi các đối tượng được pháp luật bảo về bị xâm phạm”. Khái niệm • trách nhiệm • bồi thường o thiệt • do súc vật • hại • ogây ra BTTH do súc vật gây ra cũng là một trường hợp của BTTH ngoài hợp đồng. Tuy nhiên, khác với các trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài họp đồng khác, BTTH do súc vật gây ra xảy ra không xuất phát từ hành vi của chủ sở hữu súc vật, người chiếm hữu, sử dụng súc vật hay người thứ ba mà thông 11 qua hoạt động của súc vật và họ bị suy đoán mặc định là có lỗi trong quản lý hoạt động của chúng. Việc gây thiệt hại của súc vật xuất phát từ nhiều yếu tố khác nhau, như: (i) Con người dù đã thuần hóa, kiếm soát được hoạt động của súc vật, nhưng súc vật vẫn mang những bản tính tự nhiên của động vật hoang dã, do con người thiếu ý thức trong quản lý hoạt động của súc vật, chúng có thể gây thiệt hại.
Ví dụ: Trâu, bò đến thời kỳ động dục thường hay có động thái nhảy cuồng, khi đói chúng thường ăn rau cở mà chúng gặp, chó nuôi khi sinh con thường hay dữ tính để bảo vệ con. Vi vậy, con người không quản lý chặt chẽ súc vật thì có thể sẽ gây thiệt hại cho người khác; (ii) Sự quản lý của con người với súc vật thông qua các phương thức và công cụ quản lý khác nhau. Ờ Việt Nam, hình thức chăn nuôi mang tính chất quang cảnh (chăn nuôi trong phạm vi gia đình, thả rông. Do vậy, chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu, sử dụng súc vật trong trường hợp có sự lơi lỏng hoặc khó quản lý hoạt động của súc vật dẫn tới súc vật gây thiệt hại cho chủ thể khác.
(iii) Dưới tác động của môi trường, điều kiện sống, bệnh dịch mà động vật có những động thái gây thiệt hại trái với bản tính tự nhiên của nó như trâu bò mắc bệnh điên, chó dại. Việc chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng hoặc người thứ ba đế súc vật gây thiệt hại là lồi suy đoán mặc định cho đến khi có bằng chứng ngược lại nhàm nâng cao trách nhiệm quản lý của họ đổi với súc vật. về nguyên tắc, khi súc vật gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản cho các chủ thể thì họ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Việc suy đoán lỗi sẽ không áp dụng trong trường hợp, súc vật gây thiệt hại do lồi hoàn toàn thuộc về người chiếm hữu, sử dụng súc vật trái pháp luật hoặc của chính người bị thiệt hại.
12 Như vậy, TNBTTH do súc vật gây ra được định nghĩa như sau: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra là trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng của chủ thê có quyền và nghĩa vụ liên quan khi họ đê súc vật thuộc quyền sở hữu, quản lý của họ hoặc chịu sự tác động của họ mà gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản cho người khác. Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra 1. Nhũng O đặc • điếm chung o của trách nhiệm • bồi thường o thiệt • hại • ngoài họp đồng Thứ nhất, là một loại trách nhiệm dân sự Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài họp đồng nói chung là trách nhiệm của người phải bồi thường đối với người được bồi thường (những chủ thế pháp luật dân sự) mà không phải trách nhiệm của người gây thiệt hại với Nhà nước (Việc xác định thiệt hại, chủ thể bồi thường, nguyên tắc, năng lực bồi thường,. được điều chỉnh bởi pháp luật hình sự hay quy phạm pháp luật hành chính).
Thứ hai, là trách nhiệm mang tính tài sản (trách nhiệm vật chất) Thiệt hại thực tế xảy ra có thế thiệt hại về tài sản, sức khoẻ, tính mạng, danh dự, nhân phẩm hoặc uy tín, nhưng người chịu trách nhiệm bồi thường không phải chịu một sự tổn thất tưong tự mà luôn xác định bằng một phần tài sản nhất định để bồi thường, người phải bồi thường chỉ phải chịu tổn thất về tài sản. Thứ ba, là hậu quả bất lợi mà một chủ thể phải gánh chịu về nguyên tắc, các bên có thể thoả thuận về phương thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật, phải thực hiện một công việc. Tuy nhiên, việc bồi 13 thường dù có được thực hiện băng một phương thức nào đi chăng nữa thì cũng hướng tơi việc bù đắp những thiệt hại mà người bị thiệt hại phải gánh chịu. Có thể hiểu là người có trách nhiệm bồi thường phải bù đắp những thiệt hại được tính toán bằng một lượng tài sản nhất định.
Thứ tư, chỉ phát sinh khi có thiệt hại xảy ra Thực tế nhiều loại trách nhiệm phát sinh ngay khi có hành vi vi phạm xảy ra, cho dù hành vi đó chưa gây ra hậu quả (ví dụ trách nhiệm hình sự).