Chương 1 NHUNG VAN DE CHUNG VE TRÁCH NHIỆM BOI THƯỜNG CUA NHÀ NƯỚC TRONG HOAT DONG QUAN LY HANH CHÍNH 1. Khái niệm va đặc điểm của trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Trong tiếng Việt, thuật ngữ “rách nhiệm” gần nghĩa với thuật ngữ “nghia vu’, theo Đại từ điển tiếng Việt: trách nhiệm là “điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình”`, nghĩa vụ là “việc phải làm theo bồn phận của mình””. và phương diện đạo đức xã hội, trách nhiệm là sự ràng buộc cá nhân, tổ chức phải thực hiện những nghĩa vụ nghiêng về bổn phận mang tính luân lý, đạo đức”.
Ở phương diện này, trách nhiệm của Nhà nước được quan niệm với triết lý: Nhà nước là đại điện chính thức của toàn xã hội, vì vậy nhà nước có quyền thay mặt nhân dân chủ động và độc lập quyết định những vấn đề đối nội và đối ngoại. Đó là quyền lực được nhân dân ủy quyền cho nhà nước đồng thời là trách nhiệm của nhà nước dé thực hiện chức năng quản lý nhà nước, để bảo đảm an ninh, an toàn và phát triển xã hội, bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân. Xét về phương diện pháp lý, trách nhiệm pháp lý của nhà nước, tô chức và cá nhân phát sinh trên cơ sở quy định của pháp luật và được bảo ' Nguyễn Như Y (1999), “Dai tir điển tiếng Việt”, Nxb Văn hóa Thông tin, Ha Nội. 157 Ls ? Viện khoa học pháp ly, Bộ Tư pháp (2006) “Từ điển Luật học”, NXB từ điển bách khoa, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr.
3 Trần Thị Hiền (2006), “Trách nhiệm bồi thường nhà nước khi công chức thi hành công vụ gây thiệt hại trong lĩnh vực hành pháp”, Kỷ yếu hội thảo pháp luật và chính sách về trách nhiệm bồi thường nhà nước ở một số nước. Văn phòng Quốc Hội và Văn phòng Viện Friedrich — Ebert - Stiftung Cộng hòa liên bang Duc, tr. 12 đảm thực hiện băng pháp luật. Trong xã hội hiện đại, pháp luật vừa có chức năng bảo vệ, vừa có chức năng điều chỉnh, thúc đây các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng.
Theo Dai từ điển tiếng Việt, bồi thường là việc “đến bù những ton that đã gây ra’. Về mặt pháp lý, bồi thường là một dang cụ thé của nghĩa vu dân sự phát sinh do hành vi gây cách bù đắp, đền bù tổn thất về vật chất và tôn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại. Vậy bồi thường có thé hiểu là việc đền bù những tổn thất, mat mát về vật chất và tinh thần nhằm khắc phục những hậu quả do hành vi gây thiệt hại gây ra'. Dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Đại từ điển Tiếng Việt “thiét hai” được hiểu là “mat mát, hư hỏng nặng nê về người va của”°.
Quan điểm truyền thống của khoa học pháp luật dân sự luôn coi thiệt hại là những ton thất có liên quan đến tài sản. Tuy nhiên theo những quan điểm hiện nay thì thiệt hại bao gồm không chỉ những tổn thất về tài sản. Theo từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội thì thiệt hại là “?ổn thất về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, t6 chức được pháp luật bảo vệ ””.Trong quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Điều 310 BLDS 1995 xác định “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gom trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bồi thưởng thiệt hai về tỉnh thân”. Điều này tiếp tục được khang định tại Điều 305 BLDS 2005 “?zách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bôi thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bôi thường bù đắp ton thất về tỉnh than.
Như vay, về 4 Nguyễn Như Ý (1999), “Dai te dién tiếng Viet”, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr. > Phạm Hồng Nhung (2015), M6t số vấn dé lý luận và thực tiễn về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. Nguyễn Như Ý (1999), “Dai tir điển tiếng Việt”, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, t r. 7 Truong Dai học Luật Ha Nội (1999), “Từ dién giải thích thuật ngữ luật học”, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.
13 mặt khoa học và luật thực định thì quan điểm phổ biến hiện nay về thiệt hai là thiệt hại bao gồm: thiệt hại về vật chat và thiệt hại về tinh than’. Thiệt hại về tinh thần bao gồm “ổn that về danh dự, uy tín, nhân phẩm hoặc suy sụp về tâm ly, tình cảm của ca nhân” va thiệt hại về vật chất bao gồm “tdi sản bị mat, bị hủy hoại, bị hư hỏng; chi phí phải bỏ ra dé khắc phục, ngăn chặn thiệt hại cùng những hoa lợi, lợi tức không thu được mà đáng ra thu được ”! Như vậy, thiệt hại có thé hiểu là những tôn thất, mất mát về vật chất và tinh thần. Về mặt pháp lý, thiệt hại được xem xét dé bôi thường là những thiệt hai do hành vi cụ thé gây ra. Theo Từ điển Luật học thì bồi thường thiệt hại là “hình thức trách nhiệm dân sự buộc bên có hành vi gáy ra thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách đền bù các tốn thất về vật chất và tồn that về tinh thần cho bên bị thiệt hạt”.
Tổng hợp các thuật ngữ trên thì trdch nhiệm bôi thường thiệt hại được hiểu là trách nhiệm dân sự mà theo đó thì một người phải dén bù những ton thất, mat mát về vật chat và tinh than nhằm khắc phục những hậu qua do hành vi gáy thiệt hại gây ra. Nhà nước với tư cách là một tô chức quyền lực công, thực hiện hoạt động quản lý xã hội bằng pháp luật, có quyền yêu cầu công dân phải có trách nhiệm và thực hiện các nghĩa vụ nhằm duy trì sự ton tại của bộ máy nhà nước. Ngược lại, Nhà nước cũng phải thực hiện các nghĩa vụ của mình đôi với công dân, bảo đảm và tạo điêu kiện đê công dân thực Š Viện khoa học pháp ly, Bộ Tư pháp (2006) “Từ điển Luật học”, NXB từ điển bách khoa, NXB Tu pháp, Hà Nội. ? Viện khoa học pháp ly, Bộ Tư pháp (2006) “Từ điển Luật học”, NXB từ điền bách khoa, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr.
'° Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2006) “Tir điển Luật học”, NXB từ điển bách khoa, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr. '! Viên khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2006) “Tir điển Luật học”, NXB từ điển bách khoa, NXB Tu pháp, Hà Nội, tr. 14 hiện các quyền cũng như hưởng các lợi ích hợp pháp của mình. Nhà nước, mặc dù là chủ thê đặc biệt, tuy nhiên, cũng giống với mọi chủ thể khác, khi tham gia vào quan hệ pháp luật đều phải tuân thủ pháp luật, tôn trọng và không làm tôn hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Thiệt hại ở đây bao gồm cả thiệt hại về vật chất và tinh thần. Đề thực hiện các chức năng của mình thì Nhà nước không thê tự bản thân thực hiện quyền lực mà quyền lực phải được thực hiện thông qua đội ngũ cán bộ, công chức, và ngược lại, khi cán bộ, công chức thi hành công vụ thì họ cũng phải nhân danh Nhà nước dé thực hiện quyền lực Nhà nước. Vì vậy, khi cán bộ, công chức nhân danh Nhà nước thực hiện quyên lực công mà gây thiệt hại cho công dân, tô chức thì Nhà nước sẽ chịu trách nhiệm bồi thường. Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước như sau: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại cua Nhà nước là một loại trách nhiệm pháp lý trong đó Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong một số lĩnh vực hoạt động của Nhà nước `.
Bản chất pháp lý của trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Thứ nhất: TNBTCNN là trách nhiệm dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Quan điểm truyền thống mà nhiều quốc gia xác lập khi xây dựng pháp luật về TNBTCNN thì quan hệ pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là quan hệ pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà một bên chủ thể là Nhà nước. Bên cạnh đó, có một số quan điểm khác cho rằng quan hệ pháp luật này là quan hệ pháp luật hành !* Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Tập bài giảng Luật Trách nhiệm bôi thường của Nhà Nước, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 4 15 chính, vì một bên trong quan hệ pháp luật này là Nhà nước hoặc quan hệ pháp luật này vừa có tính hành chính vừa có tính dân sự ”.
Mặc dù, khi công chức thi hành công vụ và thực thi quyền lực của Nhà nước, các công dân và tô chức có nghĩa vụ phục tùng các quyết định của người thi hành công vụ, và đây là quan hệ mang tính hành chính. Tuy nhiên, khi phát sinh thiệt hai từ hành vi thi hành công vụ của công chức, thì hành vi này làm phát sinh một quan hệ pháp luật mới là quan hệ bồi thường thiệt hại. Trong đó, các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại là những người có quyền và Nhà nước là bên có nghĩa vụ phải bồi thường, Vì vậy, Nhà nước cũng như các chủ thể thông thường, phải bồi thường khi gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Do đó, quan hệ bồi thường nhà nước là quan hệ pháp luật dân sự.
Tại Việt Nam, theo quy định của luật thực định, TNBTCNN được xác định là quan hệ pháp luật dân sự, cụ thể: Thứ nhất, TNBTCNN được ghi nhận ở các văn bản ở tầm luật như BLDS (BLDS 1995 Điều 623, 624; BLDS 2005 Điều 619, 620; BLDS 2015 Điều 598). Thứ hai, tại Điều 7 Luật TNBTNN 2017 cũng quy định các yếu tô phát sinh trách nhiệm bồi thường có những điểm tương đồng trách nhiệm dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong BLDS, việc xác định mức độ thiệt hại cũng như mức bôi thường đều mang bản chất của quan hệ dân sự, tức là bình đăng và thực tế, trên cơ sở thương lượng, thoả thuận giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại.