Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động của đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ở Việt Nam hiện nay" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Trần Thái Hà tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh vào năm 2019, thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật (mã số: 62 38 01 01), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS, TS Trần Quang Hiển và TS Trần Xuân Học.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả trình bày việc đổi mới, kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước là yêu cầu khách quan trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã lần đầu tiên ghi nhận quy định về đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Tuy nhiên, nội dung trong Hiến pháp chỉ gói gọn trong một điều khoản và Luật Tổ chức chính quyền địa phương chỉ có bốn điều (từ Điều 74 đến Điều 77), dẫn đến khoảng trống lớn về cơ sở lý luận và pháp lý để vận hành trên thực tế. Về mặt thực tiễn, Kết luận số 74-KL/TW ngày 17-10-2013 và Thông báo Kết luận số 21-TB/TW ngày 23-3-2017 của Bộ Chính trị đã đặt ra yêu cầu xây dựng đề án thành lập ba đơn vị tại Vân Đồn (Quảng Ninh), Bắc Vân Phong (Khánh Hòa) và Phú Quốc (Kiên Giang), nhưng quá trình thiết kế mô hình nảy sinh nhiều quan điểm khác nhau chưa được luận giải thấu đáo dưới góc độ khoa học pháp lý.

Mục đích nghiên cứu của công trình là làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn, từ đó đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động của đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ở Việt Nam hiện nay. Để hoàn thành mục đích này, tác giả xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  • Một là, tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
  • Hai là, làm rõ những vấn đề lý luận về xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động của đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (khái niệm, nguyên tắc, nội dung, điều kiện bảo đảm và kinh nghiệm quốc tế).
  • Ba là, phân tích, đánh giá ưu điểm, hạn chế trong thực tiễn xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động của đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ở Việt Nam hiện nay và chỉ ra nguyên nhân.
  • Bốn là, xác định các quan điểm chỉ đạo và đề xuất hệ thống giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động của đơn vị này trong thời gian tới.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu được tác giả đặt ra gồm ba câu hỏi:

  1. Để xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động của đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt cần tiến hành những công việc gì, tuân thủ những nguyên tắc nào và cần có những điều kiện bảo đảm gì?
  2. Quá trình xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động của đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ở Việt Nam hiện nay có những kết quả và hạn chế gì? Nguyên nhân của những kết quả, hạn chế đó?
  3. Cần có quan điểm và giải pháp gì để tiếp tục xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động của đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ở Việt Nam trong thời gian tới?

Tác giả đưa ra các giả thuyết nghiên cứu tương ứng: Việc xây dựng mô hình này nhằm tạo cực tăng trưởng và thể nghiệm đổi mới tổ chức bộ máy hệ thống chính trị trong bối cảnh các mô hình kinh tế cũ giảm dần sức hút; thực trạng xây dựng mô hình đã có kết quả bước đầu nhưng còn nhiều hạn chế do cả nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan; mô hình cần bảo đảm tính tinh gọn, hiệu lực, có thể chế vượt trội nhưng phải đặt trong khuôn khổ Hiến pháp, bảo đảm quốc phòng, an ninh và quyền lợi hợp pháp của nhân dân thông qua các giải pháp đồng bộ.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là việc xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động của đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ở Việt Nam dưới góc độ khoa học Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật. Phạm vi nghiên cứu về nội dung tập trung vào tiến trình xây dựng mô hình; phạm vi không gian là lãnh thổ Việt Nam (có nghiên cứu tham khảo mô hình đặc khu Thâm Quyến của Trung Quốc và Incheon của Hàn Quốc); phạm vi thời gian giới hạn từ năm 2013 (khi Hiến pháp năm 2013 được thông qua) đến năm 2019.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu đi trước thành ba nhóm cụ thể:

Nhóm thứ nhất gồm các công trình nghiên cứu về mô hình tổ chức và hoạt động của đặc khu kinh tế và các mô hình tương tự tại Việt Nam: Đề tài của Bộ Khoa học và Công nghệ về xây dựng khu kinh tế mở và đặc khu kinh tế [13]; kỷ yếu hội thảo của Viện Nghiên cứu lập pháp và Quỹ Rosa Luxemburg [144] với bài viết của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ninh phân tích chín yếu tố thành công của đặc khu kinh tế; nghiên cứu của Hoàng Xuân Hòa [52] về kinh nghiệm phát triển đặc khu kinh tế; công trình của Võ Đại Lược [72] về các loại hình khu kinh tế tự do; bài viết của Đặng Phương Hoa [49] về tiền đề thành lập khu kinh tế tự do; nghiên cứu của Hoàng Tùng [134] về thể chế vượt trội; bài viết của Nguyễn Thanh Nghị [78] về định hướng phát triển Phú Quốc thành đặc khu kinh tế.

Nhóm thứ hai là các công trình nghiên cứu về đặc khu kinh tế, khu kinh tế tự do nước ngoài và bài học kinh nghiệm:

  • Nghiên cứu trong nước: Cuốn sách của Viện Kinh tế học [143] về khu chế xuất và đặc khu kinh tế Trung Quốc; Đặng Thị Phương Hoa [51] về thực tiễn phát triển khu kinh tế tự do ở Trung Quốc và Ấn Độ; Cù Chí Lợi [68] về lý luận và thực tiễn khu kinh tế tự do; Nguyễn Ngọc Dung [23, 24] về bài học phát triển đặc khu kinh tế Trung Quốc, Hàn Quốc, Dubai; Nguyễn Thị Thanh Hà [42] và Hứa Thanh Bình [9] về tiến trình phát triển của Thâm Quyến; Nguyễn Thị Quỳnh Thúy [108] về mô hình thí điểm cải cách kinh tế Trung Quốc; Cù Chí Lợi và Hoàng Thế Anh [67] về phân quyền lập pháp kinh tế tại Thâm Quyến; Nguyễn Văn Lịch [65] về đặc khu kinh tế Ấn Độ; Hà Thị Hồng Vân [142] về trường hợp Trùng Khánh; Nguyễn Minh Hằng và Trịnh Thị Hiên [44], Lê Văn Sang và Nguyễn Minh Hằng [109] về các gợi ý từ Trung Quốc; Đặng Thị Phương Hoa [47, 50], Trần Duy Đông [39] về khu kinh tế tự do Hàn Quốc; Nguyễn Văn Cường [22], Võ Đại Lược [73], Nguyễn Văn Sơn [110], Bùi Hồng Cường [21], Phan Thị Thùy Trâm [127], Trịnh Mạnh Linh [66] về kinh nghiệm quản trị và chính sách đặc khu quốc tế.
  • Nghiên cứu nước ngoài: Công trình của Prihodko S. [188] phân tích mô hình tại Nga và Canada; báo cáo của Indian Council for Research on International Economic Relations [167] về ảnh hưởng của đặc khu kinh tế tại Ấn Độ; báo cáo của Ngân hàng Thế giới [158] về hiệu quả và bài học của các đặc khu kinh tế; bài viết của Guangwen Meng [75] do Đặng Thị Phương Hoa dịch; nghiên cứu của Rob Jenkins [171] về chính sách đặc khu kinh tế Ấn Độ; Stephen Creskoff và Peter Walkenhorst [155] về quy định WTO với đặc khu kinh tế; cuốn sách của Thomas Farole và Gokhan Akinci [183] cùng bài viết của Thomas Farole [157] về thách thức và mô hình đặc khu kiểu mới; Sean Woolfrey [193] về đặc khu tại châu Phi; báo cáo kinh nghiệm toàn cầu về Trung Quốc và châu Phi [202]; nghiên cứu của UNDP và International Property Reduction [168] so sánh đặc khu châu Phi và Trung Quốc; Hammad Altaf Khan [173] về khung pháp luật đặc khu kinh tế Pakistan.

Nhóm thứ ba là các nghiên cứu trực tiếp về tổ chức và hoạt động của đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Ngọc Lan [64] cùng loạt bài báo khoa học của tác giả này [59, 60, 62, 63] về tổ chức chính quyền địa phương tự quản tại đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; bài viết của Đỗ Thị Hòa [144] về mô hình chính quyền đô thị, hải đảo và đặc khu; bài viết của Trần Anh Tuấn [130, 131] đề xuất mô hình Trưởng đặc khu; Đinh Thanh Tùng [133] đề xuất bốn nguyên tắc tổ chức bộ máy; Lê Thu Hà [41] về tổ chức tòa án nhân dân sơ thẩm tại đặc khu; Bùi Đức Hiển [46] về pháp luật bảo vệ môi trường trong dự thảo luật; Võ Kim Sơn [111] đề xuất chính quyền một cấp gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân trực thuộc Trung ương; Nguyễn Thị Thiện Trí [128] chỉ ra bất cập trong dự thảo luật; Thái Văn Đoàn [38] bàn về tên gọi và cơ chế trọng tài thương mại; Đặng Vũ Huân [57] về nhu cầu điều chỉnh pháp luật; Dương Quang Tung [132] về điều kiện áp dụng mô hình chính quyền; Trần Minh Ngọc [79] về thể hiện tính đặc thù khi xây dựng luật riêng.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Hầu hết các công trình nghiên cứu trước đây tiếp cận dưới góc độ quản lý kinh tế, khu vực học, hoặc chỉ xem xét cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương (Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân) theo chuyên ngành Quản lý hành chính công (như luận án của Nguyễn Thị Ngọc Lan). Luận án của Trần Thái Hà định vị khoảng trống chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện toàn bộ mô hình tổ chức và hoạt động của đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (bao gồm cả tổ chức Đảng, cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, cùng với phương thức vận hành) dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, quan điểm về xây dựng và hoàn thiện chính quyền địa phương; đồng thời dựa trên các văn kiện, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về hoàn thiện bộ máy nhà nước.

Về khái niệm và khung phân tích:

  • Luận án tiếp cận khái niệm "mô hình tổ chức và hoạt động" trong khoa học pháp lý bao gồm bốn yếu tố cơ bản: vị trí pháp lý, chức năng, cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành.
  • Khái niệm đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt được định nghĩa là một đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được áp dụng các cơ chế, chính sách đặc biệt về kinh tế - xã hội, có chính quyền địa phương được tổ chức phù hợp với đặc điểm, yêu cầu và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đơn vị đó.
  • Phân biệt với các mô hình kinh tế hiện hành: Luận án căn cứ vào Điều 2 và Điều 36 Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14-3-2008 của Chính phủ để chỉ rõ khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế chỉ là các khu vực kinh tế chuyên biệt có ranh giới xác định, được quản lý bởi ban quản lý trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, không phải là đơn vị hành chính và không có chính quyền địa phương. Ngược lại, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt là một cấp đơn vị hành chính hiến định, có dân cư, lãnh thổ và cơ quan chính quyền hoàn chỉnh.

Về phương pháp nghiên cứu thực tế, luận án áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp lịch sử và logic: Được sử dụng tại Chương 2 và Chương 3 để phân tích quá trình hình thành, phát triển các đơn vị hành chính lãnh thổ đặc thù tại Việt Nam, sự phát triển đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt các chương để mổ xẻ các khái niệm, nguyên tắc, điều kiện bảo đảm và tổng hợp tri thức, số liệu thực tiễn.
  • Phương pháp diễn dịch và quy nạp: Sử dụng trong toàn bộ luận án nhằm xây dựng và kiểm định hệ thống các giả thuyết nghiên cứu.
  • Phương pháp tổng kết thực tiễn: Áp dụng chủ yếu tại Chương 3 để đánh giá thực trạng kết quả và hạn chế trong quá trình xây dựng các đề án đặc khu tại Việt Nam.
  • Phương pháp so sánh: Sử dụng tại Chương 2 để đối chiếu mô hình đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt của Việt Nam với mô hình đặc khu kinh tế Thâm Quyến (Trung Quốc) và khu kinh tế tự do Incheon (Hàn Quốc).

Nguồn dữ liệu và tư liệu của luận án bao gồm: Hệ thống văn kiện của Đảng (Văn kiện Đại hội XII, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, Kết luận số 74-KL/TW, Thông báo Kết luận số 21-TB/TW); các văn bản pháp luật (Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015, Nghị định số 29/2008/NĐ-CP); số liệu từ Báo cáo tổng kết hoạt động các mô hình khu công nghiệp, khu kinh tế của Ban Soạn thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt tính đến hết năm 2017; các đề án xây dựng đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt tại Quảng Ninh, Khánh Hòa, Kiên Giang và các báo cáo quốc tế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Chương 1 gồm hai tiết nội dung chính (Tiết 1.1 và Tiết 1.2). Tác giả tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đặc khu kinh tế, khu kinh tế tự do và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Luận điểm trọng tâm của chương là chỉ ra rằng các công trình đi trước chủ yếu xem xét vấn đề dưới góc độ kinh tế học, các chính sách ưu đãi tài chính hoặc quản trị hành chính cục bộ. Qua việc phân tích sự khác biệt về đối tượng và phương pháp tiếp cận so với các công trình tiêu biểu, đặc biệt là luận án của Nguyễn Thị Ngọc Lan (năm 2016), tác giả khẳng định việc nghiên cứu toàn diện mô hình tổ chức và hoạt động của đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt dưới góc độ khoa học Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật là vấn đề chưa từng được giải quyết độc lập, từ đó thiết lập hệ thống câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu của đề tài.

Chương 2: Cơ sở khoa học về xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động của đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

Chương 2 gồm ba tiết (Tiết 2.1, 2.2 và 2.3), tập trung giải quyết các vấn đề lý luận nền tảng:

  • Tác giả phân tích đặc trưng của đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt gồm ba điểm: Là đơn vị hành chính của Việt Nam; được áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt về kinh tế và hành chính; có chính quyền địa phương được tổ chức phù hợp mục tiêu phát triển.
  • Về thẩm quyền và quy trình: Luận án phân tích Khoản 9 Điều 70, Khoản 1 Điều 110 Hiến pháp năm 2013 và Điều 74, 75, 76 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, khẳng định thẩm quyền quyết định thành lập đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt thuộc về Quốc hội theo quy trình bốn giai đoạn chặt chẽ (Chính phủ xây dựng đề án lấy ý kiến nhân dân; Ủy ban Pháp luật hoặc Ủy ban lâm thời của Quốc hội thẩm tra; Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến; Quốc hội xem xét thông qua), khác biệt hoàn toàn với việc thành lập đơn vị hành chính cấp huyện do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định.
  • Bốn nguyên tắc xây dựng mô hình được xác lập: Giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; bảo đảm pháp quyền xã hội chủ nghĩa và kiểm soát quyền lực nhà nước; bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân; kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường.
  • Kinh nghiệm quốc tế: Luận án phân tích mô hình quản lý tập trung và phân quyền lập pháp kinh tế của Thâm Quyến (Trung Quốc) cùng mô hình cơ quan quản lý một cửa của Incheon (Hàn Quốc), rút ra các gợi ý về trao quyền tự chủ quản lý và phân định rõ trách nhiệm người đứng đầu.

Chương 3: Thực trạng xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động của đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 gồm ba tiết (Tiết 3.1, 3.2 và 3.3), tập trung đánh giá thực trạng thể chế và quá trình chuẩn bị các đề án tại Việt Nam.

Tác giả sử dụng số liệu từ Báo cáo tổng kết của Ban Soạn thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt để khái quát bức tranh thực tiễn các mô hình kinh tế tính đến hết năm 2017:

Loại hình mô hình kinh tế Số lượng lũy kế đến hết năm 2017
Khu công nghiệp, khu chế xuất 325
Khu kinh tế cửa khẩu 26
Khu kinh tế ven biển 16
Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao 09
Khu công nghệ thông tin tập trung 07
Khu công nghệ cao 03
Tổng số mô hình khu kinh tế được thiết lập 06 loại hình

Phân tích thực trạng, luận án chỉ rõ các kết quả đạt được: Đã hình thành chủ trương nhất quán của Đảng; khung pháp lý bước đầu được hiến định trong Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; ba địa phương (Quảng Ninh, Khánh Hòa, Kiên Giang) đã chủ động xây dựng đề án cho Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc.

Tuy nhiên, thực tiễn bộc lộ nhiều hạn chế nghiêm trọng: Các khu kinh tế hiện hành suy giảm sức hút do cơ chế ưu đãi không còn vượt trội so với khu vực; ban quản lý khu kinh tế thiếu thẩm quyền hành chính toàn diện; cơ chế "một cửa, tại chỗ" vận hành chưa thông suốt; dự thảo luật về đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt còn nhiều tranh cãi về thiết kế bộ máy (mô hình Trưởng đặc khu hay duy trì Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân); vấn đề phân quyền, kiểm soát quyền lực và bảo vệ quốc phòng, an ninh chưa đạt được sự đồng thuận cao.

Nguyên nhân của các hạn chế bao gồm: Sự thiếu hụt về lý luận dẫn đường; sự lúng túng trong nhận thức về phân cấp, phân quyền; sự xung đột giữa yêu cầu tạo cơ chế vượt trội với khuôn khổ pháp luật hiện hành; thiếu nguồn lực đầu tư hạ tầng đồng bộ và áp lực cạnh tranh gay gắt từ các đặc khu kinh tế trong khu vực Đông Nam Á.

Chương 4: Quan điểm và giải pháp xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động của đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ở Việt Nam trong thời gian tới

Chương 4 gồm hai tiết (Tiết 4.1 và Tiết 4.2), đưa ra hệ thống quan điểm chỉ đạo và các nhóm giải pháp mang tính khả thi:

  • Về quan điểm chỉ đạo: Phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng; tuân thủ Hiến pháp năm 2013; xây dựng thể chế kinh tế - hành chính vượt trội, có khả năng cạnh tranh quốc tế; kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất:
    • Nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế: Khẩn trương ban hành Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt với các quy định rõ ràng về địa vị pháp lý, cơ chế phân quyền mạnh mẽ từ Trung ương và cấp tỉnh cho chính quyền đặc khu.
    • Nhóm giải pháp kiện toàn tổ chức bộ máy: Thiết kế chính quyền địa phương tinh gọn, giảm tầng nấc trung gian, phân định rõ chức năng quản lý nhà nước và cung ứng dịch vụ công; quy định thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân cụ thể của người đứng đầu cơ quan hành chính đặc khu.
    • Nhóm giải pháp tổ chức hệ thống chính trị đồng bộ: Kiện toàn tổ chức Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội phù hợp với quy mô tinh gọn của bộ máy hành chính mới; thực hiện nhất thể hóa một số chức danh lãnh đạo tương thích.
    • Nhóm giải pháp về cơ chế kiểm soát quyền lực và điều kiện bảo đảm: Xây dựng cơ chế giám sát chặt chẽ từ Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân và nhân dân; thành lập cơ quan tư pháp (tòa án nhân dân sơ thẩm chuyên trách) xử lý kịp thời các tranh chấp đầu tư, thương mại; chuẩn bị nguồn nhân lực công chức chuyên nghiệp và nguồn lực hạ tầng kỹ thuật.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định bốn đóng góp mới về mặt khoa học:

  1. Đưa ra định nghĩa khoa học, làm rõ các đặc trưng cơ bản và luận giải sự cần thiết khách quan của việc xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động của đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt tại Việt Nam trong bối cảnh tái cơ cấu kinh tế và hội nhập quốc tế.
  2. Làm sáng tỏ hệ thống lý luận về nội dung, nguyên tắc cơ bản và các điều kiện bảo đảm cần thiết cho việc thiết kế, vận hành mô hình tổ chức và hoạt động của đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.
  3. Khái quát có hệ thống tiến trình hình thành, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách, pháp luật của Nhà nước về đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt từ năm 2013 đến năm 2019.
  4. Đánh giá khách quan thực trạng chuẩn bị mô hình tại ba địa phương trọng điểm (Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc), chỉ rõ các hạn chế và nguyên nhân; từ đó đề xuất hệ thống quan điểm chỉ đạo cùng các nhóm giải pháp đồng bộ về xây dựng thể chế luật pháp, thiết kế bộ máy chính quyền tinh gọn và cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước hiệu quả.

Về kiến nghị thực tiễn, luận án đề xuất Quốc hội sớm xem xét ban hành một đạo luật điều chỉnh chung về đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; phân quyền thực chất cho người đứng đầu cơ quan hành chính đặc khu đi đôi với cơ chế thanh tra, giám sát nghiêm ngặt; đồng thời hoàn thiện hệ thống tòa án sơ thẩm chuyên trách để bảo đảm môi trường đầu tư an toàn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế nghiên cứu, luận án chỉ ra khó khăn trong việc thu thập và tiếp cận đầy đủ các nguồn tài liệu thực chứng về quá trình xây dựng, điều hành tổ chức bộ máy của các đặc khu kinh tế thành công trên thế giới. Do đó, luận án chỉ tập trung phân tích sâu hai trường hợp điển hình là đặc khu Thâm Quyến (Trung Quốc) và khu kinh tế tự do Incheon (Hàn Quốc). Mặt khác, do phạm vi thời gian nghiên cứu dừng lại ở năm 2019 khi Dự thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt chưa được Quốc hội bấm nút thông qua, các phân tích thực trạng chủ yếu dựa trên các đề án và quy định mang tính định hướng.

Về hướng nghiên cứu tiếp theo, luận án gợi mở việc theo dõi, nghiên cứu thực tế vận hành của bộ máy chính quyền địa phương tại các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt sau khi luật khung được ban hành và đi vào đời sống; đồng thời mở rộng nghiên cứu so sánh cơ chế tài phán thương mại và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế tại các đặc khu trong khu vực.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với các cơ quan quản lý nhà nước:

  • Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Bộ Nội vụ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong quá trình nghiên cứu, soạn thảo, thẩm tra các dự án luật và chính sách liên quan đến đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và chính quyền địa phương.
  • Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ba tỉnh Quảng Ninh, Khánh Hòa, Kiên Giang trong việc hoàn thiện đề án tổ chức bộ máy quản lý tại Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc.
  • Các giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và các cơ sở đào tạo chuyên ngành Luật, Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, Quản lý hành chính công sử dụng làm giáo trình tham khảo về tổ chức bộ máy nhà nước.

Phần nội dung phân biệt đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt với các mô hình khu kinh tế hiện hành (Chương 2) và đánh giá nguyên nhân hạn chế của các đề án thực tế (Chương 3) là những phần có giá trị tư liệu thực tiễn sâu sắc.

Câu hỏi thường gặp

Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt khác gì so với khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế hiện hành?
Theo Điều 2 và Điều 36 Nghị định số 29/2008/NĐ-CP, khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế chỉ là các khu vực chuyên môn hóa về sản xuất công nghiệp hoặc thương mại, không phải là một đơn vị hành chính, không có chính quyền địa phương mà chỉ do ban quản lý (cơ quan trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) quản lý. Ngược lại, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt theo Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 là một cấp đơn vị hành chính độc lập của quốc gia, có lãnh thổ, dân cư và chính quyền địa phương được tổ chức phù hợp.

Cơ quan nào có thẩm quyền quyết định thành lập đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và quy trình gồm mấy giai đoạn?
Căn cứ Khoản 9 Điều 70, Khoản 1 Điều 110 Hiến pháp năm 2013 và Điều 74, 76 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, thẩm quyền thành lập thuộc về Quốc hội (khác với đơn vị cấp huyện do Ủy ban Thường vụ Quốc hội thành lập). Quy trình gồm bốn giai đoạn: (1) Chính phủ xây dựng đề án và lấy ý kiến nhân dân địa phương; (2) Ủy ban Pháp luật hoặc Ủy ban lâm thời của Quốc hội thẩm tra; (3) Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến; (4) Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ họp.

Những nguyên tắc cơ bản nào chi phối việc xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động của đơn vị này?
Luận án xác định bốn nguyên tắc cốt lõi: Giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; bảo đảm pháp quyền xã hội chủ nghĩa và kiểm soát quyền lực nhà nước; bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường.

Tính đến hết năm 2017, thực trạng các mô hình khu kinh tế tại Việt Nam có những số liệu cụ thể nào?
Theo Báo cáo tổng kết của Ban Soạn thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt được luận án trích dẫn, tính đến hết năm 2017, Việt Nam đã thiết lập sáu mô hình kinh tế gồm: 325 khu công nghiệp và khu chế xuất, 26 khu kinh tế cửa khẩu, 16 khu kinh tế ven biển, 09 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, 07 khu công nghệ thông tin tập trung và 03 khu công nghệ cao.

Mô hình quốc tế nào được luận án nghiên cứu chuyên sâu để rút ra bài học cho Việt Nam?
Luận án tập trung phân tích trường hợp đặc khu kinh tế Thâm Quyến của Trung Quốc (với bài học về phân quyền lập pháp kinh tế và mô hình quản lý tập trung) và khu kinh tế tự do Incheon của Hàn Quốc (với cơ chế điều hành một cửa và cải cách hành chính minh bạch).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thái Hà là công trình chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống việc xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động của đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt tại Việt Nam dưới góc độ khoa học Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật. Công trình đã làm rõ bản chất đơn vị hành chính hiến định, phân định ranh giới pháp lý với các mô hình khu kinh tế thông thường và hệ thống hóa bốn nguyên tắc tổ chức bộ máy bắt buộc. Dựa trên số liệu thực chứng của 06 loại hình khu kinh tế tính đến hết năm 2017 và thực tiễn chuẩn bị đề án tại Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc, luận án đã chỉ rõ các nút thắt về thể chế và nguyên nhân của những hạn chế. Hệ thống giải pháp được đề xuất cung cấp luận cứ khoa học quan trọng cho việc hoàn thiện thể chế luật pháp, tinh gọn tổ chức bộ máy và bảo đảm kiểm soát quyền lực nhà nước đối với loại hình đơn vị hành chính đặc thù này trong tương lai.