Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài “Đổi mới chính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp công ở Việt Nam” được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Phạm Chí Thanh, hoàn thành ngày 10 tháng 5 năm 2011 tại Hà Nội. Luận án thuộc chuyên ngành Quản lý kinh tế và Tài chính công, tiếp cận theo hướng nghiên cứu định tính kết hợp phân tích thể chế, kinh tế chính trị học và thống kê mô tả.

Về tính cấp thiết, văn bản chỉ ra rằng quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đặt ra những đòi hỏi mới đối với chính sách tài chính công. Trong nền kinh tế cũ, chi ngân sách nhà nước (NSNN) cho giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa, khoa học — các lĩnh vực phi vật chất — thuần túy mang tính phân phối lại thu nhập quốc dân. Khi đổi mới, vai trò của đơn vị sự nghiệp (SN) công lập chuyển dịch từ một bộ phận cấu thành của bộ máy quản lý nhà nước sang các thực thể cung cấp dịch vụ công đáp ứng nhu cầu xã hội; Nhà nước chuyển từ chủ thể duy nhất cung cấp sang một khách hàng thụ hưởng dịch vụ. Mặc dù Nhà nước đã ban hành Luật Ngân sách Nhà nước, Pháp lệnh Phí và lệ phí, cùng các văn bản thể chế hóa quyền tự chủ như Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 và Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 24/5/2006, chính sách tài chính đối với khu vực này vẫn còn mang tính chắp vá, điều chỉnh đối phó, đậm nét bao cấp và chưa tương thích với các quy luật thị trường. Phương thức phân bổ ngân sách vẫn dựa trên cơ chế gia tăng hàng năm, tách rời chi đầu tư với chi thường xuyên, thiếu tầm nhìn trung và dài hạn, chưa gắn kết ngân sách với kết quả đầu ra.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các công trình trước đây chỉ tập trung vào quản lý chi tiêu ngân sách cục bộ hoặc xử lý vướng mắc tình thế của từng ngành riêng lẻ (giáo dục hoặc y tế); chưa có công trình nào nghiên cứu tổng thể, đồng bộ về chính sách tài chính đối với toàn bộ khu vực sự nghiệp công dưới góc nhìn coi đơn vị sự nghiệp là một chủ thể kinh tế cung cấp dịch vụ công trong nền kinh tế thị trường.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 02 nội dung chính:

  1. Nghiên cứu làm rõ bản chất kinh tế, vai trò, địa vị của các đơn vị sự nghiệp công trong nền kinh tế; hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp công trong điều kiện kinh tế thị trường.
  2. Làm rõ sự cần thiết khách quan và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm đổi mới chính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp công ở Việt Nam trong điều kiện chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Chính sách tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tại Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát thực trạng tại Việt Nam, tập trung vào 05 lĩnh vực sự nghiệp chính: giáo dục - đào tạo, y tế, khoa học và công nghệ, văn hóa - thông tin - thể thao, và các đơn vị sự nghiệp kinh tế công ích.
  • Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng giai đoạn 1990–2010 (trọng tâm từ năm 1994 đến 2010 qua 03 giai đoạn thể chế); các đề xuất và giải pháp được định hướng áp dụng cho giai đoạn 2011–2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan, tác giả điểm lại 10 công trình, đề tài khoa học và đề án tiêu biểu đã công bố tại Việt Nam có liên quan trực tiếp đến đề tài:

STT Tên tác giả / Cơ quan Năm Tên công trình / Đề tài Kết quả đạt được và Hạn chế theo đánh giá của luận án
1 NCS. Nguyễn Thị Hoài Thu 1991 Luận án Tiến sỹ: Một số vấn đề về đổi mới hoạt động của ngân sách Nhà nước trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường Đạt được: Nghiên cứu toàn diện việc chuyển đổi hoạt động của NSNN, gợi mở định hướng đổi mới chi sự nghiệp.
Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu quá rộng, các giải pháp mang tính khái quát chung, chưa có đề xuất cụ thể cho quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp. Nhiều lý luận thời kỳ 1990 không còn phù hợp.
2 PTS. Trần Thu Hà (Chủ nhiệm) 1997 Đề tài cấp Bộ: Đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu Đạt được: Làm rõ vai trò khách quan của đơn vị sự nghiệp; đánh giá thực trạng giai đoạn 1991–1995; đề xuất 9 giải pháp giai đoạn 1999–2005 (tiền đề cho Nghị định 10/2002/NĐ-CP và Nghị định 43/2006/NĐ-CP).
Hạn chế: Nặng về tổng kết thực tiễn đơn vị có thu; chưa khái quát được lý luận chung cho toàn khu vực; chưa làm rõ tác động của các quy luật thị trường; chính sách chi NSNN, thuế, quản lý tài sản công còn mang tư duy bao cấp.
3 NCS. Nguyễn Đăng Khoa 1999 Luận án Tiến sỹ: Đổi mới cơ chế quản lý tài chính trong các đơn vị hành chính sự nghiệp Đạt được: Phân tích bản chất, nội dung quản lý tài chính; quy trình lập, chấp hành, quyết toán ngân sách và quản lý tài sản công; đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2000–2005.
Hạn chế lớn nhất: Không phân định rõ sự khác biệt giữa quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp và cơ quan hành chính; chưa làm rõ quy luật thị trường tác động đến sự nghiệp công.
4 TS. Bạch Thị Minh Huyền (Chủ nhiệm) 2001 Đề tài cấp Bộ: Thực trạng và giải pháp tài chính nhằm thực hiện khoán chi đối với cơ quan hành chính và cơ chế tự trang trải ở đơn vị sự nghiệp có thu Đạt được: Làm rõ lý thuyết quản lý theo kết quả đầu ra; tổng kết kinh nghiệm thực hiện khoán chi của Thụy Điển, Canada, Pháp, Hàn Quốc, Colombia.
Hạn chế: Dừng ở xử lý vướng mắc thực tiễn; giải pháp tự trang trải mang tính phác thảo chung; chưa phân tích sâu đặc thù giữa các lĩnh vực sự nghiệp và các vùng miền khác nhau.
5 PGS.TS. Dương Đăng Chinh, TS. Nguyễn Đình Ánh (Đồng chủ nhiệm) 2003 Đề tài cấp Bộ: Cơ chế, chính sách tài chính đối với hệ thống an sinh xã hội Đạt được: Đánh giá chính sách an sinh xã hội giai đoạn 1995–2001; tổng kết mô hình quốc tế; đưa ra khung giải pháp tài chính cho an sinh xã hội.
Vận dụng: Luận án chọn lọc cơ sở lý luận về trách nhiệm của Nhà nước trong đảm bảo quyền thụ hưởng phúc lợi giáo dục, y tế, văn hóa của người dân.
6 TS. Phạm Đức Phong (Chủ nhiệm) 2003 Đề tài cấp Bộ: Hoàn thiện cơ chế quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp Đạt được: Làm rõ phân cấp và cơ chế quản lý; coi tài sản công ở đơn vị sự nghiệp có thu là tư liệu sản xuất.
Hạn chế: Coi tài sản công ở đơn vị không thu là yếu tố tiêu dùng (chưa chuẩn xác về kinh tế). Luận án khắc phục bằng cách xác định toàn bộ tài sản công tại khu vực sự nghiệp là tư liệu sản xuất.
7 NCS. Nguyễn Trường Giang 2003 Luận án Tiến sỹ: Đổi mới cơ chế quản lý chi ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực y tế ở Việt nam trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Đạt được: Phân tích tính chất hàng hóa công cộng của y tế dự phòng; chính sách hỗ trợ người nghèo; phân tích vai trò của Quỹ Bảo hiểm y tế (BHYT).
Hạn chế: Vẫn coi viện phí thuộc chính sách phí, lệ phí (khoản thu của NSNN), chưa làm rõ bản chất giá dịch vụ y tế; chưa đánh giá toàn diện tài chính y tế cơ sở tuyến huyện, xã.
8 NCS. Bùi Tiến Hanh 2006 Luận án Tiến sỹ: Hoàn thiện cơ chế tài chính nhằm thúc đẩy xã hội hoá giáo dục ở Việt Nam Đạt được: Luận giải cơ chế quản lý chi NSNN cho giáo dục, tài chính ngoài công lập, ưu đãi đất đai, thuế, tín dụng giai đoạn 1999–2006.
Hạn chế: Vẫn chịu ảnh hưởng của quan điểm học phí là phí, lệ phí thuộc NSNN, chưa tiếp cận học phí dưới góc độ giá dịch vụ giáo dục đào tạo.
9 Bộ Giáo dục và Đào tạo 2008 Đề án: Đổi mới cơ chế tài chính của giáo dục và đào tạo giai đoạn 2008–2012 Giá trị: Cung cấp nguồn tư liệu toàn diện về cơ chế quản lý hoạt động giáo dục, phân tích chi tiết theo cấp học, ngành học và vùng miền giai đoạn 2000–2007.
10 Bộ Y tế 2008 Đề án: Đổi mới cơ chế hoạt động và cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp y tế công lập Giá trị: Cung cấp số liệu thống kê, phân tích tổng thể về hệ thống y tế công lập và ngoài công lập, cùng tình hình tài chính y tế giai đoạn 2002–2007.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết:

  • Đa phần các nghiên cứu tiền nhiệm chỉ tiếp cận dưới góc độ quản lý chi tiêu công của NSNN, nặng về giải quyết tình thế, chưa thoát khỏi tư duy bao cấp.
  • Chưa có tác giả nào trực tiếp nghiên cứu đơn vị sự nghiệp công với tư cách là một đơn vị kinh tế tự chủ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Chưa phân định rạch ròi giữa chức năng kinh tế và chức năng thực hiện chính sách xã hội, dẫn đến việc chưa xác định rõ nội dung nào để thị trường tự điều tiết, nội dung nào Nhà nước phải can thiệp.
  • Chưa nhìn nhận các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao là hoạt động đầu tư phát triển nguồn nhân lực thiết yếu cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
  • Thiếu giải pháp đồng bộ kết nối giữa phân cấp, giá dịch vụ, thuế, tiền lương, quản lý tài sản và phương thức chi trả theo kết quả đầu ra.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm sử dụng

  • Khái niệm Sự nghiệp và Đơn vị sự nghiệp công: Luận án trích dẫn Từ điển tiếng Việt (tr. 846), Đại từ điển Kinh tế thị trường (tr. 664), Điều lệ quản lý đăng ký đơn vị sự nghiệp của Quốc vụ viện Trung Quốc và Điều lệ ban hành kèm Nghị định số 73-CP ngày 24/12/1960 của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để xác định: Đơn vị sự nghiệp công lập là đơn vị do Nhà nước thành lập, thuộc sở hữu nhà nước, thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn do Nhà nước giao, không thực hiện chức năng quản lý nhà nước, kinh phí hoạt động chủ yếu do NSNN cấp (kết hợp thu sự nghiệp), tham gia phân phối lại thu nhập quốc dân.
  • Khu vực sự nghiệp công: Là tập hợp các đơn vị sự nghiệp do Nhà nước thành lập để thực hiện nhiệm vụ chuyên môn Nhà nước giao, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận.
  • Lý luận kinh tế chính trị: Vận dụng lý luận về phân phối lần đầu và phân phối lại thu nhập quốc dân; xác định 04 quỹ tiền tệ hình thành tại đơn vị sự nghiệp: (1) Nguồn NSNN cấp (hoặc coi như NSNN cấp); (2) Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp và dịch vụ; (3) Nguồn vốn huy động từ tín dụng, tài trợ, liên doanh liên kết; (4) Các quỹ tài chính nội bộ hình thành sau thuế (khen thưởng, phúc lợi, dự phòng ổn định thu nhập).
  • Lý thuyết kinh tế học công cộng: Luận án sử dụng các khái niệm hàng hóa công cộng (HHCC thuần túy), hàng hóa cá nhân (HHCN), ngoại ứng tích cực, thông tin không hoàn hảo, và thất bại thị trường trong cạnh tranh y tế, giáo dục để giải thích cơ sở can thiệp của Nhà nước.
  • Phân biệt Tài chính Nhà nước và Tài chính công: Tài chính công là một bộ phận của tài chính Nhà nước, gắn liền với quyền lực chính trị, phục vụ lợi ích cộng đồng, không mang tính kinh doanh thu lợi nhuận và không có tính bồi hoàn trực tiếp. Khi Nhà nước cấp kinh phí cho đơn vị sự nghiệp theo cơ chế thị trường, thực chất là Nhà nước "mua" sản phẩm, dịch vụ; kinh phí đó trở thành thu nhập của đơn vị để bù đắp chi phí hoạt động.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kinh tế chính trị Mác - Lênin: Được sử dụng xuyên suốt để phân tích bản chất các mối quan hệ phân phối và sở hữu tài chính.
  • Phương pháp kinh tế học và kinh tế học công cộng: Đánh giá vai trò, chức năng và tính chất hàng hóa/dịch vụ của các đơn vị sự nghiệp.
  • Phương pháp phân tích thống kê và đồ thị hóa: Phân tích cơ cấu, quy mô, xu hướng biến động của chi NSNN cho các lĩnh vực sự nghiệp và cơ cấu nguồn thu sự nghiệp.
  • Phương pháp phân tích hệ thống, mô hình hóa và khái quát hóa: Xây dựng các sơ đồ phân cấp quản lý tài chính ngân sách (cấp Trung ương, cấp tỉnh) và nhóm hóa các nhân tố tác động.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Luật NSNN, Pháp lệnh Phí và lệ phí, Nghị định 73-CP, Nghị định 10/2002/NĐ-CP, Nghị định 43/2006/NĐ-CP.
  • Dữ liệu thực tế: Các báo cáo tổng kết tài chính của Bộ Tài chính; số liệu thu phí, lệ phí và chi ngân sách tại Đề án của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Đề án của Bộ Y tế (2008), số liệu thu phí/lệ phí của Bộ Khoa học và Công nghệ giai đoạn 1990–2010.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khu vực sự nghiệp công và chính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp công

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về khu vực sự nghiệp công và chính sách tài chính trong nền kinh tế thị trường, bao gồm các nội dung chính:

  • Quá trình hình thành và đặc điểm: Khu vực sự nghiệp công sinh ra từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, thuộc khu vực không sản xuất vật chất. Khi chuyển đổi sang kinh tế thị trường, khu vực này tách khỏi cơ quan hành chính để hoạt động như những đơn vị kinh tế cung cấp dịch vụ công.
  • Phân loại đơn vị sự nghiệp công:
    • Theo ngành, lĩnh vực hoạt động (giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, khoa học công nghệ, sự nghiệp kinh tế).
    • Theo tính chất cơ quan quản lý trực tiếp (trực thuộc cơ quan hành chính nhà nước; trực thuộc đơn vị sự nghiệp công khác; thuộc tổ chức chính trị - xã hội; trực thuộc doanh nghiệp nhà nước).
    • Theo cấp hành chính (cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện).
    • Theo cấp dự toán ngân sách (Đơn vị dự toán cấp I, cấp II, cấp III).
    • Theo cơ cấu nguồn kinh phí theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP (Loại I: Tự bảo đảm toàn bộ chi thường xuyên; Loại II: Tự bảo đảm một phần; Loại III: Do NSNN bảo đảm toàn bộ).
  • Vai trò và 4 chức năng kinh tế: (1) Kích thích, đầu tư phát triển kinh tế - xã hội thông qua phát triển nguồn nhân lực và hạ tầng kỹ thuật; (2) Cung cấp hàng hóa mà thị trường không thể hoặc không muốn cung cấp (vùng sâu, vùng xa, dịch vụ phòng ngừa rủi ro, dự báo khí tượng thủy văn, bảo tồn di sản); (3) Tham gia phân phối lại thu nhập quốc dân đảm bảo an sinh xã hội; (4) Là công cụ vật chất để Nhà nước can thiệp, điều tiết thị trường, kiểm soát giá cả dịch vụ thiết yếu, khắc phục tình trạng thông tin không hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo.
  • Phân tích 5 nhóm lĩnh vực hoạt động:
    • Giáo dục - đào tạo: Hoạt động dạy học là HHCN thuần túy nhưng có ngoại ứng tích cực lớn, liên quan đến nâng cao dân trí và hỗ trợ đối tượng chính sách.
    • Y tế: Y tế dự phòng là HHCC thuần túy; khám chữa bệnh về bản chất là HHCN nhưng chịu sự can thiệp của Nhà nước do thông tin bất đối xứng, rủi ro xã hội cao và sự cần thiết của BHYT.
    • Văn hóa - thông tin: Bảo tồn, bảo tàng, nghệ thuật truyền thống mang tính công ích khó hạch toán chi phí; phát thanh truyền hình truyền thống là HHCC nhưng truyền hình cáp/kỹ thuật số là HHCN.
    • Khoa học công nghệ: Nghiên cứu cơ bản đòi hỏi Nhà nước tài trợ vì vốn lớn khó thu hồi; nghiên cứu ứng dụng và dịch vụ kỹ thuật có bản chất HHCN.
    • Sự nghiệp kinh tế: Dự báo khí tượng thủy văn, bảo vệ môi trường, duy tu đê điều, hạ tầng công cộng mang tính HHCC và phục vụ công ích.
  • Kinh nghiệm quốc tế: Phân tích cải cách sự nghiệp công tại Trung Quốc và kinh nghiệm quản lý chi NSNN theo kết quả đầu ra tại một số quốc gia (Bảng 1.1). Tác giả rút ra bài học cho Việt Nam về: xác định mục tiêu và nhiệm vụ gắn với dự toán ngân sách; xây dựng hệ thống tiêu chí kiểm tra, giám sát, đo lường kết quả đầu ra; tổ chức bộ máy kiểm tra, giám sát độc lập.

Chương 2: Thực trạng chính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp công ở Việt Nam

Chương 2 phân tích tiến trình đổi mới thể chế và thực trạng vận hành chính sách tài chính tại Việt Nam từ năm 1994 đến 2010 qua 03 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1994–2001: Bước đầu phân định cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp, áp dụng một số hình thức khoán và thu viện phí, học phí theo Pháp lệnh Phí, lệ phí.
  • Giai đoạn 2002–2005: Thực hiện Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 áp dụng cơ chế tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu.
  • Giai đoạn 2006–2010 (thời điểm nghiên cứu): Ban hành và triển khai Nghị định số 43/2006/NĐ-CP mở rộng tự chủ cho tất cả các đơn vị sự nghiệp công lập.

Nội dung khảo sát các chính sách tài chính cụ thể:

  • Phân cấp ngân sách và quản lý dự toán: Thể hiện qua Mô hình 2.1 (Phân cấp ngân sách), Mô hình 2.2 (Cấp Trung ương), Mô hình 2.3 (Cấp tỉnh). Dự toán vẫn phân bổ chủ yếu theo biên chế và định mức đầu vào.
  • Quản lý chi NSNN: Phân định kinh phí thường xuyên giao tự chủ, kinh phí không thường xuyên và chi các Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG).
  • Chính sách quản lý vốn, tài sản: Chưa tính đầy đủ khấu hao tài sản cố định vào giá thành dịch vụ; việc quản lý nhà đất công còn mang tính chất hành chính.
  • Chính sách phí, lệ phí: Thể hiện qua các bảng số liệu thực tế gồm Bảng 2.1 (Tình hình thu học phí, lệ phí lĩnh vực giáo dục, đào tạo), Bảng 2.2 (Tình hình thu viện phí, lệ phí lĩnh vực y tế), Bảng 2.3 (Tình hình thu phí và lệ phí Bộ Khoa học và Công nghệ).
  • Chính sách thuế và tín dụng: Đơn vị sự nghiệp công lập vẫn thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và thuế sử dụng đất đối với hoạt động chuyên môn, gây ra bất bình đẳng với khu vực ngoài công lập.

Đánh giá tổng quát của luận án:

  • Kết quả đạt được: Quy mô và tỷ trọng chi NSNN cho sự nghiệp công gia tăng qua các năm (Biểu đồ 2.1, Biểu đồ 2.2, Biểu đồ 2.3, Biểu đồ 2.4); các đơn vị sự nghiệp huy động thêm nguồn thu hợp pháp ngoài ngân sách; chuyển đổi thành công một số đơn vị sự nghiệp kinh tế sang mô hình doanh nghiệp nhà nước; tạo hành lang bước đầu khuyến khích xã hội hóa.
  • Những bất cập, vướng mắc lớn:
    1. Chưa thực hiện hạch toán đủ chi phí theo cơ chế thị trường (bỏ sót chi phí khấu hao tài sản và chi phí quản lý).
    2. Chưa hình thành cơ chế cạnh tranh bình đẳng giữa đơn vị công lập và ngoài công lập.
    3. Cơ chế quản lý nhân sự vẫn duy trì quản lý biên chế cán bộ và thang bảng lương như cơ quan hành chính nhà nước, triệt tiêu động lực tăng năng suất.
    4. Cơ chế điều tiết của Nhà nước chưa tách bạch giữa hỗ trợ đơn vị cung ứng và hỗ trợ đối tượng thụ hưởng.
    5. Chính sách thuế, đất đai, tín dụng ưu đãi chưa tương thích với thông lệ quốc tế và yêu cầu hội nhập kinh tế.

Chương 3: Giải pháp đổi mới chính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp công ở Việt Nam

Chương 3 trình bày các căn cứ, quan điểm và hệ thống giải pháp cho giai đoạn 2011–2020:

  • Căn cứ đề xuất: Quá trình chuyển đổi kinh tế thị trường đòi hỏi sự đổi mới đồng bộ; sức ép hội nhập quốc tế; nhu cầu xã hội đối với dịch vụ y tế, giáo dục chất lượng cao ngày càng tăng; xu hướng phát triển tự chủ của đơn vị sự nghiệp.
  • Quan điểm định hướng: Tiếp tục ưu tiên tăng chi NSNN cho sự nghiệp; đa dạng hóa các nguồn lực tài chính xã hội; vận dụng triệt để các quan hệ thị trường; đổi mới theo hướng tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm toàn diện cho đơn vị.
  • Hệ thống giải pháp cơ bản:
    • Tiếp tục hoàn thiện phân cấp tài chính giữa Trung ương và địa phương, trao quyền tự quyết dự toán cho đơn vị dự toán cấp dưới.
    • Chuyển từ cơ chế quản lý phí, lệ phí sang cơ chế quản lý giá dịch vụ sự nghiệp; hạch toán đầy đủ mọi chi phí hoạt động (tính đủ khấu hao tài sản cố định).
    • Đổi mới phương thức đầu tư và chi NSNN: Chuyển từ cấp phát kinh phí theo định mức đầu vào sang phương thức Nhà nước đặt hàng, mua dịch vụ theo kết quả đầu ra; chuyển ngân sách hỗ trợ cơ sở sang hỗ trợ trực tiếp người nghèo và đối tượng chính sách.
    • Cải cách chính sách lao động, tiền lương: Xóa bỏ cơ chế quản lý biên chế kiểu hành chính, cho phép đơn vị trả lương theo năng suất và vị trí việc làm.
    • Hoàn thiện quản lý vốn, tài sản: Đánh giá lại toàn bộ tài sản công, xác định rõ trách nhiệm bảo tồn vốn nhà nước, hạch toán khấu hao vào giá thành.
    • Đổi mới chính sách thuế: Đưa các đơn vị sự nghiệp công lập vào diện chịu thuế GTGT, TNDN và thuế sử dụng đất, nhưng áp dụng mức thuế suất ưu đãi (0%, 5%) theo ngành nghề và địa bàn ưu tiên.
    • Thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá theo 02 cấp độ (nội bộ đơn vị và cơ quan bên ngoài) dựa trên bộ tiêu chí đo lường kết quả đầu ra.
  • Giải pháp cho các lĩnh vực cụ thể: Luận án chi tiết hóa các giải pháp chính sách cho lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế (đổi mới viện phí gắn với mở rộng bao phủ BHYT), nghiên cứu khoa học (chuyển đổi tổ chức KH&CN sang tự chủ hoặc doanh nghiệp), văn hóa - thể thao, và sự nghiệp kinh tế.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt học thuật và lý luận

  1. Luận án tiếp cận nghiên cứu tài chính đơn vị sự nghiệp công theo các mối quan hệ đa chủ thể (với Nhà nước, với chủ thể cung cấp yếu tố đầu vào, với người thụ hưởng dịch vụ và với người lao động) trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ. Từ đó, luận án làm rõ bản chất kinh tế của đơn vị sự nghiệp trong kinh tế thị trường: phải tuân thủ các quy luật thị trường, thực hiện hạch toán đầy đủ chi phí (gồm cả khấu hao tài sản), hình thành giá dịch vụ theo cơ chế cạnh tranh.
  2. Luận giải mới về mối quan hệ tài chính giữa Nhà nước và đơn vị sự nghiệp công: Kinh phí do NSNN cấp để thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao thực chất là quan hệ kinh tế mà Nhà nước đóng vai trò người mua dịch vụ. Khoản kinh phí này trở thành thu nhập của đơn vị để bù đắp chi phí hoạt động. Do đó, đơn vị có quyền tự chủ quản lý, sử dụng nguồn kinh phí này tương tự cơ chế tài chính doanh nghiệp, là cơ sở lý luận xóa bỏ dứt điểm cơ chế bao cấp.
  3. Luận giải việc áp dụng phương thức quản lý chi NSNN theo kết quả đầu ra đối với khu vực sự nghiệp công tại Việt Nam là một quá trình cải cách liên tục, có căn cứ khoa học và điều kiện thực thi cụ thể.

Phát hiện và đề xuất mới về mặt thực tiễn

Luận án tóm lược 04 phát hiện và đề xuất cốt lõi:

  1. Chuyển đổi căn bản chính sách thu: Chuyển toàn bộ chính sách phí, lệ phí trong các lĩnh vực sự nghiệp sang cơ chế quản lý giá dịch vụ; các đơn vị sự nghiệp phải thực hiện hạch toán đầy đủ chi phí hoạt động, tính đủ khấu hao tài sản cố định vào giá thành.
  2. Đổi mới chính sách thuế: Bãi bỏ quy định đơn vị sự nghiệp công lập không thuộc đối tượng chịu thuế; chuyển sang quy định đơn vị sự nghiệp công lập là đối tượng chịu thuế GTGT, thuế TNDN và thuế sử dụng đất, nhưng được hưởng mức thuế suất ưu đãi (0%, 5%...) tùy thuộc vào ngành nghề, lĩnh vực và địa bàn hoạt động mà Nhà nước ưu tiên.
  3. Đổi mới phương thức chi NSNN: Chuyển từ cơ chế cấp phát đầu vào sang cơ chế đặt hàng, mua dịch vụ theo kết quả đầu ra; đồng thời thực hiện chính sách chuyển dịch dòng tiền ngân sách từ việc cấp bù cho đơn vị cung cấp sang hỗ trợ tài chính trực tiếp cho các đối tượng chính sách xã hội, người nghèo khi tiếp cận dịch vụ.
  4. Đổi mới cơ chế kiểm soát: Xây dựng hệ thống tiêu chí đo lường và tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp theo 02 cấp độ đồng thời: cấp độ tự kiểm tra đánh giá nội bộ và cấp độ kiểm tra, đánh giá độc lập từ bên ngoài.
  5. Đề xuất nhóm giải pháp chuyên ngành: Hoàn thiện chính sách tài chính đồng bộ đối với lĩnh vực giáo dục - đào tạo và y tế, trong đó đặt trọng tâm vào chính sách an sinh hỗ trợ người dân chi trả học phí và bảo hiểm y tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án tự xác định các hạn chế và định hướng nghiên cứu tiếp theo như sau:

  • Hạn chế về phương pháp: Luận án thừa nhận chưa đi sâu đánh giá định lượng và mô hình hóa toán kinh tế về mức độ tác động của các chính sách tài chính đối với sự thay đổi hành vi của đơn vị sự nghiệp cũng như người tiêu dùng dịch vụ.
  • Lưu ý trong ứng dụng thực tiễn:
    • Cần lượng hóa cụ thể tác động tài chính của từng chính sách trong thực tế để xác định lộ trình bước đi thích hợp, tránh gây sốc kinh tế - xã hội.
    • Các chính sách đề xuất có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ, bắt buộc phải triển khai đồng bộ: việc nâng mức giá dịch vụ tính đủ chi phí phải được tiến hành song song và tương thích với việc cắt giảm cấp phát vốn đầu tư trực tiếp, gắn liền với mức cấp bù ngân sách và chính sách trợ cấp xã hội trực tiếp cho người dân tiếp cận y tế, giáo dục.
    • Các đề xuất trong luận án mang tính tổng thể chung cho toàn bộ khu vực sự nghiệp công; khi áp dụng vào thực tế cần được thể chế hóa cụ thể để tương thích với đặc thù kinh tế - kỹ thuật của từng ngành, từng lĩnh vực và điều kiện kinh tế của từng địa phương.

Giá trị tham khảo

Luận án cung cấp giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan hoạch định chính sách (Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ chuyên ngành và chính quyền địa phương): Cung cấp cơ sở khoa học để nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các nghị định về cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập (thay thế Nghị định 43/2006/NĐ-CP); định hình lộ trình chuyển đổi từ phí sang giá dịch vụ sự nghiệp công; xây dựng khung pháp lý về giao nhiệm vụ, đặt hàng dịch vụ công theo kết quả đầu ra; điều chỉnh chính sách ưu đãi thuế và đất đai cho khu vực sự nghiệp.
  • Lãnh đạo và cán bộ quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập: Tham khảo phương pháp tiếp cận quản lý vốn, tài sản công theo bản chất tư liệu sản xuất; cơ chế tính toán hạch toán đủ chi phí khấu hao tài sản cố định; xây dựng quy chế phân phối tiền lương, thu nhập gắn với kết quả lao động.
  • Nghiên cứu sinh, giảng viên và sinh viên ngành Kinh tế, Tài chính công, Quản lý công: Tài liệu hệ thống hóa khung lý luận về khu vực sự nghiệp công theo trường phái kinh tế học công cộng; phân tích các mô hình phân cấp ngân sách; nguồn dữ liệu tổng hợp về thực trạng thu chi tài chính sự nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 1990–2010.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa đơn vị sự nghiệp công lập dựa trên những đặc trưng nào?

Theo luận án, đơn vị sự nghiệp công lập được xác định bởi 05 đặc trưng: (1) Do cơ quan Nhà nước thành lập, quản lý và thuộc sở hữu nhà nước; (2) Thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn do Nhà nước giao trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học công nghệ, kinh tế công ích... nhằm thỏa mãn nhu cầu xã hội; (3) Kinh phí hoạt động chủ yếu do NSNN cấp kết hợp nguồn thu sự nghiệp hợp pháp; (4) Tham gia phân phối lại thu nhập quốc dân qua ngân sách và các quỹ xã hội; (5) Không thực hiện chức năng quản lý nhà nước và không bao gồm các đơn vị thuộc lĩnh vực an ninh, quốc phòng.

2. Luận án phân loại đơn vị sự nghiệp công lập theo các tiêu chí nào?

Luận án trình bày 05 tiêu chí phân loại chính:

  • Theo ngành, lĩnh vực hoạt động: giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa, bảo tồn, bảo tàng, thể dục thể thao, khoa học công nghệ, sự nghiệp kinh tế.
  • Theo cơ quan quản lý trực tiếp: đơn vị trực thuộc cơ quan hành chính nhà nước; trực thuộc đơn vị sự nghiệp công khác; trực thuộc tổ chức chính trị - xã hội; trực thuộc doanh nghiệp nhà nước.
  • Theo cấp hành chính: cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện.
  • Theo cấp dự toán ngân sách: đơn vị dự toán cấp I, cấp II, cấp III.
  • Theo cơ cấu nguồn kinh phí (theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP): Loại I (tự bảo đảm toàn bộ chi phí thường xuyên), Loại II (tự bảo đảm một phần chi phí thường xuyên), Loại III (NSNN bảo đảm toàn bộ kinh phí thường xuyên).

3. Bản chất khoản kinh phí NSNN cấp cho đơn vị sự nghiệp công lập được luận án giải thích như thế nào?

Dưới góc độ kinh tế thị trường, kinh phí do NSNN cấp để thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao không phải là khoản cấp phát bao cấp hành chính đơn thuần, mà thực chất là Nhà nước đóng vai trò khách hàng mua sản phẩm, dịch vụ của đơn vị sự nghiệp. Khoản kinh phí này tạo ra thu nhập của đơn vị để bù đắp các chi phí đầu vào đã tiêu hao. Do đó, việc quản lý và sử dụng nguồn tiền này trong nội bộ đơn vị thuộc phạm vi phân phối lần đầu; đơn vị có quyền tự chủ quyết định việc sử dụng nhằm tối ưu hóa hiệu quả hoạt động tương tự như một đơn vị kinh tế.

4. Vì sao luận án kiến nghị đưa đơn vị sự nghiệp công lập vào diện chịu thuế thay vì miễn thuế?

Luận án chỉ ra rằng quy định đơn vị sự nghiệp và hoạt động sự nghiệp công lập không thuộc diện chịu thuế GTGT, thuế TNDN và thuế sử dụng đất không còn phù hợp với bản chất của nền kinh tế thị trường. Cơ chế miễn thuế hành chính tạo ra sự bất bình đẳng giữa khu vực công lập và khu vực ngoài công lập, đồng thời che giấu chi phí thực tế. Luận án đề xuất đưa các đơn vị sự nghiệp vào diện chịu thuế nhưng cho hưởng mức thuế suất ưu đãi (0%, 5%...) tùy theo ngành nghề và địa bàn ưu tiên để đảm bảo hạch toán minh bạch, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh và tạo công cụ điều tiết linh hoạt cho Nhà nước.

5. Luận án phân biệt tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập khác với quan điểm trước đây ra sao?

Các công trình trước đây (tiêu biểu như đề tài của TS. Phạm Đức Phong năm 2003) phân biệt tài sản công tại đơn vị sự nghiệp có thu là tư liệu sản xuất, nhưng tài sản tại đơn vị sự nghiệp không có thu lại bị coi là yếu tố tiêu dùng. Luận án khẳng định cách tiếp cận này chưa phản ánh đúng bản chất kinh tế; toàn bộ tài sản công được Nhà nước đầu tư tại tất cả các đơn vị sự nghiệp công lập đều là tư liệu sản xuất phục vụ quá trình cung ứng dịch vụ. Do đó, toàn bộ tài sản công phải được theo dõi, bảo tồn và tính toán trích khấu hao đầy đủ vào chi phí giá thành dịch vụ sự nghiệp.


Kết luận

Luận án “Đổi mới chính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp công ở Việt Nam” của tác giả Phạm Chí Thanh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về tài chính khu vực sự nghiệp công dưới lăng kính kinh tế học công cộng và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Luận án phân tích sâu sắc thực trạng chính sách tài chính giai đoạn 1994–2010, chỉ ra những rào cản về cơ chế bao cấp, sự thiếu hụt trong hạch toán chi phí khấu hao và bất cập trong quản lý biên chế hành chính. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ giai đoạn 2011–2020 gồm chuyển đổi từ phí sang giá dịch vụ tính đủ chi phí, chuyển phương thức chi ngân sách sang mua dịch vụ theo kết quả đầu ra, cải cách chính sách thuế và thiết lập hệ thống kiểm tra giám sát hai cấp độ.