Chương 1 TỔNG QUAN VỀ LOGIC MÔ TẢ 1. Biểu diễn tri thức là một lĩnh vực của trí tuệ nhân tạo (AI) tập trung vào việc thiết kế một cách hình thức ñể mô tả tri thức về một miền ứng dụng bằng cách mô tả ñặc ñiểm các lớp ñối tượng và các mối quan hệ giữa chúng. Việc tổ chức thành các lớp dùng ñể mô tả miền ứng dụng dựa trên cấu trúc tuần tự không chỉ mang lại hiệu quả trong việc biểu diễn thông tin mà còn cho phép công việc suy diễn thực thi một cách tốt hơn. Nghiên cứu logic mô tả [1],[4] bao gồm: cơ sở lý thuyết, thực thi các hệ thống mô tả tri thức và sử dụng các hệ thống này ñể phát triển các ứng dụng trong nhiều lĩnh vực.
Lịch sử phát triển. - Năm 1970, tiếp cận lĩnh vực biểu diễn tri thức và áp dụng ñầu tiên vào mạng ngữ nghĩa (semantic network) và các hệ thống khung (frame systems)[1]. Tuy nhiên, các hệ thống này không có các ñịnh nghĩa rõ ràng, các công cụ suy diễn chủ yếu dựa vào chiến lược thực hiện hệ thống. ðến khi hệ thống KL-ONE ra ñời, nó cung cấp cơ sở logic ñể phiên dịch các lớp ñối tượng (các khái niệm) và các mối quan hệ (các vai trò) thì hướng tiếp cận mô tả tri thức mới thật sự hình thành.
Ban ñầu, logic mô tả (DL) ñược biết ñến dưới cái tên là “các hệ thống thuật ngữ” (terminological systems) hoặc là “ngôn ngữ khái niệm” (concept lunguages). Về sau, khi sự chú ý chuyển hướng vào các tính chất của hệ thống logic thì cái tên “logic mô tả” (description logic) mới trở nên phố biến. - Từ năm 1989, hội thảo về logic mô tả ñược duy trì mỗi hai năm một lần. Nhưng ñến năm 1994 thì ñược tổ chức hằng năm.
Và ñến năm 1997, mọi khía cạch về logic mô tả bao gồm: lý thuyết, sự thực hiện và các ứng dụng ñã ñược ñề xuất ñầy ñủ. Tiếp cận lĩnh vực biểu diễn tri thức ñược chia ra làm hai loại: Logic hình thức (suy diễn thông qua phép tính vị từ) và phi logic dựa trên sự mô tả (phát triển trên cơ sở các khái niệm liên quan ñến nhận thức). Trong cách tiếp cận thứ nhất, ngôn ngữ mô tả thường là một biến của phép tính vị từ cấp một (First-Order-Predicate calculus) và suy diễn chung qui là kiểm tra kết quả logic. Còn cách tiếp cận phi logic thì tri thức ñược biểu diễn bằng ngữ nghĩa của cấu trúc dữ liệu ñặc biệt, và suy diễn ñược hoàn thành bằng các thủ tục ñặc biệt, thao tác trên cấu trúc dữ liệu ñó.
Sự phân loại này giúp chúng ta nhận dạng ñược các mạng ngữ nghĩa và các hệ thống khung. Mặc dù có sự khác nhau giữa hai loại hệ thống này, nhưng cả hai ñều ñược xem như là các mạng có cấu trúc, ñó là biểu diễn một tập các cá thể và các mối liên hệ của nó. Vì vậy người ta dùng thuật ngữ “mạng cấu trúc” (network- based- structures) ñể chỉ các mạng ngữ nghĩa và các hệ thống khung. Do nhu cầu của con người ngày một nhiều, từ quan ñiểm thực tế cho thấy các mạng cấu trúc có sức thu hút và tầm ảnh hưởng nhiều hơn các hệ thống logic.
Nhưng chúng không ñủ sức làm thỏa nhu cầu người dùng vì sự thông dụng của nó thiếu tính ñúng ñắn khi mô tả ngữ nghĩa. Trong nhiều trường hợp hầu như ñồng nhất các thành phần và thậm chí ñồng nhất tên các quan hệ. Vậy làm thế nào cung cấp ñược ngữ nghĩa ñể mô tả tri thức trong các mạng cấu trúc? ðể trả lời cho câu hỏi này, người ta ñã tiến hành khai thác các khái niệm cấu trúc một cách có thứ tự, cả trong các thuật ngữ không bị ràng buộc về mặt mô tả và các thuật ngữ có tầm ảnh hưởng ñến khả năng suy diễn. Cụ thể hơn, ñể nhận dạng ñược một hệ thống mạng ngữ nghĩa, ít nhất là các ñặc ñiểm ñặc trưng của nó là dựa vào logic vị từ cấp một [Hayes, 1979].
Các thành phần cơ bản trong mô tả ñược biểu diễn là vị từ một ngôi, biểu thị bằng một tập các cả thể, và vị từ hai ngôi, biểu thị bằng các mối quan hệ giữa các cá thể. Các bước xây dựng một hệ thống logic mô tả. Logic mô tả ñược phát triển từ cái gọi là mạng kế thừa cấu trúc (structured inheritance network)[1], nó ñược ñưa ra chủ yếu nhằm mục ñích khắc phục tính nhập nhằng tối nghĩa của các hệ thống mạng ngữ nghĩa trước ñây, và ñược thực hiện lần ñầu tiên trong hệ thống KL-ONE [Brachman và Schmolze, 1985]. ðể xây dựng một hệ thống logic mô tả, thông thường phải thực hiện các bước sau ñây ([1] trang 45) : Xây dựng bộ cú pháp cơ bản là các khái niệm nguyên tố, các vai trò nguyên tố và các cá thể (các thể hiện).
Xây dựng các khái niệm và vai trò phức tạp dựa vào sức mạnh diễn ñạt của ngôn ngữ mô tả. Sử dụng các thủ tục suy diễn làm sáng tỏ tri thức tìm ẩn về các khái niệm và các cá thể. ðặc biệt là quan hệ bao hàm giữa hai khái niệm và thể hiện quan hệ giữa các cá thể và khái niệm. ðặc ñiểm của logic mô tả.
ðặc ñiểm tiêu biểu của Logic mô tả là khả năng biểu diễn các loại quan hệ khác nhau giữa các khác niệm trong một miền ứng dụng mà trong ñó các biểu thức ñược xây dựng từ các khái niệm nguyên tố và các vai trò nguyên tố. Nó khác với các ngôn ngữ logic khác ở chỗ, DL ñược trang bị cơ sở logic dựa trên ngữ nghĩa. Do ñó, các hệ thống biểu diễn tri thức dựa trên DLs cung cấp cho người sử dụng nó các khả năng suy diễn khác nhau ñể tìm ñược tri thức tìm ẩn từ các tri thức ñược mô tả. Các miền ứng dụng.
Logic mô tả ngày càng ñược phát triển và ứng dụng rộng rãi trong nhiều hệ thống ứng dụng ở rất nhiều lĩnh vực. Chúng ta có thể kể ra ñây một vài miền ứng dụng của nó, chẳng hạn như : Xây dựng phần mềm (Software engineering). 4 ðây là miền ứng dụng ñầu tiên của Logic mô tả. Ý tưởng cơ bản là dùng DL ñể thực hiện hệ thống thông tin phần mềm (software infomation system).
Một hệ thống hỗ trợ phát triển phần mềm bằng cách tìm kiếm thông tin trong một hệ thống phần mềm rộng lớn. Một trong những ứng dụng mới nhất của logic mô tả là hệ thống LASSIE [Devambu, 1991], cho phép người dùng khả năng xây dựng, phân loại các khái niệm có liên quan trong một lĩnh vực ñể viết mã (code) thực thi chúng. Hệ thống này ñã mang lại thành công to lớn. Tuy nhiên cuối cùng cũng vấp phải nhiều trở ngại do khó duy trì ñược cơ sở tri thức trong nền công nghệ phần mềm luôn luôn biến ñổi một cách tự nhiên.
Thiết lập hệ thống (configuration) Một miền ứng dụng khác cũng rất thành công là xây dựng các ứng dụng dựa trên tri thức bao gồm nhiều ứng dụng hỗ trợ thiết kế, kiến tạo các hệ thống phức tạp bằng cách kết nối nhiều thành phần với nhau. ðây cũng là một miền ứng dụng ñược các hệ chuyên gia phát triển từ những năm 1980. Tuy nhiên ñộ phức tạp thuộc lĩnh vực này là nguyên nhân dẫn tới sự ña dạng của các hệ thống mô tả tri thức dựa trên logic mô tả (DL-KRS) [1]. Chẳng hạn, hỗ trợ ra quyết ñịnh ñể chẩn ñoán y khoa chỉ là một trong nhiều tác vụ mang tính tự ñộng.
Như cầu giải quyết ñược các cơ sở tri thức rộng lớn có tính co giãn (large – scale knowledge bases) (có hàng trăm ngàn khái niệm) ñã dẫn ñến sự phát triển các hệ thống chuyên dùng như hệ thống GALEN [Rector, 1993] chẳng hạn. ðể giải quết ñược tính giãn nở của tri thức, ngôn ngữ DL trong các ứng dụng này thường bị giới hạn lại nhằm mục ñích làm ñơn giản hóa vấn ñề (ngôn ngữ chỉ có một vài bộ xây dựng cơ bản), không có sự phân loại ra thành nhiều mức ñộ khái niệm nhỏ hơn từ một khái niệm ñỉnh. Tuy nhiên có một vài hệ thống rất hữu dụng trong việc mô tả cơ sở tri thức thuộc lĩnh vực y khoa như kiến trúc PART-OF. Hơn nữa, các thành 5 phần DL của ứng dụng này thường tương tác trong một hệ thống thông tin rộng lớn, bao gồm các nguồn thông tin khác nhau ñược tính hợp lại nhằm cung cấp các dữ liệu có giá trị và có tính chặt chẽ.
Các thư viện số và Web ngữ nghĩa. Mối quan hệ giữa các mạng ngữ ngữ nghĩa và các cấu trúc liên kết ñược biểu thị bằng các siêu văn bản (hypertext) ñã thúc ñẩy phát triển nhiều ứng dụng DL có tác dụng mô tả các thông tin thư mục và hỗ trợ phân loại, rút trích thông tin trong các thư viện số [Welty và Jenkins, 2000]. Các ứng dụng này ñã chứng minh ñược hiệu quả của DL ñối với việc phân loại ñược sử dụng trong các mô hình thư viện, và chỉ ra lợi ích của thủ tục suy diễn bao hàm khái niệm trong việc phân loại và rút trích thông tin. Khả năng hiển thị của World Wide Web giống với một mạng ngữ nghĩa.
Thậm chí ngay khi mới bắt ñầu Web, với ý ñịnh ñưa ra các lợi ích cho phép các chương trình không chỉ có khả năng duy trì các cấu trúc ñịnh hướng mà còn nội dung thông tin hiển thị trên trang Web. Với mục ñích xây dựng các hệ thống ñể yêu cầu Web “có ngữ nghĩa”, cho phép người dùng ñưa ra các yêu cầu Web như thể với cơ sở dữ liệu (database). Dựa vào mối quan hệ giữa DL và các mạng ngữ nghĩa, nhiều ñề nghị ñược phát triển sử dụng DL ñể lập mô hình cấu trúc Web, cho phép khai thác khả năng suy diễn DL ñể quản lý thông tin [Kirk, 1995; De Rosa, 1998]. Gần ñây nhất, sử dụng ngôn ngữ ñịnh dạng văn bản (markup languages) ñể nắm bắt ñược nội dung thông tin của các cấu trúc Web.
Chẳng hạn XML là một ngôn ngữ thể hiện mối quan hệ giữa DL và ngôn ngữ ñánh dấu văn vản. Hơn nữa, sự quan tâm ñến việc chuẩn hóa các cơ chế biểu diễn tri thức ñã ñưa ñến sự phát triển một ngôn ngữ mới DAML-ONT [McGuinness, 2002]. ðây là ngôn ngữ Ontology cho phép sản sinh ra Web bằng các mô hình hướng ñối tượng. Và OIL [Fensel, 2001] với mục ñích tương tự là mô tả các Ontology, nhưng có mối quan hệ gần gũi với DL.
6 Như vậy việc sử dụng DL trong việc thiết kế các thư viện số và các ứng dụng Web có liên quan ñến các ngữ như DAML-ONT, OIL và DAML+OIL.