CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về quá trình polymer hóa kiểm soát gốc tự do (control radical polymerization) Trùng hợp gốc tự do (radical polymerization) là một quá trình thương mại quan trọng nhằm điều chế ra các polymer có trọng lượng phân tử cao do quá trình này sử dụng nhiều nhóm monomer vinyl, phản ứng được thực hiện dễ dàng: nhiệt độ phản ứng rộng (từ -20°C đến 200°C), chịu được nước nhưng phản ứng này kỵ khí (absence). Ngoài ra, các monomer có thể dễ dàng đồng trùng hợp gốc tự do dẫn đến vô số các copolymer được hình thành, các đặc tính của chúng phụ thuộc vào các tính chất của các monomer thành phần. Điểm bất lợi duy nhất của quá trình trùng hợp gốc tự do là kiểm soát cấu trúc phân tử kém (mức độ trùng hợp, độ đa phân tán, vai trò kết thúc mạch, cấu trúc chuỗi và thành phần cấu tạo) [5]. Chính vì bất lợi trên, nên quá trình trùng hợp polymer sống (quá trình trùng hợp polymer có kiểm soát – controlled/“living” polymerization) đã ra đời năm 1956 [6].
Với quá trình trùng hợp này, trong giai đoạn chuỗi polymer phát triển, phản ứng phá hủy mạch sẽ không tồn tại. Trong quá trình trùng hợp polymer có kiểm soát, nhóm cuối mạch luôn được kiểm soát và việc tổng hợp block copolymer được thực hiện dễ dàng bằng cách thêm nối tiếp các monomer vào mạch. Tuy nhiên, trong những năm này thì không nhất thiết phải kiểm soát được trọng lượng phân tử và độ đa phân tán của mạch phải thấp (MWD). Thông qua quá trình trùng hợp polymer có kiểm soát, có thể rút ra nhận định về điều kiện tiên quyết để đạt được các mục tiêu kiểm soát phản ứng là chất khơi mào cần được sử dụng trong giai đoạn đầu của quá trình trùng hợp và sự chuyển đổi giữa các nhóm khác nhau trong giai đoạn phản ứng nhanh hơn giai đoạn truyền mạch.
Nếu các chỉ tiêu được đáp ứng thì quá trình trùng hợp polymer sẽ được kiểm soát. 4 Luận văn thạc sĩ Nguyễn Ngọc Kim Tuyến Vào những năm của thập niên 70, có nhiều phương pháp trùng hợp polymer có kiểm soát (CRP) mới được hình thành như quá trình trùng hợp cation, sự trao đổi dạng ring-opening, nhóm chuyển đổi (group transfer) và quá trình trùng hợp polymer gốc tự do. Với các cơ chế đặc biệt, các quá trình trùng hợp dạng mới này đã thu hút mạnh mẽ các nhà nghiên cứu và ngày càng phát triển. Thông qua cách ức chế sự có mặt của các phản ứng ngắt mạch, các phương pháp được dùng để kiểm soát quá trình trùng hợp polymer gốc tự do ngày càng phong phú và đa dạng hơn.
Nhìn chung, tất cả các phương pháp này đều sử dụng quá trình cân bằng động học giữa sự phát triển các gốc tự do và các loại chất hoạt hóa (dormant) khác nhau [ 5, 7, 8, 9, 10]. Quá trình trao đổi là quá trình cốt lõi của các phương pháp trong hệ CRP và có thể tiếp cận theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào nhiều yếu tố như cấu trúc của các “dormant”, các loại chất khử hoạt, sự hiện diện của các loại chất xúc tác, các tác chất đặc biệt và cơ chế quá trình trao đổi. Các quá trình nghiên cứu theo hệ CRP xoay quanh vấn đề nghiên cứu cơ học cơ bản, tổng hợp polymer hóa, nhiều quá trình nghiên cứu tính chất hóa lý cục bộ nhằm đánh giá tính chất của vật liệu nguồn và cũng nhằm khảo sát các ứng dụng mới để thương mại hóa các sản phẩm từ các quá trình tổng hợp. Từ các phương pháp này có thể tổng hợp được nhiều loại vật liệu polymer kiểm soát được cấu trúc (well-defined structure) như các polymer dạng khối di-block, polymer dạng sao (star) hay polymer dạng lược…được minh họa như hình 1.
5 Luận văn thạc sĩ Nguyễn Ngọc Kim Tuyến Hình 1.1: Các ví dụ về cấu trúc phân tử được tổng hợp thông qua các phương pháp CRP. Quá trình CRP có nhiều ưu điểm vượt trội nhưng vẫn có một vài hạn chế xuất phát từ bản chất riêng biệt của gốc tự do trung gian [12]: việc kiểm soát hóa học lập thể (stereochemical control) và không thể phá hủy (unavoidable) gốc tự do cuối mạch. Trên lý thuyết, với cùng tỷ lệ trùng hợp và cùng nồng độ gốc tự do thì nồng độ của các chuỗi tắt mạch được sinh ra trong các phản ứng sẽ tương đương nhau. Tuy nhiên, trong thực tế, lượng chuỗi tắt mạch trong phản ứng trùng hợp polymer có kiểm soát chiếm từ 1% đến 10%; các chuỗi còn lại tồn tại trong trạng thái “dormant”, các chuỗi này giúp cho quá trình tái hoạt hóa thành công và sự hình thành các block copolymer xảy ra dễ dàng hơn.
Để quá trình trùng hợp polymer có kiểm soát đạt được tối ưu thì quá trình trùng hợp cần phải giảm thiểu tỷ lệ các chuỗi tắt mạch hoặc tối ưu hóa các chuỗi có nhóm chức cuối mạch. Mức chuyển hóa của các monomer và trọng lượng phân tử trung bình của polymer phụ thuộc rất nhiều vào tỷ lệ giữa hằng số tốc độ của giai đoạn truyền mạch và hằng số tốc độ của giai đoạn kết 6 Luận văn thạc sĩ Nguyễn Ngọc Kim Tuyến thúc mạch (kp/kt). Đây là một trong những lưu ý quan trọng nhất khi thực hiện quá trình tổng hợp bằng phương pháp trùng hợp polymer có kiểm soát. Trước đây, polymer được hình thành từ các hạt nano hoặc trên bề mặt các vỉ nằm ngang dẫn đến độ bền các hạt, độ đa phân tán và tính chất cơ nhiệt bị thay đổi đột ngột, ngoài ra độ nhớt hay tính chống bẩn và tính kháng khuẩn bị thay đổi khác thường [14-20].
Ngày nay, nhờ quá trình trùng hợp polymer có kiểm soát mà các vật liệu lai tạo vô cơ/hữu cơ hay các phân tử sinh học có thể tồn tại được trong các môi trường khắc nghiệt (bao gồm nhiệt độ, pH và môi trường muối), quá trình vận chuyển gen và vận chuyển thuốc được thuận lợi hơn. Và đây cũng là một trong những lĩnh vực phát triển nhất của ngành polymer. Quá trình trùng hợp polymer có kiểm soát phụ thuộc rất nhiều vào chất khơi mào. Vì vậy, dựa vào chất khơi mào mà các phản ứng trùng hợp polymer có kiểm soát được chia thành ba nhóm chính như (1) phản ứng trùng hợp polymer bằng cách chuyển nhượng gốc tự do (ATRP – atom treansfer radical polymerization), (2) phản ứng trùng hợp polymer bằng cách chuyển đổi phân mảnh chuỗi đảo ngược (RAFT- reversible addition fragmentation transfer) và (3) phản ứng trùng hợp polymer theo dạng SFRP (stable-free radical polymerization)/dạng NMP [5, 7 – 11, 13].
Cơ chế của các quá trình trùng hợp được thể hiện như hình 1.2: Cơ chế trùng hợp polymer theo phương pháp SFRP và phương pháp NRP 7 Luận văn thạc sĩ Nguyễn Ngọc Kim Tuyến Hình 1.3: Cơ chế trùng hợp polymer theo phương pháp ATRP Hình 1.4: Cơ chế trùng hợp polymer theo phương pháp RAFT Với ba nhóm trùng hợp trên, nhóm nào sẽ cho kết quả tổng hợp polymer tối ưu hơn và nhóm nào sẽ gây bất lợi cho quá trình tổng hợp polymer? Ưu và nhược điểm của từng loại phản ứng ra sao? Các vấn đề này sẽ được làm sáng tỏ hơn trong các phần kế tiếp.2 Phản ứng polymer hóa kiểm soát gốc tự do trên cơ chế RAFT 1.1Định nghĩa Trùng hợp polymer theo dạng chuỗi chuyển đổi phân mảnh đảo ngược được thêm vào (Reversible addition-fragmentation chain transfer – RAFT) là quá trình trùng hợp polymer được kiểm soát thông qua hợp chất phản ứng thiocarbonylthio với quá trình truyền gốc tự do bằng phản ứng chuỗi đảo ngược [13, 21 – 24]. Quá trình trùng hợp polymer dạng RAFT là một trong những dạng trùng hợp polymer có kiểm soát. Quá trình trùng hợp dạng RAFT được phát hiện đầu tiên tại Commonwealth Scientific and Industrial Research Organisation (CSIRO) vào năm 1998. Quá trình trùng hợp dạng RAFT thường được thực hiện bằng cách hình thành quá trình trùng hợp polymer gốc tự do với sự hiện diện của hợp chất thiocarbonylthio hoạt động như tác nhân chuyển đổi chuỗi đảo ngược (CTAs).
Trùng hợp polymer dạng RAFT là một trong những 8 Luận văn thạc sĩ Nguyễn Ngọc Kim Tuyến phương pháp trùng hợp dễ dàng thực hiện nhằm kiểm soát quá trình tổng hợp của các polymer có nhóm chức khác nhau. Kết quả là polymer có trọng lượng phân tử như mong muốn, độ đa phân tán hẹp, cấu trúc polymer được kểm soát (như polymer có cấu trúc dạng sao, dạng nhánh cây, dạng lược…). Tương tự như các dạng phản ứng trùng hợp polymer có kiểm soát khác trong hệ CPR, trùng hợp polymer dạng RAFT có khả năng tổng hợp được các polymer có cấu trúc macro như mong muốn.5: Trùng hợp polymer gốc tự do dạng RAFT Một trong những đặc tính quan trọng của trùng hợp polymer dạng RAFT là tính đa năng của các monomer được chọn và điều kiện trùng hợp polymer. Một loạt các monomer vinyl với các nhóm chức khác nhau như (meth)acrylates, (meth)acrylamides, acrylonitrile, dẫn xuất styrene, butadien, butadiene, vinyl acetate, N-vinylpyrrolidone, và N-vinylcarbazole được sử dụng cho quá trình trùng hợp dạng RAFT với sự hiện diện của nhóm CTA.
Trùng hợp polymer dạng RAFT cũng là một quá trình trùng hợp polymer hữu dụng cho quá trình tổng hợp có kiểm soát của các polymer tan trong nước trong môi trường nước. Một tính năng hấp dẫn khác của quá trình trùng hợp dạng RAFT là không cần các hợp chất kim loại nặng như quá trình ATRP. Vì thế quá trình trùng hợp dạng RAFT được sử dụng nhiều cho các quá trình tổng hợp quang điện tử và các ứng dụng trong y sinh. 9 Luận văn thạc sĩ Nguyễn Ngọc Kim Tuyến 1.2Cơ chế quá trình trùng hợp dạng RAFT Quá trình RAFT dựa trên cơ chế chuỗi phân đoạn đảo ngược được thêm vào giữa các nhóm hoạt hóa và các nhóm không hoạt hóa.
Quá trình trùng hợp dạng RAFT xảy ra theo các bước sau: giai đoạn khơi mào, giai đoạn tiền cân bằng, giai đoạn tiền khơi mào, giai đoạn cân bằng chính, giai đoạn truyền mạch và giai đoạn tắt mạch [13, 21 – 24]. Không giống như quá trình trùng hợp ATRP hay quá trình trùng hợp dạng NMP, quá trình RAFT trên cơ sở chuyển đổi chuỗi suy biến chủ yếu. Để kiểm soát được quá trình trùng hợp chuyển đổi gốc tự do thông qua quá trình RAFT, trạng thái chuyển tiếp cân bằng phải nhanh và hằng số tốc độ của từng giai đoạn phản ứng được kiểm soát đúng theo hình 1. Gốc tự do được hình thành trong cơ chế của phản ứng dạng RAFT bằng nhiều cách khác nhau như sự kích hoạt bằng nhiệt độ, sự kích hoạt bằng ánh sáng, kích hoạt bằng bức xạ γ hay bằng các phản ứng oxy hóa khử khác.
Chất khơi mào gốc tự do chuẩn như 4,4’- azobis(isobutyronitrile) (AIBN) and 4,4’-azobis (4-cyanovaleric acid) (ACVA) được dùng thường xuyên cho quá trình trùng hợp dạng RAFT.