phần mở đầu, nội dung luận văn, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo. Nội dung chính của Luận văn bao gồm 03 chƣơng sau: Chƣơng 1: Một số vấn đề chung về tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo quy định của Luật hình sự Chƣơng 2: Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản Chƣơng 3: Thực tiễn xét xử và giải pháp trong việc nâng cao chất lƣợng vận dụng pháp luật hình sự đối với tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 6 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ KHAI THÁC, BẢO VỆ RỪNG VÀ LÂM SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ 1. Khái niệm tội vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản 1. Khái niệm rừng Định nghĩa về rừng cũng đa dạng nhƣ sự đa dạng về chủng loại, thành phần loài, sản phẩm và dịch vụ mà nó cung cấp, v.
Các loại rừng rất khác nhau, đƣợc xác định bởi các yếu tố bao gồm vĩ độ, nhiệt độ, chế độ mƣa, thành phần đất và hoạt động của con ngƣời [30, tr. Làm thế nào một khu rừng đƣợc xác định cũng phụ thuộc vào ngƣời định nghĩa. Theo các quan điểm của các nhà khoa học: Theo Morozov thì: Rừng là một tổng thể các loài cây thân gỗ có mối liên hệ lẫn nhau và chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất cũng nhƣ trong khí quyển. Rừng bao phủ phần lớn bề mặt trái đất, tạo nên cảnh quan địa lý.
Tcachenco thì: Rừng phản ánh sự thay đổi, phát triển của thiên nhiên. Rừng là toàn bộ các cây thân gỗ, cây bụi, cây cỏ, các loài động vật và vi sinh vật sinh sống trong cùng một khu vực địa lý. Tổng thể này có mối quan hệ sinh học trong quá trình phát triển, chúng ảnh hƣởng lẫn nhau và ảnh hƣởng hoàn cảnh bên ngoài. Theo nhà khoa học I.
Mê-lê-khôp thì: rừng tự nhiên hình thành rất phức tạp, rừng là một phần không thể thiếu của sinh quyển địa cầu [30, tr. Căn cứ theo nguồn gốc hình thành, rừng gồm rừng có sẵn trong tự nhiên và rừng con ngƣời trồng: Rừng tự nhiên là rừng có trong tự nhiên từ lâu đời hoặc là các khu rừng đã bị khai thác nhƣng cây cối tự mọc lại một cách tự nhiên hoặc một phần rừng là cây cối tự mọc lại và con ngƣời có trồng bổ sung 7 một phần. Rừng trồng là rừng có đƣợc do con ngƣời trồng, bao gồm rừng đƣợc con ngƣời trồng mới trên đất chƣa có rừng trƣớc đó; rừng đƣợc trồng lại sau khi con ngƣời khai thác rừng trồng đã có trƣớc đó; rừng tái sinh sau khi bị con ngƣời khai thác rừng trồng. Theo quan điểm của các quốc gia trên thế giới Châu Âu: Mỗi quốc gia trong Liên minh Châu Âu có định nghĩa riêng về rừng và Ủy ban Châu Âu đã xác định đất lâm nghiệp có ít nhất 20% tán cây (10% đối với các khu rừng Địa Trung Hải) và diện tích tối thiểu 0,5 ha.
Liên bang Nga: Rừng bao gồm các vùng đất đƣợc bao phủ bởi các loài cây có trữ lƣợng tƣơng đối 0,4 trở lên và các nhóm tuổi khác có trữ lƣợng tƣơng đối 0,3 trở lên; diện tích khai thác, diện tích bị cháy và đất rừng khác đang trong quá trình tái sinh tự nhiên và trên đó số lƣợng và chất lƣợng của cây non đƣợc tái sinh hoặc bảo tồn tự nhiên trong quá trình thu hoạch không thấp hơn so với yêu cầu của hƣớng dẫn sử dụng để chuyển nhƣợng các khu vực đó vào diện tích rừng; đƣợc bao phủ bởi cây bụi ở các vùng lãnh thổ, trên đó các khu rừng cao không thể phát triển do điều kiện khí hậu tự nhiên [34]. Brazil: Rừng đƣợc định nghĩa là diện tích đất rộng hơn 1 ha, với độ che phủ hơn 30% và chiều cao cây tối thiểu 5 mét. Hoa Kỳ: Đất lâm nghiệp, theo định nghĩa của Cơ quan Lâm nghiệp Hoa Kỳ, bao gồm đất ít nhất 10 % trong số đó đƣợc trồng bởi các cây có kích thƣớc bất kỳ, hoặc đất trƣớc đây có lớp phủ nhƣ vậy sẽ đƣợc tái sinh tự nhiên hoặc nhân tạo. Đất rừng bao gồm các khu vực chuyển tiếp nhƣ các khu vực giữa đất rừng bị tàn phá nặng nề và không có rừng, có ít nhất 10% trữ lƣợng cây rừng và các khu vực rừng liền kề với đất đô thị và đất xây dựng [35].
Canada: Đất rừng - các khu vực đất đai nơi tán cây chiếm hơn 10% tổng diện tích và cây khi trƣởng thành có thể phát triển đến độ cao hơn 5 mét. 8 Không bao gồm đất đô thị hoặc đất sử dụng cho mục đích nông nghiệp. ii) Nói chung, một hệ sinh thái đƣợc đặc trƣng bởi độ che phủ của cây nhiều hay ít và dày đặc. Đặc biệt hơn, một quần xã thực vật chủ yếu là cây và các thảm thực vật gỗ khác, phát triển ít nhiều gần nhau.
Trung Quốc: Rừng có nghĩa là vùng đất có diện tích tối thiểu 0,67 ha., tối thiểu tỷ lệ che phủ bao gồm 20% và chiều cao cây tối thiểu đạt 2m. Nam Phi: Đất rừng là bất kỳ vùng đất nào đƣợc bao phủ bởi cây cối hoặc đƣợc quy định trong bất kỳ luật pháp nào, hoặc kế hoạch lâm nghiệp quốc gia hoặc địa phƣơng, hoặc kế hoạch sử dụng đất làm đất rừng hoặc làm đất trồng rừng hoặc trồng rừng. Úc: Rừng là một vùng đất, kết hợp tất cả các thành phần sống và không sống, bị chi phối bởi cây thƣờng có một thân và chiều cao cây đứng trƣởng thành hoặc có khả năng trƣởng thành vƣợt quá 2 mét, và với tầng phủ hiện tại hoặc tiềm năng của tầng tầng lớp phủ quá mức tƣơng đƣơng hoặc lớn hơn 20%. Định nghĩa này bao gồm rừng tự nhiên và rừng trồng và các khu vực của cây đôi khi đƣợc mô tả là rừng.
Ở Việt Nam, khái niệm rừng đƣợc quy định trong các văn bản pháp luật Khái niệm rừng đƣợc sử dụng thông dụng hiện nay đƣợc phát triển từ định nghĩa về rừng đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004 (có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2005 và hết hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2019). Theo Điều này thì rừng đƣợc hiểu là một hệ sinh thái hoàn chỉnh bao gồm cây gỗ, cây hoa, cây cỏ, dƣơng xỉ, rêu, động vật, vi sinh vật sinh sống trên đất rừng và các yếu tố môi trƣờng khác. Ở rừng Việt Nam thì cây thân gỗ, cây tre, cây nứa hoặc hệ thực vật bản địa là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Việt Nam phân loại 9 rừng thành hai loại: rừng trồng và rừng tự nhiên.
Đất rừng thì đƣợc chia đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng. Để thuận tiện cho việc khai thác, bảo vệ và phát triển rừng, pháp luật Việt Nam đã xác định và phân loại rừng bằng thông tƣ số 34/2009/TT- BNNPTNT. Theo đó, một khu đất có cây cối đƣợc xác định là rừng khi đáp ứng đƣợc cả 03 tiêu chí: Một là: rừng là một hệ thống sinh thái hoàn chỉnh, trong đó thành phần bắt buộc để xác định có phải là rừng không là các loài cây thân gỗ lâu năm, cây họ cau, cây họ dừa, những cây này phải có chiều cao nhất của ngọn từ 5,0 mét trở lên (trừ rừng mới trồng và một số loài cây rừng ngập mặn ven biển), tre nứa,… Tuy vậy, không phải khu đất nào có các loài cây trên đều đƣợc coi là rừng mà chúng còn phải có khả năng bảo vệ môi trƣờng, bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh thái, bảo vệ môi trƣờng sống và bảo vệ cảnh quan. Ngoài ra, chức năng quan trọng nhất của rừng là cung cấp gỗ, lâm sản ngoài gỗ.
Đối với các khu rừng mới trồng và các khu rừng mới tái sinh sau khai thác rừng trồng thì phải có mật độ cây cối từ 1.000 cây/ha trở lên và cây gỗ mọc tại đây phải có chiều cao trung bình trên 1,5 m đối với loài cây sinh trƣởng chậm, trên 3,0 m đối với loài cây sinh trƣởng nhanh. Đối với những khu đất mọc rải rác một số cây lâu năm nhƣng mục đích của khu đất là nuôi trồng thủy sản, trồng cây nông nghiệp thì không đƣợc coi là rừng. Mức độ che kín của tán cây của các loài cây chính của khu rừng theo phƣơng thẳng đứng trên một đơn vị diện tích phải từ 0,1 trở lên. Diện tích liền khoảnh tối thiểu từ 0,5 ha trở lên, nếu là dải cây rừng phải có chiều rộng tối thiểu 20 mét và có từ 3 hàng cây trở lên.
Cây rừng trên các diện tích tập trung dƣới 0,5 ha hoặc dải rừng hẹp dƣới 20 mét đƣợc gọi là cây phân tán. Tuy nhiên, các định nghĩa hiện nay và định nghĩa đƣợc học viên sử dụng trong luận văn này lấy theo Luật Lâm nghiệp (2017) 10 Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trƣờng khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao đƣợc xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nƣớc, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trƣng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên [20, Điều 2]. Khái niệm lâm sản Lâm sản là từ Hán Việt, chỉ các sản phẩm mà con ngƣời khai thác đƣợc từ rừng và từ hoạt động lâm nghiệp. Lâm có nghĩa là của rừng, trong khi sản nhắc đến sản phẩm đƣợc tìm kiếm từ rừng.
Ví dụ nhƣ các loại gỗ, các loại nấm, thân cây, lá cây để làm thuốc. Lâm sản đƣợc sử dụng trực tiếp trong đời sống hàng ngày hoặc làm hàng hóa mua bán trong lĩnh vực thƣơng mại [32]. Khái niệm về lâm sản theo Luật Lâm nghiệp 2017: Lâm sản là sản phẩm khai thác từ rừng bao gồm thực vật rừng, động vật rừng và các sinh vật rừng khác gồm cả gỗ, lâm sản ngoài gỗ, sản phẩm gỗ, song, mây, tre, nứa đã chế biến [20, Điều 2, Khoản 16].