phần mở đầu và kết luận, danh mục hình vẽ, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo được chia thành ba phần chính như sau: Phần 1: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất. Phần 2: Thực trạng kế toán Chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH MTV Nội thất Xuân Hòa. Phần 3: Một số ý kiến nhận xét và hoàn thiện nghiệp vụ kế toán Chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH MTV Nội thất Xuân Hòa. Do sự hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, thu thập thông tin, khóa luận tốt nghiệp của em còn nhiều thiếu sót và những vấn đề chưa được đề cập đến.
Em rất mong nhận được những lời chỉ dẫn, góp ý và sự giúp đỡ của các thầy cô giáo. Sinh viên: Vũ Thị Thương Hằng 1 Lớp: K19 – KT1 Em xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến ThS. Trương Thị Hồng Phương, người đã hướng dẫn em hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này. Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám đốc Công ty TNHH MTV Nội thất Xuân Hòa cùng các anh, chị trong phòng Kế toán của công ty đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình tìm kiếm tài liệu nghiên cứu.
Em xin chân thành cảm ơn! Sinh viên Vũ Thị Thương Hằng Sinh viên: Vũ Thị Thương Hằng 2 Lớp: K19 – KT1 PHẦN I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1.1 Khái niệm, phân loại chi phí sản xuất sản phẩm 1.1 Khái niệm chi phí sản xuất sản phẩm Quá trình sản xuất hàng hóa là quá trình kết hợp của ba yếu tố: tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Đồng thời, quá trình sản xuất hàng hóa cũng chính là quá trình tiêu hao của chính bản thân các yếu tố trên. Như vậy, để tiến hành sản xuất hàng hóa, người sản xuất phải bỏ chi phí hoặc hao phí về thù lao lao động, về tư liệu lao động và đối tượng lao động. Vì thế, sự hình thành nên các chi phí sản xuất (CPSX) để tạo ra giá trị sản xuất sản phẩm là yếu tố khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người sản xuất.
Như vậy, CPSX là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí mà doanh nghiệp (DN) phải tiêu dùng trong một thời kỳ để thực hiện quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Thực chất chi phí sản xuất là sự dịch chuyển vốn – chuyển dịch giá trị của các yếu tố sản xuất vào các đối tượng tính giá thành (sản phẩm, lao vụ, dịch vụ). Cần phân biệt giữa chi phí và chỉ tiêu: Chi phí là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóa cần thiết cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) mà DN phải chi ra trong một kỳ kinh doanh. Như vậy, chỉ được tính là chi phí của kỳ hạch toán những hao phí về tài sản và lao động có liên quan đến khối lượng sản phẩm sản xuất ra trong kỳ chứ không phải mọi khoản chi ra trong kỳ hạch toán.
Ngược lại, chi tiêu là sự giảm đi đơn thuần các loại vật tư, tài sản, tiền vốn của DN, bất kể nó được dùng vào mục đích gì. Tổng số chi tiêu trong kỳ của DN bao gồm chi tiêu cho quá trình cung cấp, chi tiêu cho quá trình SXKD và chi tiêu cho quá trình tiêu thụ.2 Phân loại chi phí sản xuất sản phẩm Phân loại CPSX là nội dung quan trọng đầu tiên cần phải thực hiện để phục vụ cho việc tổ chức theo dõi tập hợp CPSX, để tính được giá thành sản phẩm và kiểm soát chặt chẽ các loại CPSX kinh doanh. CPSX kinh doanh của DN bao gồm rất nhiều các khoản mục khác nhau về nội dung kinh tế, tính chất, công cụ và địa điểm phát sinh. Do đó, để thuận tiện cho công tác tập hợp chi phí và hạch toán cần thiết phải phân loại chi phí.
Tùy theo yêu cầu của quản lý và mục đích khác nhau mà người ta có thể phân loại CPSX kinh doanh của DN theo những tiêu thức chủ yếu sau: Sinh viên: Vũ Thị Thương Hằng 3 Lớp: K19 – KT1 1.1 Phân loại theo yếu tố chi phí (nội dung chi phí) Theo cách phân loại này, những chi phí có tính chất kinh tế ban đầu giống nhau được xếp vào một yếu tố chi phí. Theo quy định hiện hành ở Việt Nam, toàn bộ chi phí sản xuất chia thành năm yếu tố: Yếu tố chi phí nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên, vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ nhỏ, nhiên liệu, động lực, năng lượng sử dụng vào quá trình sản xuất - kinh doanh trong kỳ (trừ số dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi). Yếu tố chi phí nhân công: Bao gồm tổng tiền lương, phụ cấp mang tính chất lương phải trả cho toàn bộ người lao động cùng toàn bộ các khoản trích cho các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và kinh phí công đoàn theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương và phụ cấp lương phải trả cho người lao động tính vào chi phí. Yếu tố chi phí khấu hao TSCĐ: Phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải trích trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng cho hoạt động sản xuất – kinh doanh trong kỳ.
Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng vào sản xuất – kinh doanh. Yếu tố chi phí khác bằng tiền: Phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa phản ánh vào các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất – kinh doanh trong kỳ. Ý nghĩa của cách phân loại này: Cung cấp thông tin về chi phí một cách cụ thể hơn nhằm phục vụ cho việc xây dựng và phân tích định mức về tài sản ngắn hạn; là cơ sở cho việc lập, kiểm tra và phân tích dự toán chi phí, các yếu tố chi phí có thể được chi tiết theo nội dung kinh tế cụ thể của chúng.2 Phân loại theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm Căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thành sản phẩm và để thuận tiện cho việc tính giá thành sản phẩm, chi phí được phân chia theo các khoản mục. Cách phân loại này dựa vào công dụng của chi phí và mức phân bổ chi phí cho từng đối tượng.
Theo cách phân loại này, toàn bộ CPSX của DN được chia thành 3 khoản mục chính: Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp: Phản ánh toàn bộ chi phí về NVL chính, phụ, nhiên liệu,. tham gia trực tiếp vào việc SX, chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ. Chi phí nhân công trực tiếp: Gồm tiền lương, phụ cấp lương phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất hay thực hiện các dịch vụ và các khoản trích cho các quỹ bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) và kinh phí Sinh viên: Vũ Thị Thương Hằng 4 Lớp: K19 – KT1 công đoàn (KPCĐ) trích theo tỷ lệ với tiền lương công nhân trực tiếp phát sinh vào chi phí. Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí phát sinh trong phạm vi phân xưởng sản xuất (trừ chi phí vật liệu và nhân công trực tiếp).
Ý nghĩa của cách phân loại này: Việc phân loại chi phí theo cách này cho ta thấy được ảnh hưởng của từng khoản mục tới kết cấu giá thành sản phẩm, đồng thời cung cấp những thông tin cần thiết để xác định định hướng và biện pháp hạ giá thành sản phẩm. Qua đó giúp thuận tiện cho việc tính giá thành sản phẩm.3 Phân loại chi phí theo chức năng trong sản xuất kinh doanh Căn cứ vào chức năng hoạt động trong quá trình kinh doanh và chi phí liên quan đến việc thực hiện các chức năng hoạt động mà toàn bộ chi phí được chia thành 3 loại: Chi phí thực hiện chức năng sản xuất: Gồm những chi phí phát sinh liên quan đến việc chế tạo sản phẩm hay thực hiện các lao vụ, dịch vụ trong phạm vi phân xưởng. Chi phí thực hiện chức năng tiêu thụ: Gồm tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, lao vụ,…. Chi phí thực hiện chức năng quản lý: Gồm các chi phí quản lý, kinh doanh, hành chính và những chi phí chung phát sinh liên quan đến hoạt động của DN.
Ý nghĩa của cách phân loại này: Cách phân loại này là cơ sở để xác định giá thành công xưởng, giá thành toàn bộ, xác định trị giá hàng tồn kho, phân biệt được chi phí theo từng chức năng cũng như làm căn cứ để kiểm soát và quản lý chi phí.4 Phân loại theo quan hệ với quá trình sản xuất Theo cách phân loại này, CPSX được chia thành 2 loại: Chi phí trực tiếp: Có quan hệ trực tiếp với việc sản xuất ra một loại sản phẩm. Kế toán căn cứ vào số liệu từ chứng từ kế toán để ghi trực tiếp cho từng đối tượng chi phí. Chi phí gián tiếp: Trong CPSX là những chi phí có liên quan đến việc sản xuất nhiều loại sản phẩm. Với các chi phí này, kế toán phải tiến hành phân bổ cho các đối tượng có liên quan theo một tiêu chuẩn thích hợp.
Ý nghĩa của cách phân loại này: Phân loại theo cách này giúp cho các doanh nghiệp xác định được phương pháp kế toán tập hợp và phân bổ CPSX cho các đối tượng có liên quan một cách nhanh chóng, kịp thời, chính xác.5 Phân loại theo quan hệ của chi phí với khối lượng, công việc, sản phẩm hoàn thành Để thuận lợi cho việc lập kế hoạch và điều tra chi phí, đồng thời làm căn cứ để đề ra các quyết định kinh doanh, toàn bộ chi phí sản xuất – kinh doanh lại được phân Sinh viên: Vũ Thị Thương Hằng 5 Lớp: K19 – KT1 chia theo quan hệ với khối lượng công việc hoàn thành. Theo cách này, chi phí được chia thành biến phí (còn gọi là chi phí khả biến, chi phí thay đổi hay chi phí không cố định) và định phí (còn gọi là chi phí bất biến, chi phí không thay đổi hay chi phí cố định).