Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Chương 2. Phương pháp luận và thiết kế nghiên cứu 2 z Chương 3. Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty Cổ phần Kinh Đô Chương 4.
Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty Cổ phần Kinh Đô Kết luận Tài liệu tham khảo dự kiến 3 z Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN CÁC TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Quản lý vốn lƣu động gồm 02 phần là: Quản lý TSNH và quản lí nợ ngắn hạn. Sau đây tác giả sẽ tổng thuật các nghiên cứu về TSNH đƣợc trích dẫn ra từ các nghiên cứu về vốn lƣu động.
Sau khi tổng thuật và tham khảo trên 50 tài liệu nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến quản lý TSNH, tác giả xin tổng hợp lại và chia việc quản lý TSNH thành các nhánh nghiên cứu sau đây: Quản lý TSNH Mối quan hệ Mối quan hệ với Mối quan hệ với Sự ảnh hƣởng giữa các thành khả năng sinh khả năng thanh của các nhân tố phần trong lời của doanh khoản của vi mô và vĩ mô. Tổng hòa phân tích mối quan hệ của cả 4 khía cạnh trên. Sơ đồ mối quan hệ giữa các nhân tố và quản lý tài sản ngắn hạn 1. Mối quan hệ giữa các thành phần trong tài sản ngắn hạn Trong những nghiên cứu đầu tiên về quản trị TSNH, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra sự tƣơng tác 2 chiều giữa các thành phần của vòng quay các khoản tƣơng đƣơng tiền.
Các nghiên cứu này đƣợc chia thành 02 nhóm: _ Mối tƣơng tác giữa các khoản phải thu và hàng tồn kho (nghiên cứu của Beranek 1963, của Shapiro 1973, của Bierman 1975, của Sartoris 1983) _ Mối tƣơng tác đa chiều giữa các thành phần của TSNH (nghiên cứu của Damon và Schramm 1972, của Crum 1983) 4 z Theo các nghiên cứu trên, những quyết định đƣợc thực hiện ở bất kì 1 thành phần nào của TSNH cũng sẽ tác động lên các thành phần khác trong quá trình tổ chức quản lí phối hợp hoạt động. Ví dụ, đối với quyết định quản lí hàng tồn kho về mức dự trữ nguyên liệu thô, nếu lƣợng tồn kho quá cao, thì những thành phần khác của TSNH (tiền mặt, các khoản phải thu) sẽ phải cùng san sẻ rủi ro và phản ứng lại bằng cách giảm khối lƣợng thành phẩm nhằm nới rộng tỉ lệ lợi nhuận. Kết quả là việc quản lí hàng tồn kho không hiệu quả đã tác động tới khả năng sinh lời của doanh nghiệp, bằng cách nắm giữ chi phí và rủi ro của những sản phẩm không đƣợc sử dụng. Tuy nhiên việc ứng dụng lí thuyết vào thực tiễn đã không mang lại hiệu quả nhƣ mong đợi.
Bằng chứng là nghiên cứu của McInnes (2000) đã chỉ ra rằng có tới 94% các doanh nghiệp không quản lí TSNH theo các đề xuất trong lí thuyết. Mối quan hệ giữa quản lý tài sản ngắn hạn và khả năng sinh lời của doanh nghiệp _ Nghiên cứu của Lazaridis và Tryphonidis (2006) đã khám phá ra mối liên hệ giữa lợi nhuận và hiệu quả quản lí TSNH, sử dụng danh sách các công ty tại sở giao dịch chứng khoán Athen. Họ phát hiện ra rằng có một mối quan hệ đáng kể về mặt thống kê giữa khả năng sinh lời của hãng và vòng quay các khoản tƣơng đƣơng tiền. Họ kết luận rằng việc kinh doanh có thể tạo ra lợi nhuận cho công ty của họ bằng cách xử lí trực tiếp vòng quay các khoản tƣơng đƣơng tiền và giữ các thành phần khác của TSNH (các khoản phải thu, hàng tồn kho) ở mức tối ƣu.
_ Nghiên cứu của Deloof (2003) cũng phát hiện ra rằng cách TSNH đƣợc quản lí có ảnh hƣởng đáng kể đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Ông sử dụng một mẫu gồm 1009 công ty phi tài chính lớn ở Belgian trong giai đoạn 1992-1996. Tuy nhiên chính sách tín dụng thƣơng mại và chính sách hàng tồn kho đƣợc đo bởi số ngày các khoản phải thu, số ngày luân chuyển hàng tồn kho và vòng quay các khoản tƣơng đƣơng tiền đƣợc coi là một thƣớc đo toàn diện để quản lí TSNH. Ông đã tìm ra mối tƣơng quan ngƣợc chiều đáng kể giữa tổng thu nhập hoạt động với số ngày các khoản phải thu, hàng tồn kho.
Do đó, ông gợi ý các nhà quản lí có thể tạo ra giá 5 z trị cho các cổ đông của hãng bằng cách giảm số ngày các khoản phải thu và hàng tồn kho đến mức hợp lý tối thiểu. _ Mối quan hệ giữa quản lí vốn lƣu động và biểu hiện của hãng đã đƣợc tiến hành sử dụng dữ liệu từ các công ty riêng biệt. Nghiên cứu thực nghiệm của Ghoss và Maji (2004) đƣợc tiến hành về mối quan hệ giữa việc sử dụng TSNH với lợi nhuận hoạt động của các công ty xi măng và trà ở Ấn Độ. Nghiên cứu kết luận rằng mức độ sử dụng TSNH có mối quan hệ cùng chiều với lợi nhuận hoạt động của tất cả các doanh nghiệp trong nghiên cứu.
_ Nghiên cứu của Chakraborty (2008) và của Mallik (2005) đƣợc thực hiện về mối quan hệ giữa TSNH và lợi nhuận trên một mẫu là các công ty đƣợc lựa chọn từ ngành dƣợc phẩm và phát hiện ra ảnh hƣởng chung của khả năng thanh khoản, quản trị hàng tồn kho và quản trị tín dụng lên khả năng sinh lời của doanh nghiệp với mức ý nghĩa thống kê tƣơng đối cao ở 9 trong số 17 doanh nghiệp đƣợc lựa chọn cho nghiên cứu. _ Nghiên cứu của Zariyawati và các cộng sự (2009) về mối quan hệ của khả năng sinh lời với độ dài của vòng quay các khoản tƣơng đƣơng tiền trên một mẫu gồm 6 ngành kinh tế khác nhau lấy danh sách từ Busa Malaysia. Những phân tích của họ khẳng định một mối quan hệ ngƣợc chiều tƣơng đối chặt chẽ giữa vòng quay các khoản tƣơng đƣơng tiền và khả năng sinh lời của hãng. Mối quan hệ giữa quản lí tài sản ngắn hạn và khả năng thanh khoản của doanh nghiệp _ Thƣớc đo thanh khoản của doanh nghiệp là một câu hỏi mang tính thực tiễn.
Trong khi hầu hết các thƣớc đo thông thƣờng về khả năng thanh khoản của công ty là tỉ lệ thanh toán hiện thời và tỉ lệ thanh toán nhanh (các nghiên cứu của Emery 1984, của Kamath 1989) thì nhiều ý kiến tranh luận lại cho rằng khả năng thanh khoản của một công ty đang hoạt động không chỉ phụ thuộc vào giá trị thanh khoản của những tài sản của công ty mà còn vào dòng tiền hoạt động đƣợc sản sinh ra từ những tài sản đó. Nghiên cứu của Gitman (1974) giới thiệu khái niệm vòng quay tiền mặt nhƣ là 1 yếu tố quan trọng trong việc quản lí TSNH. Tổng số vòng quay 6 z tiền mặt đƣợc định nghĩa là khoảng thời gian kể từ khi hãng chi trả tiền cho việc mua các nguyên vật liệu tồn kho cơ bản cho đến khi thu lại đƣợc tiền từ việc bán thành phẩm. Nghiên cứu của Richards và Laughlin (1980) đƣa ra khái niệm vòng quay tiền bằng cách phản ánh khoảng thời gian ròng từ khi chi trả tiền để mua nguyên vật liệu tồn kho cho đến khi thu đƣợc tiền từ việc bán hàng.
Vòng quay các khoản tƣơng đƣơng tiền là một thƣớc đo phụ của số ngày thu đƣợc tiền theo cam kết cho các khoản tồn kho và phải thu ít hơn số ngày trả chậm cho nhà cung cấp. Sự ảnh hưởng của các nhân tố vi mô và vĩ mô tới quản lí tài sản ngắn hạn Nhìn chung, các nhà nghiên cứu tập trung vào ảnh hƣởng của các nhân tố lên quản lí TSNH. Có những nhóm nhân tố cơ bản là các nhân tố bên ngoài và các nhân tố bên trong. _ Trong khi các nhân tố vĩ mô bên ngoài ảnh hƣởng tới toàn bộ công ty, bất kể ngành nghề nào, thì chỉ các công ty ở một số ít ngành nghề đặc trƣng là chịu ảnh hƣởng từ các nhân tố vi mô bên ngoài.
Một số nhân tố bên ngoài đã đƣợc kiểm chứng nhƣ: chính sách (nghiên cứu của Carey 1949), môi trƣờng kinh doanh và kinh tế (nghiên cứu của Ben-Horim và Levy 1983), tác động giữa các ngành nghề (nghiên cứu của Hawawini và cộng sự 1986) và môi trƣờng pháp lý (nghiên cứu của Peel và cộng sự 2000). _ Bên cạnh đó, các nhân tố bên trong đƣợc kiểm nghiệm trong các nghiên cứu trƣớc đây là: Hệ thống quản lý, phƣơng pháp quản lí hay thói quen quản lí (nghiên cứu của Garci’a – Teruel, Marti’nez – Solano 2007), văn hóa tổ chức (nghiên cứu của Krishina và cộng sự 1993), chính sách đầu tƣ (nghiên cứu của Seidner 1990) và năng lực quản lý tài chính (nghiên cứu của Abdul Rahman và Mohamed Ali 2006). Trong khi một lƣợng lớn các nghiên cứu kiểm chứng tác động của các nhân tố vào quản lý TSNH thì một số ít lại kiểm chứng trực tiếp sự tác động này vào biểu hiện của hãng. Câu hỏi thực tiễn ở đây là “liệu một vòng quay các khoản tƣơng đƣơng tiền ngắn hạn có thúc đẩy khả năng sinh lời của doanh nghiệp hay không?” đã đƣợc đặt ra trong các nghiên cứu trƣớc.
Nghiên cứu của Shin và Soenen (1998) 7 z tranh luận rằng hãng có thể mở rộng bán hàng với một chính sách tín dụng nới lỏng, làm kéo dài vòng quay tiền. Trong trƣờng hợp này thì vòng quay các khoản tƣơng đƣơng tiền dài có thể cho kết quả là lợi nhuận cao hơn. Tuy nhiên theo quan điểm truyền thống về mối quan hệ giữa vòng quay các khoản tƣơng đƣơng tiền và lợi nhuận thì khi các yếu tố khác ko thay đổi thì một vòng quay các khoản tƣơng đƣơng tiền dài hơn có thể làm tổn thƣơng khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Nghiên cứu của nhóm tác giả Hàng Lê Cẩm Phƣơng, Phạm Ngọc Thúy 10/2007 nghiên cứu trên mẫu gồm 96 doanh nghiệp nhựa cho thấy hiện tại có 75% doanh nghiệp đã xây dựng chính sách vốn lƣu động, thể hiện mức độ quan tâm cần thiết của doanh nghiệp đối với quản lí vốn lƣu động.
Nghiên cứu tập trung vào đánh giá đƣợc mức độ ảnh hƣởng của các nhân tố vi mô và vĩ mô tới quyết định đầu tƣ vào vốn lƣu động của các công ty trong ngành nhƣ: Quan điểm của nhà quản lí, mục tiêu kinh doanh, tình hình sử dụng vốn, tín dụng khách hàng và chính sách tín dụng của đối thủ cạnh tranh.