CHƯƠNG I LỊCH SỬ LẬP PHÁP HÌNH SỰ VIỆT NAM QUY ĐỊNH VỀ TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ Bước vào những năm đầu của thế kỷ 21, nước ta đang tiến sâu hơn vào quá trình hội nhập toàn diện với quốc tế và khu vực. Trước những tác động và yêu cầu của quá trình hội nhập đất nước ta đã có những thay đổi lớn về mọi mặt, trong đó sự thay đổi trong kinh tế là lớn nhất và quan trọng nhất. Để quản lý tốt “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” theo đúng chủ trương đường nối của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh những chính sách về phát triển kinh tế thì chính sách hình sự về các tội phạm xâm hại tới trật tự quản lý kinh tế cũng phải ra đời và phù hợp, linh hoạt, chặt chẽ hơn.
Chương XVI- BLHS năm 1999 quy định “Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế” đã đáp ứng phần nào đòi hỏi này. Trong 29 điều luật (từ Điều 153 đến Điều 181) thì “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả” được quy định tại Điều 156 nhằm đấu tranh chống nạn hàng giả, buôn bán hàng giả nói riêng và các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nói chung. Lịch sử lập pháp hình sự nước ta về “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả”cũng đã được quy định và có sự trừng trị rất nghiêm khắc đối với các hành vi phạm tội này. Có thể khái quát như sau: 1.
Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi có BLHS năm 1985 Ngày 2/9/1945 Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời - “Nhà nước công nông đầu tiên của Đông nam á”. Nhà nước và bộ máy của nó vừa mới được thành lập đã phải đương đầu với bao khó khăn và thử thách: “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm,…” Để bảo vệ thành quả của cuộc cách mạng tháng tám năm 1945, bảo vệ quyền và lợi ích của giai cấp mình, nhiệm vụ quan trọng và hàng đầu của nhà nước ta là giữ vững an ninh quốc gia, ổn định kinh tế đảm bảo đời sống cho nhân dân. Nhiều chính sách luật được ra đời (Sắc luật) nhưng chưa thể cho ra đời một chính sách Luật hình sự được pháp điển hóa do hoàn cảnh lịch sử chưa cho phép. 4 Website: http://www.vn Email : lienhe@docs.368 Trong khoảng tời gian từ năm 1945 đến năm 1975, đất nước ta liên tục có chiến tranh, cả nước tập trung toàn bộ sinh lực vào cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước, các văn bản pháp luật mang tính hình sự ra đời cũng chỉ tập chung vào quy định các tội có liên quan đến cuộc chiến như: tội phản cách mạng; tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa; các tội về kinh tế thì là: tội đầu cơ, buôn bán hàng cấm…có ảnh hưởng nhiều tới cuộc chiến tranh.
“Tội sản xuất, buôn bán hàng giả” trong giai đoạn này không hề được quy định trong bất kỳ một văn bản pháp luật mang tính hình sự nào. Do tại thời điểm này, nền kinh tế nước ta còn bao cấp mà tất cả sinh lực của đất nước đều tập chung cho cuộc chiến tranh, hành hóa lưu thông trên thị trường đều do các doanh nghiệp nhà nước sản xuất hoặc do các nước viên trợ, chính vì vậy mà hàng giả gần như là không có cơ hội phát triển. Năm 1975, đất nước ta hoàn toàn thống nhất, nền kinh tế đất nước sau chiến tranh hết sức nghèo nàn và lạc hậu, bọn tư sản mại bản được sự tiếp tay của tư sản nước ngoài không ngừng gây rối loạn thị trường, trong đó nạn hàng giả cũng là một trong những nguyên nhân gây rối loạn. Nhằm ổn định thị trường, thắt chặt sự quản lý nhà nước đối với nền kinh tế, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền nam Việt Nam ban hành Sắc luật số: 03.SL ngày 15/3/1976 quy định về tội phạm và hình phạt.
“Tội sản xuất, buôn bán hàng giả” cũng được quy định tại Sắc luật này trong các tội kinh tế: “Điều 6. Tội kinh tế. Tội kinh tế là tội gây thiệt hại về tài chính cho Nhà nước, cho Hợp tác xã hoặc cho tập thể nhân dân, gây trở ngại cho việc khôi phục và phát triển sãn xuất, cho việc ổn định đời sống nhân dân, gồm các tội: - Sản xuất hàng giả cố ý lừu gạt người tiêu thụ; - Kinh doanh trái phép, cố ý trốn tránh quy định của Nhà nước; - Làm bạc giả, hoặc tiêu thụ bạc giả; … 5 Website: http://www.vn Email : lienhe@docs.368 Phạm một trong các tội trên đây, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm và phạt tiền đến năm mươi nghìn đồng Ngân hàng hoặc một trong hai hình phạt đó. Trong trường hợp nghiêm trọng, thì phạt tù đến hai mươi9 năm, tù chung thân hoặc xử tử hình và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.” Việc quy định tội sản xuất hàng giả trong Sắc luật số: 03.SL đã đáp ứng phần nào yêu cầu đấu tranh chống tội phạm về hàng giả trong tội phạm về kinh tế.
Qua đó thể hiện được tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội sản xuất hàng giả và thái độ của Nhà nước đối với tội phạm này là rất nghiêm khắc. Nhưng Sắc luật số: 03.SL bên cạnh những ý nghĩa tích cực còn bộc lộ những hạn chế nhất định và quy định tội sản xuất hàng giả cũng vậy. Sắc luật chưa có sự phân hóa các tội phạm về kinh tế nói chung và tội sản xuất hàng giả nói riêng. Điều 6 của Sắc luật chỉ quy định “Sản xuất hàng giả cố ý lừu gạt người tiêu thụ” mà không quy định hành vi buôn bán hàng giả cũng là tội phạm, không đưa ra những đối tượng hàng giả cụ thể như: hàng giả; hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, …mà chỉ quy định hàng giả chung chung, thậm chí còn không có một văn bản pháp luật nào hướng dẫn hàng giả là loại hàng hóa như thế nào? Việc quy định như vậy là không cụ thể và đầy đủ.
Về hình phạt, điều luật quy định hình phạt áp dụng chung cho các tội phạm, việc quy định như vậy chưa cho thấy rõ mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng loại tội phạm, cũng như chế tài áp dụng đối với tội phạm đó. Là văn bản pháp luật đầu tiên quy định về các tội phạm thuộc lĩnh vực kinh tế như thế này thì Sắc luật còn quá nhiều những hạn chế cả về kỹ thuật lập pháp cũng như khả năng áp dụng trong thực tiễn của pháp luật, gây ra không ít những khó khăn trong việc giải quyết các vụ án trong thực tiễn xét xử của tòa án. Nhưng do hoàn cảnh lịch sử mà Sắc luật này vẫn được áp dụng trong cả nước từ năm 1978 cho đến năm 1982. Để khắc phục những hạn chế, thiếu xót của Sắc luật số: 03.SL và phù hợp hơn với tình hình mới của nền kinh tế, trên cơ sở của Hiến pháp năm 1980, Pháp lệnh số: 07-LCT/HĐNN7 ban hành ngày 10/7/1982 pháp lênh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép.
Đây là văn bản pháp luật đầu tiên 6 Website: http://www.vn Email : lienhe@docs.368 quy định về các tội này cho đến trước khi có BLHS năm 1985. “Tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả” quy định tại Điều 5 Pháp lệnh, trong đó: “Điều 5. Tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả. Người nào làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả nhằm thu lợi bất chính, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm và bị phạt tiền từ năm nghìn đồng đến năm vạn đồng; 2.
Phạm tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh hoặc phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng quy định tại Khoản 1 Điều 9 pháp lệnh này thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm, bị phạt tiền đến năm trăm nghìn đồng và có thể bị tịch thu một phần tài sản; 3. Phạm tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả có chất độc hại hoặc các chất khác có thể nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng, hoặc phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Khoản2 Điều 9 Pháp lệnh này thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân, bị phạt tiền đến một triệu đồng, và có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.” “Tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả” được quy định trong Pháp lệnh đã thể hiện một sự thay đổi căn bản về trình độ lập pháp so với Sắc luật số:03/SL. Không còn quy định đơn giản chỉ một câu mà tội phạm này đã được quy định trong một điều luật riêng, trong đó hành vi buôn bán hàng giả đã được coi là tội phạm và có tính nguy hiểm cho xã hôi tương đương với hành vi làm hàng giả; hàng giả đã được phân định thành nhiều loại hàng giả với mức độ nguy hiểm khác nhau và chế tài áp dụng với từng loại hàng giả khác nhau. Tuy nhiên, Pháp lệnh cũng có những hạn chế nhất định.
Các tình tiết như: “ phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Khoản 2 Điều 9 Pháp lệnh này thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân” mà theo quy định tai Điều 8 của Pháp lệnh thì trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì hình phạt cao nhất là “tử hình”. Những quy định này thể hiện tính không nhất quán của pháp luật đối với hành vi phạm tội. Pháp lệnh cũng chưa phân định được tội phạm và vi phạm pháp luật khác mà phải 7 Website: http://www.vn Email : lienhe@docs.368 áp dụng Nghị định 46/HĐBT ngày 10/5/1983 quy định về việc xử lý bằng biện pháp hành chính các hành vi đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, Nghị định này đưa ra một số các dấu hiệu định lượng và định tính để xác định tội phạm và vi phạm pháp luật bị xử phạt vi phạm hành chính, cụ thể là: “Mọi hành vi đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép thuộc loại vi phạm nhỏ chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự đêù bị xử lý bằng các biện pháp hành chính theo quy định của Nghị định này.