Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp được thực hiện trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế sau hơn 20 năm thực hiện đường lối Đổi mới từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ sáu (năm 1986). Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, tình hình tội phạm kinh tế diễn biến ngày càng phức tạp, trong đó hành vi sản xuất và buôn bán hàng giả có chiều hướng gia tăng với thủ đoạn ngày càng tinh vi.
Theo đánh giá của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) được tác giả trích dẫn, tổng giá trị hàng giả giao dịch hàng năm trên thế giới đạt khoảng 500 tỷ Euro (gấp đôi ngân sách nước Đức tại thời điểm khảo sát), chiếm lĩnh 1/10 thương mại toàn cầu. Tỷ lệ làm giả thể hiện rõ qua các nhóm hàng: cứ 3 đĩa CD thì có 1 chiếc bị sao chép trái phép; quần áo, phụ kiện may mặc, mỹ phẩm và nước hoa chiếm khoảng 1/3 tổng lượng hàng giả; phần mềm máy tính chiếm 35%; video, DVD và CD chiếm 25%; đồng hồ Thụy Sỹ giả mạo lưu hành tới 40 triệu chiếc so với 26 triệu chiếc đồng hồ thật. Tại Việt Nam, nạn hàng giả không chỉ gây thất thu ngân sách, làm lũng đoạn thị trường, xâm hại uy tín doanh nghiệp mà còn trực tiếp đe dọa sức khỏe, tính mạng con người (như vụ ngộ độc kem tắm trắng giả gây tử vong tại Châu Thành, Đồng Tháp). Do đó, việc nghiên cứu các quy phạm pháp luật hình sự về tội phạm này là đòi hỏi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả xét xử và hoàn thiện hệ thống lập pháp.
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là phân tích có hệ thống các quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999, đối chiếu với thực tiễn xét xử giai đoạn 2003–2007 nhằm chỉ ra bất cập, vướng mắc và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật.
Khóa luận xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả qua các thời kỳ phát triển;
- Phân tích các dấu hiệu pháp lý, hình phạt và sự phân định ranh giới của Điều 156 BLHS năm 1999 với các tội phạm liên quan, làm rõ những điểm tiến bộ cũng như hạn chế cần sửa đổi;
- Khảo sát thực tiễn xét xử giai đoạn 2003–2007 từ dữ liệu tòa án và cơ quan điều tra, từ đó đưa ra các quan điểm và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và công tác xét xử.
Đối tượng nghiên cứu là các quy định tại Điều 156 BLHS năm 1999 và thực tiễn xét xử tội sản xuất, buôn bán hàng giả của hệ thống Tòa án nhân dân trong giai đoạn 2003–2007. Phạm vi nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ khoa học luật hình sự trên phạm vi cả nước trong khoảng thời gian từ năm 2003 đến năm 2007.
Cơ sở lý luận, pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác–Lênin, kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học bao gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp quy phạm; phương pháp so sánh luật học; phương pháp nghiên cứu lịch sử; và phương pháp thống kê xã hội học pháp lý.
Hệ thống cơ sở pháp lý và văn bản quy phạm pháp luật được tác giả sử dụng làm căn cứ đối chiếu gồm:
- Sắc luật số 03.SL ngày 15/3/1976 của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam;
- Hiến pháp năm 1980 và Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép ngày 10/7/1982;
- Nghị định số 46/HĐBT ngày 10/5/1983 của Hội đồng Bộ trưởng;
- Bộ luật Hình sự năm 1985 (Điều 167, sửa đổi bổ sung năm 1992);
- Nghị định số 140/HĐBT ngày 25/4/1991 và Thông tư liên bộ số 1254-TTLB ngày 8/11/1991;
- Nghị định số 57/CP ngày 31/5/1997 xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo lường và chất lượng hàng hóa;
- Bộ luật Hình sự năm 1999 (trọng tâm là Điều 156; cùng các Điều 8, Điều 12, Điều 49, Điều 139, Điều 153, Điều 154, Điều 155, Điều 157, Điều 158, Điều 159, Điều 161, Điều 164, Điều 171, Điều 180, Điều 181);
- Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT ngày 27/4/2000 hướng dẫn Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả;
- Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính (Điều 11);
- Luật Sở hữu trí tuệ năm 2006, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (Khoản 3 Điều 5);
- Nghị định số 175/2004/NĐ-CP, Nghị định số 06/2008/NĐ-CP và Nghị định số 106/2006/NĐ-CP;
- Các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia: Công ước Paris, Công ước Berne, Hiệp định TRIPS.
Nguồn dữ liệu thực chứng gồm các báo cáo thống kê chính thức của Vụ Tổng hợp thuộc Tòa án nhân dân tối cao giai đoạn 2003–2007; số liệu khảo sát của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ (C15) – Bộ Công an từ 43/64 tỉnh, thành phố; cùng hồ sơ, bản án và cáo trạng của các vụ án điển hình (như Bản cáo trạng số 11/VKSNDTC-V1B của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về vụ án Linkton Vina; Bản án ngày 14/3/2008 của TAND TP. Hà Nội về vụ dây điện Sangjin).
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả
Chương này trình bày quá trình phát triển của các quy định pháp luật hình sự về hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả qua các giai đoạn lịch sử của Nhà nước Việt Nam:
-
Giai đoạn 1945 đến trước khi ban hành BLHS năm 1985:
- Thời kỳ 1945–1975: Đất nước trong tình trạng chiến tranh kéo dài, kinh tế vận hành theo cơ chế bao cấp, hàng hóa lưu thông do Nhà nước độc quyền phân phối hoặc từ nguồn viện trợ quốc tế. Do đó, hiện tượng làm hàng giả hầu như không phát triển; các sắc luật hình sự thời kỳ này chỉ tập trung xử lý tội phản cách mạng, tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa hoặc tội đầu cơ, buôn bán hàng cấm.
- Sau ngày thống nhất đất nước (1975): Nhằm ổn định thị trường trước sự rối loạn do tư sản cấu kết gây ra, Sắc luật số 03.SL ngày 15/3/1976 đã quy định tại Điều 6 nhóm tội kinh tế hành vi "Sản xuất hàng giả cố ý lừa gạt người tiêu thụ" với chế tài phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm, trường hợp nghiêm trọng có thể lên tới 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Tuy nhiên, Sắc luật bộc lộ hạn chế khi chưa hình sự hóa hành vi buôn bán hàng giả, chưa phân định các loại hàng giả đặc thù và thiếu văn bản giải thích thế nào là hàng giả.
- Pháp lệnh ngày 10/7/1982: Điều 5 quy định riêng "Tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả", lần đầu tiên xác định tính nguy hiểm của hành vi buôn bán ngang hàng với hành vi sản xuất, đồng thời phân hóa mức độ nguy hiểm đối với hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh và hàng chứa chất độc hại. Nghị định 46/HĐBT ngày 10/5/1983 sau đó đặt ra tiêu chí định lượng (giá trị hàng phạm pháp dưới 2 vạn đồng là vi phạm nhỏ xử lý hành chính, trừ hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh luôn bị xử lý hình sự). Hạn chế của giai đoạn này là sự không thống nhất giữa khung hình phạt tại Điều 5 với Điều 8 và Điều 9 của Pháp lệnh.
-
Giai đoạn BLHS năm 1985 đến trước khi ban hành BLHS năm 1999:
- Điều 167 BLHS năm 1985 quy định "Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả", kế thừa Pháp lệnh năm 1982 và cụ thể hóa các tình tiết định khung. Đến lần sửa đổi năm 1992, Điều 167 bổ sung thêm đối tượng hàng giả mới là "vật liệu xây dựng, phân bón, thuốc trừ sâu" và nâng mức hình phạt cao nhất ở trường hợp đặc biệt nghiêm trọng lên mức tử hình.
- Về giải thích thuật ngữ: Nghị định 140/HĐBT (1991) và Thông tư liên bộ số 1254-TTLB (1991) đưa ra định nghĩa và 6 dấu hiệu nhận biết hàng giả, phân tách thành hàng giả về hình thức và hàng giả về nội dung, đồng thời phân biệt hàng giả với hàng kém chất lượng dựa vào "mức chất lượng tối thiểu". Tác giả chỉ rõ hạn chế: các văn bản này đã đồng nhất hàng giả về hình thức với hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp; ngoài ra khái niệm "mức chất lượng tối thiểu" không khả thi vì phần lớn hàng hóa trên thực tế không có quy định mức tối thiểu. Điều 167 BLHS 1985 cũng thiếu tiêu chí định lượng ranh giới hành chính – hình sự, dẫn đến việc cùng một hành vi có thể bị xử lý theo 3 hướng khác nhau (truy cứu hình sự, xử phạt hành chính theo Nghị định 57/CP, hoặc cảnh cáo/tịch thu).
-
Sự phát triển của BLHS năm 1999 so với BLHS năm 1985:
- Tách Điều 167 cũ thành các tội danh độc lập: Điều 156 (hàng giả nói chung), Điều 157 (lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh), Điều 158 (thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi) và Điều 171 (xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp).
- Thu hẹp phạm vi đối tượng tác động của Điều 156, đưa ra các tiêu chí định lượng giá trị cụ thể ("tương đương số lượng hàng thật có giá trị từ 30 triệu đồng..."), bãi bỏ hình phạt tử hình (mức cao nhất là 15 năm tù), chuyển hình phạt bổ sung về trực tiếp Khoản 4 của điều luật.
- Thay đổi thuật ngữ từ "làm hàng giả" sang "sản xuất hàng giả", phản ánh chính xác quy trình tổ chức lao động có dây chuyền, máy móc và phân công công đoạn, tránh nhầm lẫn với hành vi chế tác thủ công đơn lẻ mang tính lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139).
Chương II: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định tại Điều 156 Bộ luật Hình sự
Chương này tập trung phân tích cấu thành tội phạm, hình phạt và phân định ranh giới pháp lý của Điều 156 BLHS năm 1999:
-
Khái niệm và 4 yếu tố cấu thành tội phạm:
- Khái niệm: Tác giả xây dựng định nghĩa khoa học: "Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là hành vi làm ra, mua đi bán lại hàng giả, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý xâm phạm đến trật tự của nền sản xuất hàng hóa, làm mất ổn định thị trường, xâm hại lợi ích người tiêu dùng".
- Khách thể: Khách thể trực tiếp là quan hệ xã hội trong lĩnh vực quản lý nhà nước về chất lượng, lưu thông, phân phối hàng hóa và quyền lợi người tiêu dùng. Dựa trên Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT, hàng giả gồm: hàng giả về nội dung; hàng giả về hình thức; hàng giả cả về nội dung và hình thức. Hàng kém chất lượng được phân biệt là hàng có giá trị sử dụng trên mức tối thiểu và không gây hại sức khỏe, tính mạng, môi sinh. Về phân định với quyền sở hữu công nghiệp: hàng giả về hình thức tại Điều 156 là hàng hóa mang nhãn hiệu, kiểu dáng của cơ sở khác nhưng chưa đăng ký bảo hộ hoặc không có văn bằng bảo hộ tại Việt Nam; nếu đối tượng đó đã được cấp văn bằng bảo hộ thì thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 171.
- Mặt khách quan: Thể hiện qua hành động, bao gồm hành vi "sản xuất" (tạo ra hàng giả qua nhiều khâu, phân công lao động, công nghiệp hoặc bán công nghiệp) hoặc "buôn bán" (dùng tiền/lợi ích vật chất mua đi bán lại hàng mà biết rõ là giả nhằm thu lợi bất chính). Tội phạm có cấu thành hình thức: chỉ cần có hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả tương đương giá trị hàng thật từ 30 triệu đồng trở lên là tội phạm đã hoàn thành, không bắt buộc phải có dấu hiệu hậu quả xảy ra (hậu quả chỉ là dấu hiệu bắt buộc nếu giá trị hàng dưới 30 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng).
- Chủ thể: Cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS) và đạt độ tuổi luật định. Người từ đủ 16 tuổi chịu TNHS về mọi trường hợp; người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chỉ chịu TNHS ở Khoản 2 (rất nghiêm trọng) và Khoản 3 (đặc biệt nghiêm trọng), không chịu TNHS ở Khoản 1 (tội nghiêm trọng). Pháp luật hình sự Việt Nam chưa quy định TNHS đối với pháp nhân, dẫn đến nguy cơ bỏ lọt tội phạm khi toàn bộ pháp nhân tham gia vi phạm nhưng chỉ cá nhân đại diện bị truy cứu. Yếu tố nhân thân đòi hỏi người phạm tội từng bị xử phạt hành chính về các tội kinh tế liên quan (Điều 153, 154, 155, 157, 158, 159, 161) chưa hết thời hạn 1 năm (theo Điều 11 Pháp lệnh XLVPHC) hoặc đã bị kết án chưa xóa án tích.
- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp. Tác giả bác bỏ quan điểm cho rằng hành vi buôn bán có thể tồn tại lỗi vô ý, bởi pháp luật buộc chủ thể kinh doanh phải kiểm soát chất lượng hàng bán ra và người buôn bán hàng giả luôn nhận thức được tính chất giả mạo nhằm mục đích kiếm lời bất chính.
-
Khung hình phạt và các tình tiết định khung:
- Khoản 1: Phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm (giá trị hàng thật tương đương từ 30 triệu đến dưới 150 triệu đồng; hoặc dưới 30 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị xử phạt hành chính hoặc bị kết án chưa xóa án tích).
- Khoản 2: Phạt tù từ 3 năm đến 10 năm với 7 tình tiết định khung tăng nặng (có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp; tái phạm nguy hiểm; lợi dụng chức vụ, quyền hạn theo Luật Phòng, chống tham nhũng; lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; hàng giả tương đương từ 150 triệu đến dưới 500 triệu đồng; thu lợi bất chính lớn).
- Khoản 3: Phạt tù từ 7 năm đến 15 năm (hàng giả tương đương từ 500 triệu đồng trở lên; thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn; gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng).
- Khoản 4: Hình phạt bổ sung gồm phạt tiền từ 5 triệu đến 50 triệu đồng; tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản; cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 đến 5 năm. Tác giả kiến nghị bỏ dấu hiệu "thu lợi bất chính lớn/rất lớn/đặc biệt lớn" do không có hướng dẫn định lượng và đã được phản ánh qua giá trị hàng giả; đồng thời kiến nghị nâng mức phạt tiền bổ sung tối thiểu từ 50 triệu đồng trở lên vì mức 5–50 triệu đồng là quá thấp so với lợi nhuận phạm tội.
-
Phân biệt Điều 156 với các tội danh khác:
- Với Điều 171 (Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp): Điều 171 bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đã được Nhà nước cấp văn bằng bảo hộ; mức hình phạt nhẹ hơn (phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ đến 2 năm).
- Với Điều 157 và Điều 158: Điều 157 bảo vệ nhóm hàng lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh (hình phạt cao nhất tới tử hình, không bắt buộc định lượng giá trị); Điều 158 áp dụng cho thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật... có hình phạt tiền là hình phạt chính tại Khoản 1 nhưng thiếu định lượng cụ thể.
- Với Điều 164, Điều 180, Điều 181: Khác biệt về đối tượng tác động đặc thù (tem giả, vé giả thuộc trật tự quản lý hành chính; tiền giả, ngân phiếu, séc, giấy tờ có giá giả thuộc trật tự quản lý tài chính - tiền tệ ngân hàng).
Chương III: Thực tiễn xét xử tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong những năm gần đây (2003-2007)
Chương này sử dụng các bảng số liệu thống kê từ Tòa án nhân dân tối cao và báo cáo của Bộ Công an để đánh giá thực trạng xét xử:
Bảng 1: Thống kê xét xử tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 156) so với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (2003-2007)
| Năm |
Tổng số vụ XPTTQLKT thụ lý |
Tổng số vụ XPTTQLKT xét xử |
Tỷ lệ xét xử XPTTQLKT (%) |
Số vụ thụ lý Điều 156 |
Số vụ xét xử Điều 156 |
Tỷ lệ xét xử Điều 156 (%) |
Tỷ lệ vụ Điều 156 / XPTTQLKT xét xử (%) |
Tỷ lệ bị cáo Điều 156 / XPTTQLKT xét xử (%) |
| 2003 |
988 |
903 |
91,40% |
24 |
22 |
91,67% |
2,44% |
1,95% |
| 2004–2006 |
Tăng qua các năm |
Tăng qua các năm |
Duy trì cao |
Biến động |
Biến động |
100,00% |
Biến động |
Biến động |
| 2007 |
931 |
906 |
97,31% |
6 |
6 |
100,00% |
0,66% |
0,57% |
| Trung bình 5 năm |
— |
— |
— |
— |
— |
97,53% |
1,64% |
1,23% |
(Nguồn: Vụ Tổng hợp - Tòa án nhân dân tối cao)
Bảng 2: Thống kê các vụ án đã xét xử về tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 156, 157, 158 (2003-2007)
| Năm |
Tổng số vụ xét xử hàng giả |
Điều 156 (Số vụ) |
Điều 156 (Tỷ lệ %) |
Điều 157 (Số vụ) |
Điều 157 (Tỷ lệ %) |
Điều 158 (Số vụ) |
Điều 158 (Tỷ lệ %) |
| 2003 |
58 |
22 |
37,93% |
34 |
58,62% |
2 |
3,45% |
| 2004 |
39 |
21 |
53,85% |
6 |
15,38% |
12 |
30,77% |
| 2005 |
44 |
13 |
29,55% |
22 |
50,00% |
9 |
20,45% |
| 2006 |
57 |
17 |
29,82% |
34 |
59,65% |
6 |
10,53% |
| 2007 |
15 |
6 |
40,00% |
3 |
20,00% |
6 |
40,00% |
| Tổng cộng |
213 |
79 |
37,08% |
99 |
46,48% |
35 |
16,43% |
(Nguồn: Vụ Tổng hợp - Tòa án nhân dân tối cao)
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đưa ra các kết quả nghiên cứu và số liệu thực chứng cụ thể:
- Thống kê toàn diện 213 vụ án sản xuất, buôn bán hàng giả được xét xử từ 2003 đến 2007; làm rõ cơ cấu xử lý gồm 79 vụ theo Điều 156 (37,08%), 99 vụ theo Điều 157 (46,48%) và 35 vụ theo Điều 158 (16,43%).
- Phản ánh thực trạng chênh lệch giữa phát hiện và xử lý hình sự từ số liệu thực tế của Cục C15 tại 43 địa phương: tỷ lệ chuyển xử lý hình sự chỉ chiếm 15,74% tổng số vụ (162/1.029 vụ) và 12,72% số đối tượng (189/1.486 đối tượng), còn lại 79,49% số vụ bị xử lý hành chính.
Hệ thống kiến nghị và giải pháp do tác giả đề xuất:
- Hoàn thiện lập pháp hình sự: Bỏ tình tiết "thu lợi bất chính lớn" (Điểm g Khoản 2) và "thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn" (Điểm b Khoản 3) tại Điều 156 vì thiếu tính khả thi trong định lượng và đã được bao hàm trong giá trị hàng giả; nâng mức phạt tiền bổ sung tại Khoản 4 lên từ 50 triệu đồng trở lên; bổ sung quy định định lượng giá trị hàng giả tương đương hàng thật vào Điều 158; nghiên cứu cơ chế xử lý TNHS đối với pháp nhân thương mại.
- Hoàn thiện văn bản hướng dẫn áp dụng: Cơ quan có thẩm quyền cần ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn phân định ranh giới giữa Điều 156 và Điều 171; giải thích cụ thể các thuật ngữ "gây hậu quả nghiêm trọng", "hàng giả tương đương số lượng của hàng thật".
- Nâng cao hiệu quả thực thi và xét xử: Tăng cường chế tài xử phạt hành chính đối với các hành vi xé lẻ dưới 30 triệu đồng; thiết lập cơ chế điều phối thống nhất giữa 5 lực lượng phòng chống hàng giả; đào tạo chuyên môn giám định hàng thật – hàng giả cho cán bộ Quản lý thị trường; chấm dứt tình trạng xử lý hành chính đối với các vụ việc đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm.
Đóng góp khoa học của khóa luận: Hệ thống hóa lịch sử lập pháp hình sự về tội hàng giả từ năm 1945 đến BLHS năm 1999; luận giải bản chất cấu thành hình thức và lỗi cố ý trực tiếp của tội phạm tại Điều 156; chỉ ra bức tranh thực tế về sự "lệch pha" giữa số vụ vi phạm thực tế và số vụ án được đưa ra xét xử tại Tòa án.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của khóa luận:
- Phạm vi dữ liệu thực tiễn chỉ giới hạn trong giai đoạn 2003–2007; số liệu điều tra tội phạm của lực lượng Cảnh sát kinh tế (C15) chỉ mới bao quát được 43 trên tổng số 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tại thời điểm khảo sát.
- Công trình chủ yếu tập trung chuyên sâu vào Điều 156 BLHS năm 1999, chưa đi sâu khảo sát chi tiết thực tiễn xét xử đối với hai tội danh liên quan trực tiếp là Điều 157 và Điều 158.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Khảo sát thực tiễn áp dụng toàn diện cả 3 tội danh sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 156, 157, 158) trong mối liên hệ với các quy định mới của Nghị định số 06/2008/NĐ-CP và Luật Sở hữu trí tuệ;
- Nghiên cứu mô hình quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với nhóm tội phạm kinh tế trong các lần sửa đổi BLHS tiếp theo.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự khi nghiên cứu nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam;
- Cán bộ thực tiễn tại các cơ quan tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán) trong việc định tội danh, phân biệt giữa Điều 156 với Điều 171 (sở hữu công nghiệp) và Điều 139 (lừa đảo chiếm đoạt tài sản);
- Cán bộ các cơ quan quản lý nhà nước như Quản lý thị trường, Thanh tra thương mại nhằm phân định ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự để chuyển giao hồ sơ đúng thẩm quyền.
Các nội dung có giá trị tham khảo cao gồm: bảng phân tích lịch sử các sắc luật và pháp lệnh hình sự từ năm 1976; hệ thống dấu hiệu nhận biết hàng giả theo Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT; và hai bảng số liệu thống kê xét xử 5 năm của Tòa án nhân dân tối cao.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận phân định đối tượng tác động giữa Điều 156 (hàng giả) và Điều 171 (xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp) như thế nào?
Theo tác giả, hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171) là hàng hóa mang nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc xuất xứ của cơ sở khác đã được đăng ký và cấp văn bằng bảo hộ tại cơ quan quản lý nhà nước. Ngược lại, hàng giả về hình thức là đối tượng của Điều 156 là hàng hóa sao chép nhãn hiệu, kiểu dáng, nguồn gốc xuất xứ của cơ sở khác nhưng đối tượng đó chưa đăng ký bảo hộ hoặc không có văn bằng bảo hộ tại Việt Nam.
2. Vì sao tác giả khẳng định tội danh tại Điều 156 có cấu thành tội phạm hình thức?
Tác giả lập luận rằng theo quy định của Điều 156, chỉ cần người phạm tội thực hiện hành vi sản xuất hoặc buôn bán hàng giả tương đương với số lượng hàng thật có giá trị từ 30 triệu đồng trở lên là tội phạm đã hoàn thành và thể hiện đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội, không bắt buộc phải có thiệt hại vật chất xảy ra trên thực tế. Yếu tố hậu quả nghiêm trọng chỉ mang tính bắt buộc cấu thành khi giá trị hàng phạm pháp dưới 30 triệu đồng.
3. Tỷ lệ xét xử tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 156 chiếm bao nhiêu trong nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế giai đoạn 2003–2007?
Theo số liệu của Tòa án nhân dân tối cao, trong 5 năm (2003–2007), số vụ án xét xử theo Điều 156 chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng số tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trung bình đạt 1,64% về số vụ (tổng cộng 79 vụ) và 1,23% về số bị cáo (123 bị cáo). Tỷ lệ xét xử trên số vụ thụ lý của tội danh này đạt trung bình 97,53%.
4. Báo cáo của Cục C15 Bộ Công an tại 43 tỉnh, thành phố chỉ ra thực trạng gì về công tác xử lý hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả?
Báo cáo chỉ ra tình trạng xử lý hành chính chiếm đa số tuyệt đối: trong 1.029 vụ với 1.486 đối tượng bị phát hiện, cơ quan chức năng chỉ chuyển xử lý hình sự 162 vụ (189 đối tượng, chiếm 15,74% số vụ), trong khi xử phạt vi phạm hành chính lên tới 818 vụ (1.273 đối tượng, chiếm 79,49% số vụ) và chuyển cơ quan khác 80 vụ (105 đối tượng).
5. Khóa luận có những kiến nghị cụ thể nào về việc sửa đổi khung hình phạt tại Điều 156 BLHS năm 1999?
Tác giả kiến nghị bãi bỏ tình tiết định khung "thu lợi bất chính lớn" (Khoản 2) và "thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn" (Khoản 3) vì thiếu văn bản hướng dẫn và khoản lợi bất chính đã được phản ánh qua giá trị hàng giả; đồng thời kiến nghị nâng mức phạt tiền bổ sung tại Khoản 4 từ khung hiện hành (5–50 triệu đồng) lên mức tối thiểu từ 50 triệu đồng trở lên để bảo đảm tính răn đe.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp đã hoàn thành việc nghiên cứu có hệ thống các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội sản xuất, buôn bán hàng giả từ giai đoạn lịch sử trước năm 1985 đến BLHS năm 1999. Thông qua việc phân tích chuyên sâu 4 yếu tố cấu thành tội phạm tại Điều 156 và đối chiếu với dữ liệu xét xử thực tế giai đoạn 2003–2007, tác giả đã làm rõ các bất cập nổi cộm như tình trạng hành chính hóa tội phạm, khoảng trống xét xử tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp và sự thiếu hụt quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân. Công trình đưa ra các giải pháp sửa đổi luật thực chất, góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực chứng phục vụ quá trình hoàn thiện chính sách hình sự kinh tế tại Việt Nam.