Chương 1 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI HỦY HOẠI RỪNG Rừng là nguồn tài nguyên to lớn, là nguồn thu lời cho nền kinh tế quốc dân. Rừng không những có giá trị kinh tế mà rừng còn có vai trò quan trọng trong quốc phòng, an ninh. Đặc biệt, rừng đã tạo ra sự ổn định và cân bằng về môi trường sinh thái, điều hòa khí hậu, bảo vệ sự sống, hạn chế các tác hại của lũ lụt, mưa gió, hạn hán, phục vụ đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, du lịch của nhân dân. Vì vậy, chúng ta cần phải có những biện pháp cụ thể trong việc quản lý và bảo vệ rừng.
Tuy nhiên, trên thực tế nhiều hành vi hủy hoại rừng đã xảy ra hết sức phức tạp với những thủ đoạn tinh vi, hậu quả của tội phạm gây ra hết sức nặng nề, trực tiếp ảnh hưởng đến môi trường và đời sống của nhân dân, làm môi trường sống của chúng ta đang ở mức báo động. Do tính nguy hiểm của hành vi này nên trong pháp luật hình sự từ xưa đến nay ở bất kỳ quốc gia, bất kỳ Nhà nước nào cũng nghiêm trị hành vi xâm phạm đến rừng và áp dụng hình phạt. Nếu hành vi hủy hoại rừng dù nguy hiểm đến đâu cũng chỉ dừng lại ở việc xử lý kỉ luật, xử phạt hành chính hay trách nhiệm dân sự… mà không truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) thì sẽ không đủ sức răn đe, không tương xứng với tính nguy hiểm của hành vi dẫn đến không phòng ngừa và dần loại bỏ được những hành vi này trong thực tế. Do vậy việc quy định Tội hủy hoại rừng trong pháp luật hình sự để đấu tranh phòng ngừa và chống hành vi nguy hiểm này là thực sự đúng đắn và cần thiết đáp ứng đòi hỏi cả về mặt lý luận và thực tiễn.
Không những vậy, chế tài đưa ra cũng cần nghiêm khắc mới đáp ứng đòi hỏi của công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Quy định Tội hủy hoại rừng trong pháp luật hình sự là cơ sở để Nhà nước thông qua các cơ quan quyền lực nhà nước sử dụng các công cụ pháp lý đấu tranh phòng chống tội phạm. Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử những 15 z năm qua cho thấy rằng, mỗi loại tội phạm có tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau, phương pháp đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm cũng khác nhau. Nhưng cho dù như thế nào thì chúng đều gây những thiệt hại nhất định cho các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ.
Chúng là những hiện tượng xã hội tiêu cực cần chúng ta không ngừng đấu tranh, hạn chế và từng bước loại trừ ra khỏi đời sống xã hội. KHÁI NIỆM VÀ CÁC DẤU HIỆU CƠ BẢN CỦA TỘI HỦY HOẠI RỪNG 1. Khái niệm Tội hủy hoại rừng Tội hủy hoại rừng là một trong mười một tội độc lập được quy định trong Chương các tội phạm về môi trường của BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Tuy nhiên, BLHS chưa đưa ra khái niệm chung về tội phạm hủy hoại rừng.
Phân tích khoa học khái niệm này là khởi điểm cho việc giải quyết về bản chất vấn đề của TNHS trong lĩnh vực hủy hoại rừng. Việc hiểu đúng đắn khái niệm tội phạm hủy hoại rừng là cơ sở phương pháp luận cho quá trình lập pháp đối với loại tội phạm này. Trong trường hợp không có sự nhận thức đúng đắn về tội phạm này sẽ không thể xây dựng được các hình thức chế tài, phạm vi và nhiệm vụ của hoạt động phòng ngừa. Trước hết, cần hiểu khái niệm Tội hủy hoại rừng là gì.
Đây là vấn đề lý luận có ý nghĩa quan trọng của tội phạm này, tạo cơ sở cho việc đi sâu nghiên cứu các vấn đề khác, đồng thời còn giúp các cơ quan bảo vệ pháp luật áp dụng đúng đắn các quy phạm của BLHS. Do vậy, làm sáng tỏ khái niệm Tội hủy hoại rừng có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về Tội hủy hoại rừng từ khi thành lập nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến khi BLHS đầu tiên được chính thức thông qua ngày 27/6/1985, có hiệu lực từ 01/01/1986 và tiếp tục được sửa đổi, bổ sung hoàn thiện trong lần pháp điển hóa thứ hai ra đời BLHS năm 1999 và ngày 19/6/2009 Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 5 đã thông qua 16 z Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS cho thấy chưa có quy định pháp luật nào ghi nhận khái niệm tội phạm môi trường nói chung và khái niệm Tội hủy hoại rừng nói riêng. Trong BLHS năm 1985 chưa thể hiện rõ tính cấp bách và tầm quan trọng đặc biệt của việc đấu tranh với các hành vi xâm hại môi trường.
Điều này không chỉ thể hiện qua việc BLHS 1985 chưa dành riêng một chương cho các tội phạm về môi trường, mà chỉ quy định tại một Điều 195 "Tội vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường gây hậu quả nghiêm trọng" trong Chương VIII - Các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng và trật tự quản lý hành chính. Một số tội phạm về môi trường được gộp lại với những tội phạm khác và được hiểu không phải với tư cách là những tội phạm về môi trường. "Tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác và bảo vệ tài nguyên trong lòng đất, trong các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam" (Điều 179), "Tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ đất đai" (Điều 180), "Tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng" (Điều 181) trong BLHS 1985 được hiểu là những tội phạm kinh tế và xếp vào Chương VII "Các tội phạm về kinh tế". Đến BLHS năm 1999 chính sách hình sự của Việt Nam trong việc bảo vệ môi trường có sự đột phá quan trọng với việc xây dựng một chương riêng cho các tội phạm về môi trường (Chương XVII) với 10 tội độc lập.
Và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS năm 2009 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010, Chương các tội phạm về môi trường đã được sửa đổi, bổ sung bốn điều, thêm mới ba điều và bãi bỏ hai điều. Nên Chương các tội phạm về môi trường trong BLHS bao gồm có tất cả 11 điều. Tuy nhiên, Điều 189 "Tội hủy hoại rừng" vẫn được giữ nguyên không có sửa đổi, bổ sung. Để làm rõ khái niệm của tội phạm này, trước hết cần nghiên cứu quá trình hình thành quy định Tội hủy hoại rừng trong pháp luật hình sự Việt Nam.
Thuật ngữ "bảo vệ rừng" lần đầu tiên chính thức được quy định tại Điều 181 BLHS được Quốc hội thông qua ngày 27/6/1985 "Tội vi phạm các 17 z quy định về quản lý và bảo vệ rừng" trong Chương VII - Các tội phạm về kinh tế. Trong BLHS năm 1985, tội phạm liên quan đến rừng mới chỉ được quy định tại một điều: Điều 181 quy định Tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng, trong đó hành vi là khai thác trái phép cây rừng, săn bắt trái phép chim, thú. BLHS ra đời là một bước tiến quan trọng trong hoạt động lập pháp của Nhà nước, là công cụ sắc bén để các cơ quan đấu tranh chống tội phạm một cách có hiệu quả. Tuy nhiên, vào thời điểm này, tội phạm về hủy hoại rừng chưa được quy định thành tội riêng nên khó vận dụng trong thực tiễn.
Hành vi đốt phá rừng trái phép hoặc hành vi khác hủy hoại rừng thì bị truy cứu TNHS theo Tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng (Điều 181). Đây chỉ là một mắt xích, một dạng hành vi trong chuỗi các hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý và bảo vệ rừng của Tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng tại Điều 181 BLHS năm 1985. Qua thực tiễn xét xử cho thấy, việc quy định có tính chất khái quát chung cho nhiều loại hành vi như vậy sẽ không làm rõ được những tình tiết cụ thể cũng như mức độ nguy hiểm của từng loại hành vi. Trên thực tế, xuất phát từ những lý do khác nhau, kẻ phạm tội không chỉ dừng lại ở chỗ khai thác trái phép cây rừng, săn bắt trái phép chim, thú.
Về mặt khách quan, hành vi này khác hành vi hủy hoại rừng hay lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm các quy định về quản lý rừng. Do vậy, để đáp ứng yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử tội phạm liên quan đến rừng, trong lần pháp điển hóa thứ hai luật hình sự Việt Nam - BLHS năm 1999, Tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng (Điều 181 BLHS năm 1985) được tách thành hai tội là: Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng và Tội vi phạm các quy định về quản lý rừng (Điều 175 và Điều 176 BLHS năm 1999) trong Chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và quy định thêm một tội mới là "Tội hủy hoại rừng" tại Điều 189 BLHS năm 1999 trong Chương các tội xâm phạm về môi trường. So với BLHS năm 1985 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 có một số thay đổi nhất định, 18 z đáng chú ý là việc quy định các tội liên quan đến rừng thành các tội riêng biệt đó là "Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng", "Tội vi phạm các quy định về quản lý rừng" và "Tội hủy hoại rừng". Đến Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS năm 2009 các điều này vẫn giữ nguyên.
Như vậy, trong BLHS năm 1999 cũng như Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2009, điều luật chỉ quy định tội danh hủy hoại rừng mà không có một khái niệm đầy đủ, cụ thể về tội phạm này. Khái niệm Tội hủy hoại rừng chỉ được tiếp cận thông qua những giải thích cụ thể về hành vi khách quan của tội phạm được quy định tại Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT/BNN&PTNT-BTP-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 8/3/2007 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Tư pháp, Bộ công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC), Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) hướng dẫn áp dụng một số điều của BLHS về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (sau đây gọi tắt là Thông tư số 19/2007/TTLT).