CHƯƠNG 1 HÀNH VI CHỨA CHẤP VIỆC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY 1. Quy định của pháp luật hình sự về hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy Khoản 1 Điều 256 BLHS năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS năm 2015) quy định: “Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này, thì…”. Như vậy, theo Điều 256 BLHS năm 2015 thì tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức, mặt khách quan chỉ quy định dấu hiệu hành vi khách quan là hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.1 Hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy gồm có ba dạng hành vi là hành vi cho thuê địa điểm, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điều 255 BLHS năm 2015. Theo tiểu mục 7.2 mục 7 phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT- BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC), Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) và Bộ tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS năm 1999, hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy tại Điều 256 BLHS năm 2015 được hướng dẫn như sau:2 - Cho thuê, cho mượn địa điểm là hành vi của người có địa điểm thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc do mình quản lý biết người khác là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng vẫn cho họ mượn hoặc thuê địa điểm đó để họ trực tiếp sử dụng trái phép chất ma túy nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ về sử dụng chất ma túy.
- Có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là trường hợp người có địa điểm thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc do mình quản lý, biết người khác (không phải là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của mình) là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, tuy không cho họ 1 Cấu thành tội phạm hình thức là cấu thành tội phạm mà mặt khách quan chỉ có hành vi là dấu hiệu bắt buộc. Xem: Trường Đại học Luật TP.HCM (2019), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam – Phần Chung (Tái bản lần thứ nhất, có sửa đổi, bổ sung), NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 2 Xem: Tiểu mục 7.2 mục 7 phần II TTLT số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP. 8 thuê, mượn địa điểm, nhưng lại để mặc cho họ hai lần sử dụng trái phép chất ma túy trở lên hoặc để mặc cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy.
Như vậy, thông qua quy định tại khoản 1 Điều 256 BLHS năm 2015 và hướng dẫn tại TTLT số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP thì hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý là hành vi tạo điều kiện thuận lợi cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy. Xét về bản chất, hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép ma túy phải là hành vi cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác tương tự nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ về sử dụng chất ma túy. Còn nếu trong trường hợp người có địa điểm cho người khác mượn hoặc thuê địa điểm mà biết là họ dùng địa điểm đó không phải để họ sử dụng chất ma túy nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ về sử dụng chất ma túy, mà dùng địa điểm đó để đưa chất ma túy trái phép vào cơ thể người khác, thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điều 255 BLHS năm 2015.3 Xét về hình thức thể hiện của hành vi khách quan, hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy có thể thực hiện dưới dạng hành động phạm tội như cho thuê, cho mượn địa điểm,… cũng có thể thực hiện dưới dạng không hành động phạm tội như biết người khác sử dụng trái phép chất ma túy, tuy không cho thuê, cho mượn địa điểm nhưng làm ngơ, mặc kệ cho họ sử dụng… Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là tội phạm có cấu thành hình thức. Mặt khách quan chỉ quy định duy nhất một dấu hiệu hành vi khách quan là chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.
Do đó, tội phạm được coi là hoàn thành ngay khi người phạm tội thực hiện hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Người chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý trực tiếp, tức là họ nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Một số vướng mắc trong thực tiễn xác định hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy Trên cơ sở quy định của pháp luật hình sự về hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, chúng ta có thể nhận thức một cách rõ ràng, đầy đủ về hành vi 3 Xem: Điểm b tiểu mục 7.3 mục 7 Phần II TTLT số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP. 9 này, từ đó giúp người áp dụng pháp luật có thể nhận diện hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy thông qua dấu hiệu người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy thì bị xử lý hình sự về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 256 BLHS năm 2015).
Nếu chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy mà nhằm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì sẽ bị xử lý hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 BLHS năm 2015). Tuy nhiên, thực tiễn xác định hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy còn có những vướng mắc nhất định dẫn đến giảm hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy nói chung và tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy nói riêng. Các vướng mắc trong thực tiễn xác định hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy được thể hiện thông qua nội dung của một số bản án điển hình sau đây: Thứ nhất, trường hợp một người biết người khác đang sử dụng trái phép chất ma túy tại địa điểm thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc do mình quản lý thì cần phải có biện pháp ngăn chặn như thế nào để không bị coi là “để mặc” cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy, hay nói khác là để không bị coi là có hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Cụ thể như vụ án sau: Vụ án thứ nhất:4 Bản án hình sự sơ thẩm (HSST) số 54/2019/HS-ST ngày 10/10/2019 của Tòa án nhân dân (TAND) huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Nội dung vụ án: Khoảng 14 giờ ngày 02/4/2019, Hoàng Văn H, Nguyễn Nho T, Trịnh Ngọc H đến quán Karaoke Biển Đông (do Đoàn Văn T là người đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, đồng thời cũng là người quản lý) gặp chủ quán là chị C (vợ của T) thuê phòng hát số 02 và yêu cầu cho nhân viên nữ vào phòng để rót bia và phục vụ hát. Sau đó, C gọi điện thoại cho chồng là Đoàn Văn T về rồi C đi ngủ. Hát khoảng 5 phút, Hoàng Văn H lấy trong người ra bộ dụng cụ để sử dụng ma túy đặt lên bàn, ma túy đã được bỏ sẵn ở trong bộ dụng cụ, cùng lúc thì chị Nông Thị X là nhân viên của quán vào phòng hát để rót bia và phục vụ cho việc hát, Đoàn Văn T đi kiểm tra phòng hát, thấy trong phòng còn một màn hình ti vi chưa 4 Xem: Phụ lục số 01. 10 bật nên mở cửa phòng vào bật lên rồi đi ra ngoài.
Quá trình hát Hoàng Văn H, Nguyễn Nho T, Trịnh Ngọc H thay nhau tự châm lửa sử dụng chất ma túy và hát. Khoảng 30 phút sau thì có chị Bàn Ánh N - nhân viên quán vào phục vụ thấy Hoàng Văn H, Nguyễn Nho T, Trịnh Ngọc H sử dụng ma túy nên khó chịu, đi ra quầy lễ tân ngồi. Sau đó, T đi qua phòng hát thấy các đối tượng đang sử dụng ma túy nên mở cửa, gọi X là nhân viên của quán ra và bảo: “Vào trong phòng bảo bọn kia không được chơi nữa”, có nghĩa là “không sử dụng ma túy nữa” rồi T đi đến quầy lễ tân ngồi, còn X đi vào phòng và nói “vứt đi” nhưng H, T và H vẫn tiếp tục sử dụng ma túy. Một lúc sau, Hoàng Văn H đi ra quầy lễ tân để lấy khăn lạnh, gặp Đoàn Văn T, T nói với H “không được chơi nữa, không là tắt phòng”, Hoàng Văn H trả lời “sắp xong rồi” tức là sử dụng ma túy sắp xong rồi, T không nói gì.
H trở lại phòng hát cùng Nguyễn Nho T, Trịnh Ngọc H tiếp tục sử dụng ma túy thì bị Công an kiểm tra và bắt qua tang. Khám xét thu giữ trên mặt bàn một chai nước bằng nhựa màu vàng - xanh, có nắp màu đỏ được đục hai lỗ, một lỗ cắm ống hút nhựa màu trắng; một lỗ cắm ống hút nhựa màu xanh - trắng bên trên cắm một cóng thủy tinh, đầu cóng có chứa chất bám dính màu nâu đen, là ma túy có khối lượng 0,004g loại Methamphetamine. Quan điểm của các cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) về việc xác định tội danh đối với hành vi của Đoàn Văn T: - Tại bản cáo trạng số 47/CT-VKS ngày 19/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Triệu Sơn truy tố Đoàn Văn T về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 256 BLHS năm 2015.