phần Mở đầu, Luận văn bao gồm 02 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về tội chống ngƣời thi hành công vụ. Chƣơng 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội chống ngƣời thi hành công vụ và các kiến nghị. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỘI CHỐNG NGƢỜI THI HÀNH CÔNG VỤ 1.1 Khái niệm công vụ, ngƣời thi hành công vụ và tội chống ngƣời thi hành công vụ 1. Khái niệm công vụ Công vụ là một thuật ngữ luôn đƣợc xem xét, đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau nên do vậy, công vụ cũng đƣợc hiểu theo các phạm vi rộng, hẹp khác nhau.
Theo cách hiểu chung nhất, công vụ trƣớc hết là các việc công, các việc này đƣợc thực hiện vì lợi ích chung, lợi ích công cộng, lợi ích xã hội, lợi ích của Nhà nƣớc. Hoặc theo quan điểm của tác giả Vũ Văn Thái thì: “Công vụ là hoạt động công quyền dựa trên cơ sở “sử dụng quyền lực công” theo quy định của pháp luật; chịu sự chi phối, điều chỉnh của nền hành chính công; nó có tính tổ chức cao và tuân theo những quy ch bắt buộc theo quy định của pháp luật hoặc người có thẩm quyền”.1 Tại Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng Th m phán Tòa án nhân dân Tối cao hƣớng dẫn áp dụng Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 1985 về tội giết ngƣời đã đƣa ra định nghĩa về Công vụ nhƣ sau: “Công vụ là một công việc mà cơ quan Nhà nƣớc hoặc Tổ chức xã hội giao cho một ngƣời thực hiện”. Ở nƣớc ta, cho đến hiện nay, vẫn chƣa có bất kỳ một văn bản quy phạm pháp luật nào đƣa ra khái niệm mang tính chính thống về “công vụ”. Tuy nhiên, với quan niệm công vụ là một hoạt động do công chức thực hiện nhân danh quyền lực Nhà nƣớc, do vậy một thời gian khá dài, chúng ta vẫn thƣờng nhắc đến Nhà nƣớc đơn thuần với chức năng quản lý dựa trên cơ sở quyền lực - quyền uy, mệnh lệnh - phục tùng.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, trên cơ sở định hƣớng xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân thì vai trò, chức năng và nhiệm vụ Nhà nƣớc của nƣớc ta đã có nhiều thay đổi, trong đó nhiệm vụ cung ứng các dịch vụ công chuyển dịch mạnh mẽ theo hƣớng phục vụ nhân dân. Từ cách nhìn và tƣ duy có sự thay đổi về vai trò, chức năng và nhiệm vụ của Nhà nƣớc, nhu cầu về một khái niệm Công vụ mang tính chính thống ngày càng trở nên cấp thiết và 1 Vũ Văn Thái (2016), “Công vụ và cải cách công vụ trong điều kiện Nhà nước chuyển đổi phát triển”, Trang thông tin điện tử - Ban chỉ đạo Trung ƣơng về đ y mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức.aspx/vi/News/71/0/1010103/0/5668/, truy cập ngày 19/10/2016. 8 khái niệm công vụ đó phải là một khái niệm “mở”, không nên coi công vụ đơn thuần chỉ là các hoạt động nhân danh quyền lực Nhà nƣớc mà còn phải bao hàm các hoạt động của các chủ thể khác khi đƣợc Nhà nƣớc “ủy quyền”. Từ những quan điểm nêu trên, chúng ta có thể thấy “công vụ” là một khái niệm rộng về phạm vi và quan trọng về ý nghĩa trong nền hành chính Nhà nƣớc.
Nói đến công vụ là nói đến hoạt động của Nhà nƣớc với nhiều yếu tố hợp thành nhƣ: thể chế công vụ, đội ngũ công chức, các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Nhà nƣớc… Từ thực tiễn nƣớc ta hiện nay chƣa có một khái niệm chính thống về “công vụ”, với đặc điểm tình hình kinh tế - chính trị - xã hội của nƣớc ta hiện nay và xu thế hội nhập phát triển chung của thế giới, tác giả xin đƣợc đƣa ra khái niệm về công vụ nhƣ sau: “Công vụ là một loại hoạt động mang tính quyền lực - pháp lý được thực thi bởi đội ngũ Cán bộ, Công chức Nhà nước hoặc những người khác khi được Nhà nước trao quyền nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong quá trình quản lý toàn diện các hoạt động của đời sống xã hội. Khái niệm người thi hành công vụ Theo giáo trình của Trƣờng Đại học Luật Hà Nội thì: “Người thi hành công vụ là người được Nhà nước hoặc xã hội giao cho những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định trong quản lí lĩnh vực hành chính nhà nước nhất định (cán bộ thu , cảnh sát giao thông, đội viên dân phòng…)”.2 Theo tác giả Đinh Văn Quế thì: “Người thi hành công vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao một nhiệm vụ và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ”.3 Dƣới góc độ Hình sự, tại mục 2 Chƣơng 2 Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng th m phán Tòa án nhân dân tối cao về “hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự” thì ngƣời thi hành công vụ đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Người thi hành công vụ là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội, thực hiện chức năng, nghiệp vụ của mình và cũng có thể là những công dân được huy động làm nghiệp 2 Đại học Luật Hà Nội (2007), iáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập 2, Nxb Công an nhân dân, tr. 3 Đinh Văn Quế (2005), Bình luận khoa h c bộ luật hình sự - phần các tội phạm, Tập VIII (bình luận chuyên sâu), Nxb tổng hợp thành phố Hồ Chi Minh, tr. 9 vụ (như: tuần tra, canh gác…) theo k hoạch của cơ quan có thẩm quyền, phục vụ lợi ích chung của nhà nước, của xã hội”.
Bên cạnh Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng th m phán Tòa án nhân dân tối cao nêu trên, trong các lĩnh vực khác song song tồn tại các văn bản pháp luật quy định về “Ngƣời thi hành công vụ” nhƣ: - Khoản 1 Điều 3 Luật trách nhiệm bồi thƣờng nhà nƣớc năm 2009 quy định nhƣ sau: “Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan Nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án hoặc người khác được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đ n hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án”. So với Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng th m phán Tòa án nhân dân tối cao, thì định nghĩa về ngƣời thi hành công vụ nêu trên đã loại bỏ bớt một “dạng” chủ thể đó là những ngƣời đang làm việc trong các tổ chức xã hội. Nhƣ vậy, ngƣời thi hành công vụ theo Luật trách nhiệm bồi thƣờng nhà nƣớc năm 2009 có phạm vi hẹp hơn so với Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng th m phán Tòa án nhân dân tối cao. - Khoản 1 Điều 3 của Nghị định 208/2013/NĐ-CP/2013/NĐ-CP ngày 17/12/2013 của Chính phủ quy định các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi chống ngƣời thi hành công vụ (Nghị định 208/2013/NĐ-CP/2013/NĐ-CP) quy định: “Người thi hành công vụ là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, chi n sĩ thuộc lực lượng vũ trang nhân dân được cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích Nhà nước, nhân dân và xã hội”.
Định nghĩa về ngƣời thi hành công vụ theo Nghị định 208/2013/NĐ- CP/2013/NĐ-CP nêu trên đƣợc ban hành khi Luật công chức, viên chức đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, khi đã đƣợc coi là công chức, viên chức thì đƣơng nhiên các chủ thể này đã đƣợc bầu cử, phê chu n, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào các cơ quan nhà nƣớc hoặc các tổ chức. Bên cạnh đó, ngƣời thi hành công vụ theo quy định tại Nghị định 208/2013/NĐ-CP còn mở rộng thêm đến các chủ thể là “sĩ quan, hạ sĩ quan, chi n sĩ thuộc lực lượng vũ trang nhân dân”. Tuy nhiên, định nghĩa này lại 10 loại bỏ một “dạng” chủ thể đó là những công dân đƣợc cơ quan nhà nƣớc hoặc ngƣời có th m quyền huy động để thực hiện công vụ.
Từ những khái niệm, định nghĩa theo các quy định nêu trên, để xác định thế nào là Ngƣời thi hành công vụ thì cần phải đảm bảo cả ba khía cạnh sau: a. Về chủ thể Ngƣời thi hành công vụ phải là ngƣời có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan nhà nƣớc, tổ chức xã hội hoặc cũng có thể là một công dân bất kỳ đƣợc cơ quan nhà nƣớc có th m quyền huy động, giao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật. Trên thực tế có ý kiến cho rằng Nghị định 208/2013/NĐ-CP/2013/NĐ-CP đã đƣa thêm các chủ thể là “viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, chi n sĩ” vào nhóm ngƣời thi hành công vụ và nhƣ vậy là có sự mâu thuẫn về chủ thể ngƣời thi hành công vụ so với Luật trách nhiệm bồi thƣờng nhà nƣớc năm 2009. Do đó, căn cứ vào Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thì phải ƣu tiên theo các quy định của Luật trách nhiệm bồi thƣờng Nhà nƣớc năm 2009.
Theo quan điểm của tác giả, thì ý kiến này là không chính xác vì theo khoản 1 Điều 3 Luật trách nhiệm bồi thƣờng nhà nƣớc năm 2009 thì ngoài nhóm chủ thể “người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm” thì còn có trƣờng hợp là “người khác” nhƣng “…được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đ n hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án”. Nhƣ vậy, Nghị định 208/2013/NĐ-CP và Luật trách nhiệm bồi thƣờng nhà nƣớc không hề có sự mâu thuẫn. Tuy nhiên, Nghị định 208/2013/NĐ-CP đã loại bỏ bớt một “dạng” chủ thể khi không quy định những công dân đƣợc cơ quan nhà nƣớc hoặc ngƣời có th m quyền huy động để thực hiện công vụ là ngƣời thi hành công vụ, quy định này đã làm hẹp phạm vi những đối tƣợng đƣợc coi là ngƣời thi hành công vụ so với Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng th m phán Tòa án nhân dân tối cao cũng nhƣ Luật trách nhiệm bồi thƣờng nhà nƣớc năm 2009.