Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 5 năm từ năm 2011 đến năm 2015, tình hình an ninh trật tự tại Việt Nam ghi nhận sự gia tăng phức tạp của các hành vi cản trở và tấn công lực lượng thi hành công vụ. Dữ liệu từ hệ thống Tòa án nhân dân trên phạm vi cả nước cho thấy đã có 3.728 vụ án với hàng nghìn bị cáo bị đưa ra xét xử sơ thẩm về tội danh này. Riêng tại địa bàn trọng điểm kinh tế và du lịch như tỉnh Khánh Hòa, cơ quan tư pháp hai cấp đã thụ lý và xét xử 76 vụ án với 144 bị cáo. Thực trạng trên phản ánh tính chất manh động, liều lĩnh của người phạm tội, đồng thời đặt ra thách thức lớn đối với công tác bảo vệ trật tự quản lý hành chính nhà nước.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự của tác giả Nguyễn Tuấn Long, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Phương Hoa tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tập trung giải quyết những khoảng trống lý luận và bất cập thực tiễn trong áp dụng pháp luật hình sự. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là làm rõ bản chất pháp lý của công vụ, định vị chính xác đối tượng tác động, phân tích ranh giới giữa vi phạm hành chính với tội phạm hình sự và đánh giá những điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 so với Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009. Phạm vi nghiên cứu bao quát số liệu xét xử toàn quốc và đào sâu thực tiễn xét xử tại tỉnh Khánh Hòa từ năm 2011 đến năm 2015. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa then chốt trong việc giảm thiểu tỷ lệ án bị trả hồ sơ điều tra bổ sung, góp phần nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm và phúc thẩm đạt chuẩn mực tư pháp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý luận cấu thành tội phạm của khoa học luật hình sự Việt Nam, bao gồm 4 yếu tố bắt buộc: khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan. Khách thể trực tiếp của tội danh được xác định là hoạt động bình thường, đúng đắn của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội trong lĩnh vực quản lý hành chính. Ba khái niệm trung tâm được chuẩn hóa xuyên suốt công trình gồm:

Thứ nhất, công vụ được hiểu là hoạt động mang tính quyền lực - pháp lý do đội ngũ cán bộ, công chức hoặc công dân được Nhà nước trao quyền thực hiện nhằm thực thi chức năng quản lý đời sống xã hội vì lợi ích chung.

Thứ hai, người thi hành công vụ bao gồm người có chức vụ, quyền hạn theo quy định tại Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 và Nghị định 208/2013/NĐ-CP của Chính phủ. Phạm vi này bao hàm cả công dân được cơ quan có thẩm quyền huy động hợp pháp như dân phòng, bảo vệ dân phố, thanh niên xung kích.

Thứ ba, tội chống người thi hành công vụ là hành vi cố ý dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác nhằm cản trở người thi hành công vụ thực hiện nhiệm vụ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, được điều chỉnh tại Điều 257 Bộ luật Hình sự năm 1999 và Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin. Nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp được thu thập thông qua hồ sơ thực tế và báo cáo thống kê ngành Tòa án giai đoạn 2011-2015. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 3.728 vụ án được xét xử trên cả nước và tập mẫu chuyên sâu gồm 76 vụ án với 144 bị cáo tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Khánh Hòa. Phương pháp chọn mẫu điển hình kết hợp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cao nhất cho cả bình diện vĩ mô lẫn vi mô.

Hệ thống phương pháp phân tích cụ thể gồm có:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt để bóc tách các yếu tố cấu thành tội phạm, xâu chuỗi các quy định pháp luật qua từng thời kỳ lịch sử từ Bộ luật Hồng Đức, Hoàng Việt luật lệ đến pháp luật hiện đại.
  • Phương pháp thống kê xã hội học pháp luật: Đo lường tốc độ gia tăng số lượng vụ án và cơ cấu hình phạt trong 5 năm (2011-2015). Lý do lựa chọn phương pháp này là để chứng minh tính bức thiết của việc hoàn thiện thể chế qua các con số thực chứng.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định tại Điều 257 Bộ luật Hình sự năm 1999 với Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng thời so sánh tội danh này với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe để làm rõ ranh giới định tội.
  • Phương pháp nghiên cứu tình huống điển hình: Mổ xẻ 3 vụ án thực tế tại Khánh Hòa nhằm chứng minh sự xung đột nhận thức giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát và phân tích dữ liệu thực tiễn đem lại 4 phát hiện quan trọng:

  • Sự gia tăng liên tục của tội phạm qua các năm: Trên phạm vi toàn quốc, tổng số 3.728 vụ án phản ánh xu hướng tăng trưởng liên tục. Năm 2011 số vụ tăng 11,9% so với năm trước; năm 2012 tăng 7,4%; năm 2013 tăng 16,7%; năm 2014 tăng 13,7%; và đạt đỉnh điểm vào năm 2015 với mức tăng trưởng 18,2%.
  • Tính chất phức tạp và quy mô đông người tại địa phương: Tại tỉnh Khánh Hòa, 76 vụ án với 144 bị cáo cho thấy trung bình mỗi vụ án có gần 2 bị cáo tham gia. Cá biệt xuất hiện những vụ việc tập trung hàng chục đến hàng trăm người chống đối, sử dụng hung khí nguy hiểm tấn công lực lượng tuần tra kiểm soát.
  • Bất cập trong xác định tư cách người thi hành công vụ: Thực tiễn điều tra, truy tố bộc lộ nhiều sai sót khi bỏ lọt tư cách công vụ của các bác sĩ giám định pháp y tâm thần theo quyết định trưng cầu của cơ quan cảnh sát điều tra, hoặc thành viên đội thanh niên xung kích thực hiện nhiệm vụ phân luồng giao thông theo kế hoạch đã được Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt.
  • Bất cập về kỹ thuật lập pháp tại Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015: Điểm mới của luật đã lượng hóa tình tiết tăng nặng tại điểm d khoản 2 thành mức gây thiệt hại về tài sản từ 50.000.000 đồng trở lên. Tuy nhiên, việc luật loại bỏ hoàn toàn các thiệt hại phi vật chất đã vô hình trung làm thu hẹp và sai lệch khách thể bảo vệ của trật tự quản lý hành chính nhà nước.

Thảo luận kết quả

Diễn biến số liệu có thể được mô tả trực quan qua biểu đồ đường thể hiện tốc độ tăng trưởng án từ 11,9% năm 2011 lên 18,2% năm 2015, kết hợp với bảng phân loại 76 vụ án tại Khánh Hòa theo nhóm hành vi: dùng vũ lực trực tiếp, đe dọa vũ lực và dùng thủ đoạn cản trở. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự gia tăng tội phạm bắt nguồn từ sự xuống cấp ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận người dân, tâm lý coi thường kỷ cương phép nước và ảnh hưởng của chất kích thích khi tham gia giao thông.

BIỂU ĐỒ MÔ PHỎNG TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG ÁN XÉT XỬ TOÀN QUỐC (2011 - 2015)
Năm 2011: [11.9%]  ====================>
Năm 2012: [ 7.4%]  ============>
Năm 2013: [16.7%]  ============================>
Năm 2014: [13.7%]  =======================>
Năm 2015: [18.2%]  ===============================>
(Tổng số vụ án đưa ra xét xử sơ thẩm trong 5 năm: 3.728 vụ)

Nghiên cứu thảo luận sâu sắc về các vụ án điển hình để làm sáng tỏ ranh giới định tội. Trong vụ án tại Bệnh viện chuyên khoa tâm thần Khánh Hòa, hành vi đập phá thiết bị y tế trị giá 27.000.000 đồng và cản trở bác sĩ giám định tâm thần đối với bị can Lê Tuấn Hải bị khởi tố về tội hủy hoại tài sản là chưa chuẩn xác. Hoạt động giám định theo quyết định trưng cầu tư pháp bản chất là hoạt động phục vụ tố tụng hình sự, do đó các bác sĩ chính là người thi hành công vụ.

Tương tự, vụ án chống đối Tổ tuần tra Công an phường Vĩnh Trường và vụ án thanh niên xung kích hướng dẫn người đi bộ qua đường Trần Phú cho thấy sự lúng túng của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát khi chuyển hóa sai lệch sang tội cố ý gây thương tích chỉ vì nạn nhân bị thương tích nhẹ 3% hoặc sự việc xảy ra ngay sau khi thao tác dẫn đường vừa kết thúc. Cách hiểu cứng nhắc về thời điểm bắt đầu và kết thúc công vụ đã tạo kẽ hở pháp lý nghiêm trọng, tước bỏ sự bảo vệ của pháp luật đối với người thi hành công vụ khi họ trên đường làm nhiệm vụ hoặc vừa hoàn tất nhiệm vụ được giao.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  • Ban hành hướng dẫn áp dụng thống nhất: Tòa án nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Công an ban hành Nghị quyết liên tịch hướng dẫn chi tiết Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015. Văn bản cần định nghĩa rõ phạm vi người thi hành công vụ mở rộng và xác định thời gian thi hành công vụ kéo dài từ lúc tiếp nhận kế hoạch đến khi kết thúc toàn bộ lộ trình nhiệm vụ, mục tiêu hoàn thành trong giai đoạn 2016-2017 nhằm giảm 100% tình trạng hủy, sửa án do sai tội danh.
  • Sửa đổi quy định định khung tăng nặng: Cơ quan lập pháp cần sửa đổi điểm d khoản 2 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015 theo hướng bổ sung tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng về mặt phi vật chất hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự công cộng, không chỉ bó hẹp ở mức định lượng tài sản 50.000.000 đồng.
  • Chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ và tập huấn liên ngành: Các cơ quan tư pháp địa phương tổ chức tối thiểu 2 khóa đào tạo chuyên sâu hàng năm cho 100% điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán phụ trách án hình sự, tập trung kỹ năng phân biệt tội chống người thi hành công vụ với các tội danh xâm phạm tính mạng, sức khỏe.
  • Hiện đại hóa trang thiết bị bảo vệ lực lượng công vụ: Bộ Công an và chính quyền các cấp trang bị đầy đủ công cụ hỗ trợ, thiết bị ghi âm, ghi hình cho 100% cán bộ, chiến sĩ và lực lượng quần chúng khi làm nhiệm vụ, hướng tới mục tiêu kéo giảm tối thiểu 15% số vụ việc chống đối manh động trên cả nước mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng sau:

  • Thẩm phán, Kiểm sát viên và Điều tra viên: Nắm vững các tiêu chí cấu thành tội phạm, khắc phục triệt để vướng mắc trong việc xác định tư cách pháp lý của người thi hành công vụ, giải quyết chính xác 100% các vụ án có dấu hiệu đan xen giữa vi phạm hành chính và hình sự.
  • Luật sư và Chuyên viên tư vấn pháp lý: Khai thác hệ thống lập luận và 3 vụ án mẫu thực tế để xây dựng phương án bào chữa hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ trong các vụ án hình sự liên quan đến trật tự quản lý hành chính.
  • Giảng viên, Nghiên cứu sinh và Sinh viên ngành Luật: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy, học tập chuyên sâu môn Luật Hình sự phần các tội phạm và môn Khoa học điều tra tội phạm, kế thừa chuỗi dữ liệu 3.728 vụ án để phát triển các đề tài khoa học tiếp theo.
  • Lực lượng thi hành công vụ tại cơ sở: Giúp công an khu vực, cảnh sát giao thông, kiểm lâm, thanh tra giao thông và lực lượng dân phòng nắm chắc quyền hạn pháp lý, nâng cao kỹ năng ứng phó, tự bảo vệ bản thân đúng quy định của pháp luật trong quá trình xử lý vi phạm.

Câu hỏi thường gặp

Người thi hành công vụ theo pháp luật hình sự hiện hành gồm những ai?

Người thi hành công vụ không chỉ giới hạn ở cán bộ, công chức, sĩ quan lực lượng vũ trang mà bao gồm cả viên chức, công dân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền huy động hợp pháp. Điển hình như lực lượng dân phòng, bảo vệ dân phố, thanh niên xung kích thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh trật tự theo kế hoạch đã được phê duyệt.

Bác sĩ giám định y khoa hoặc giám định tâm thần có được coi là người thi hành công vụ không?

Có. Khi các bác sĩ tiến hành khám, giám định theo quyết định trưng cầu của Cơ quan điều tra hoặc Tòa án, họ đang thực hiện hoạt động chuyên môn trực tiếp phục vụ tố tụng hình sự. Hành vi dùng vũ lực cản trở bác sĩ trong trường hợp này cấu thành tội chống người thi hành công vụ theo Điều 257 Bộ luật Hình sự năm 1999 (nay là Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015).

Hành vi tấn công cán bộ công vụ khi họ vừa hoàn thành ca trực và đang trên đường về nhà bị xử lý thế nào?

Nếu hành vi tấn công xuất phát từ lý do công vụ mà người đó vừa thực thi, hành vi này vẫn xâm phạm đến uy tín, hoạt động của cơ quan nhà nước. Tùy thuộc vào mức độ thương tật và động cơ phạm tội, người thực hiện có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích với tình tiết định khung vì lý do công vụ của nạn nhân, hoặc tội chống người thi hành công vụ.

Điểm mới cốt lõi của Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015 so với Điều 257 Bộ luật Hình sự năm 1999 là gì?

Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã chuẩn hóa tình tiết phạm tội nhiều lần thành phạm tội 02 lần trở lên. Đồng thời, luật định lượng rõ ràng tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng thành mức gây thiệt hại về tài sản từ 50.000.000 đồng trở lên, tạo cơ sở rõ ràng cho việc lượng hình của Tòa án.

Dùng vũ lực gây thương tích 3% cho người thi hành công vụ thì bị xử lý theo tội danh nào?

Tội chống người thi hành công vụ có cấu thành hình thức, chỉ cần có hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực là tội phạm đã hoàn thành. Nếu thương tích 3% nhằm mục đích cản trở thi hành công vụ, người phạm tội sẽ bị truy cứu theo điểm a, k khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự về tội cố ý gây thương tích, hoặc bị xử lý theo Điều 330 Bộ luật Hình sự.

Kết luận

  • Luận văn chuẩn hóa hệ thống lý luận về công vụ và người thi hành công vụ, mở rộng diện chủ thể được bảo vệ bao gồm cả lực lượng quần chúng được Nhà nước trao quyền hợp pháp.
  • Phân tích toàn diện 3.728 vụ án xét xử sơ thẩm toàn quốc và 76 vụ án tại tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2011-2015, vạch rõ xu hướng gia tăng 18,2% vào năm 2015.
  • Chỉ rõ những lỗ hổng kỹ thuật lập pháp trong việc lượng hóa tài sản 50.000.000 đồng tại Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015 làm thu hẹp khách thể phi vật chất.
  • Đóng góp 4 nhóm giải pháp thực tiễn từ ban hành Nghị quyết liên tịch, sửa đổi luật đến tập huấn nghiệp vụ cho 100% cán bộ tư pháp cơ sở.
  • Định hướng lộ trình nghiên cứu tiếp theo cần theo dõi thực tiễn áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 trong giai đoạn chuyển tiếp, tạo tiền đề xây dựng cẩm nang định tội danh chuẩn mực cho hệ thống Tòa án nhân dân các cấp.