Tội Chống Người Thi Hành Công Vụ Trong Luật Hình Sự Việt Nam

Chuyên khảo luật học phân tích Tội chống người thi hành công vụ trong luật hình sự việt nam, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2016

88
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Tội Chống Người Thi Hành Công Vụ Định Nghĩa

Quản lý xã hội bằng pháp luật là mục tiêu của mọi nhà nước. Pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội thông qua bộ máy nhà nước. Bên cạnh những thành tựu đổi mới, Việt Nam cũng đối mặt với mặt trái của kinh tế thị trường, sự du nhập văn hóa, tư tưởng, lối sống. Sự phân hóa giàu nghèo, xuống cấp đạo đức làm gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm. Trong 5 năm gần đây (2011-2015), tội phạm đối với người thi hành công vụ gia tăng cả về số lượng và mức độ nghiêm trọng. Điều 257 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thể hiện ý chí của Nhà nước trong việc coi hành vi chống người thi hành công vụtội phạm. Hiện nay, hiện tượng này diễn ra ở nhiều địa phương với tính chất, mức độ nguy hiểm cao, tác động xấu đến xã hội. Bộ luật hình sự năm 2015 (Điều 330) tiếp tục xác định hành vi chống người thi hành công vụtội phạm.

1.1. Định Nghĩa Công Vụ và Vai Trò của Pháp Luật

Công vụ được hiểu theo nhiều phạm vi rộng, hẹp. Theo cách hiểu chung nhất, công vụ là các việc công, thực hiện vì lợi ích chung, lợi ích công cộng, lợi ích xã hội, lợi ích của Nhà nước. Tác giả Vũ Văn Thái cho rằng: “Công vụ là hoạt động công quyền dựa trên cơ sở sử dụng quyền lực công theo quy định của pháp luật”. Nghị quyết 04/HĐTP định nghĩa công vụ là “công việc mà cơ quan Nhà nước hoặc Tổ chức xã hội giao cho một người thực hiện”. Hiện nay, Việt Nam chưa có văn bản nào định nghĩa chính thức về công vụ. Định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi khái niệm công vụ phải “mở”, bao hàm hoạt động của các chủ thể khác khi được Nhà nước “ủy quyền”.

1.2. Khái Niệm Người Thi Hành Công Vụ Theo Pháp Luật

Theo giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội, người thi hành công vụ là người được Nhà nước hoặc xã hội giao cho những nhiệm vụ, quyền hạn trong quản lí lĩnh vực hành chính nhà nước. Theo tác giả Đinh Văn Quế, đó là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao một nhiệm vụ và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ. Mục 2 Nghị quyết 04/HĐTP định nghĩa người thi hành công vụ là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội, thực hiện chức năng, nghiệp vụ của mình.

1.3. Phân Biệt Tội Chống Người Thi Hành Công Vụ và Vi Phạm Khác

Việc xác định hành vi chống người thi hành công vụ là tình tiết định tội của Tội chống người thi hành công vụ hay là tình tiết định khung của các tội danh khác vẫn gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc. Do đó, việc phân biệt ranh giới giữa hành vi chống người thi hành công vụ và các hành vi vi phạm pháp luật khác là vô cùng quan trọng. Cần làm rõ các yếu tố cấu thành tội phạm và các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của Tội chống người thi hành công vụ để đảm bảo áp dụng pháp luật một cách chính xác và hiệu quả.

II. Điều 330 Bộ Luật Hình Sự Các Yếu Tố Cấu Thành Tội Phạm

Để cấu thành tội chống người thi hành công vụ theo Điều 330 Bộ luật Hình sự, cần xem xét các yếu tố: chủ thể, khách thể, mặt khách quan và mặt chủ quan. Chủ thể là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi chống đối. Khách thể là trật tự quản lý hành chính, hoạt động bình thường của người thi hành công vụ. Mặt khách quan thể hiện qua hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc cản trở người thi hành công vụ. Mặt chủ quan thể hiện ý chí cố ý chống đối, cản trở.

2.1. Chủ Thể và Khách Thể của Tội Chống Người Thi Hành Công Vụ

Chủ thể của tội chống người thi hành công vụ là cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự. Người này phải đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật và có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Khách thể của tội chống người thi hành công vụ là trật tự quản lý hành chính nhà nước, cụ thể là hoạt động đúng đắn, bình thường của người thi hành công vụ khi thực hiện nhiệm vụ được giao. Hành vi phạm tội xâm phạm đến hoạt động công vụ, gây khó khăn, cản trở người thi hành công vụ thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.

2.2. Mặt Khách Quan Hành Vi Chống Đối và Mức Độ

Mặt khách quan của tội chống người thi hành công vụ thể hiện qua các hành vi chống đối như: dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện nhiệm vụ. Mức độ của hành vi chống đối phải đủ để gây khó khăn, cản trở hoặc làm mất uy tín của người thi hành công vụ. Các hành vi như xúc phạm, lăng mạ, chửi bới cũng có thể cấu thành tội phạm nếu gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động công vụ.

2.3. Mặt Chủ Quan Ý Chí Chống Đối và Mục Đích

Mặt chủ quan của tội chống người thi hành công vụ thể hiện ở ý chí chống đối của người phạm tội. Người phạm tội phải nhận thức được rằng mình đang có hành vi chống đối lại người thi hành công vụ đang thực hiện nhiệm vụ hợp pháp. Mục đích của hành vi chống đối là nhằm cản trở, gây khó khăn hoặc làm mất uy tín của người thi hành công vụ. Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý, tức là người phạm tội biết hành vi của mình là sai trái, gây nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện.

III. Hướng Dẫn Phân Biệt Kháng Cự Cản Trở Người Thi Hành Công Vụ

Hành vi chống người thi hành công vụ có nhiều dạng: kháng cự người thi hành công vụ, cản trở người thi hành công vụ. Kháng cự người thi hành công vụ là hành động chống trả quyết liệt, không chấp hành yêu cầu. Cản trở người thi hành công vụ là hành động gây khó khăn, làm chậm trễ việc thực hiện nhiệm vụ. Cần phân biệt rõ để xác định đúng tội danh.

3.1. Kháng Cự Người Thi Hành Công Vụ Dấu Hiệu Nhận Biết

Kháng cự người thi hành công vụhành vi trực tiếp chống trả, phản ứng lại người thi hành công vụ khi họ đang thực hiện nhiệm vụ. Dấu hiệu nhận biết là sự chống đối quyết liệt, không chấp hành mệnh lệnh hoặc yêu cầu, có thể sử dụng vũ lực hoặc các phương tiện khác để chống trả. Ví dụ: xô đẩy, đánh đập, ném đá vào người thi hành công vụ.

3.2. Cản Trở Người Thi Hành Công Vụ Các Hình Thức Thường Gặp

Cản trở người thi hành công vụhành vi gây khó khăn, làm chậm trễ hoặc ngăn chặn người thi hành công vụ thực hiện nhiệm vụ. Các hình thức thường gặp bao gồm: gây rối trật tự, che giấu chứng cứ, thông tin sai lệch, không cung cấp thông tin cần thiết, bao che cho người vi phạm. Ví dụ: đám đông tụ tập gây áp lực, cản trở lực lượng chức năng giải tỏa mặt bằng.

3.3. So Sánh Kháng Cự và Cản Trở Mức Độ Nguy Hiểm và Hậu Quả

Mặc dù cả kháng cựcản trở đều là hành vi chống người thi hành công vụ, nhưng mức độ nguy hiểm và hậu quả của chúng có sự khác biệt. Kháng cự thường mang tính chất trực tiếp, bạo lực hơn, gây nguy hiểm trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của người thi hành công vụ. Cản trở thường mang tính chất gián tiếp, gây khó khăn, chậm trễ cho việc thực hiện nhiệm vụ. Việc đánh giá mức độ nguy hiểm và hậu quả của từng hành vi là cơ sở để xác định tội danh và khung hình phạt phù hợp.

IV. Bí Quyết Xác Định Hành Vi Chống Đối Định Khung Tội Khác

Đôi khi, hành vi chống đối người thi hành công vụ không cấu thành tội chống người thi hành công vụ mà là tình tiết định khung tăng nặng của tội khác (ví dụ: gây rối trật tự công cộng). Cần xem xét mục đích, động cơ, hậu quả của hành vi để xác định chính xác.

4.1. Khi Nào Hành Vi Chống Đối Trở Thành Tình Tiết Định Khung

Hành vi chống đối người thi hành công vụ có thể trở thành tình tiết định khung tăng nặng của một tội khác nếu nó xảy ra trong quá trình thực hiện tội phạm đó và làm tăng tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Ví dụ: trong quá trình gây rối trật tự công cộng, người phạm tội có hành vi chống đối lực lượng công an đang làm nhiệm vụ giải tán đám đông.

4.2. Các Yếu Tố Cần Xem Xét Để Xác Định Đúng Tội Danh

Để xác định đúng tội danh trong trường hợp có hành vi chống đối người thi hành công vụ, cần xem xét các yếu tố sau: mục đích của hành vi, mối quan hệ giữa hành vi chống đối và tội phạm chính, hậu quả do hành vi gây ra. Nếu mục đích chính là chống đối người thi hành công vụ, thì cấu thành tội chống người thi hành công vụ. Nếu hành vi chống đối chỉ là phương tiện để thực hiện một tội phạm khác, thì có thể là tình tiết định khung tăng nặng.

4.3. Ví Dụ Minh Họa và Phân Tích Án Lệ Điển Hình

Cần nghiên cứu các ví dụ minh họa và phân tích án lệ điển hình để hiểu rõ hơn về việc phân biệt tội chống người thi hành công vụ và các tội khác có liên quan. Các án lệ này sẽ cung cấp các tiêu chí, nguyên tắc để xác định đúng tội danh và áp dụng pháp luật một cách chính xác.

V. Thực Tiễn Xét Xử Tội Chống Người Thi Hành Công Vụ Bài Học

Thực tiễn xét xử tội chống người thi hành công vụ còn nhiều bất cập. Việc xác định hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đôi khi chưa thống nhất. Mức án dành cho tội phạm này cũng có sự khác biệt giữa các địa phương. Cần tổng kết thực tiễn để rút ra bài học kinh nghiệm.

5.1. Tổng Quan Tình Hình Xét Xử và Xu Hướng Gia Tăng

Tình hình xét xử tội chống người thi hành công vụ cho thấy xu hướng gia tăng về số lượng vụ án và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội. Điều này đặt ra yêu cầu cần tăng cường công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý nghiêm minh các hành vi chống đối, nhằm bảo vệ người thi hành công vụ và trật tự an toàn xã hội.

5.2. Những Khó Khăn Vướng Mắc Trong Quá Trình Điều Tra Xét Xử

Quá trình điều tra, xét xử tội chống người thi hành công vụ gặp phải một số khó khăn, vướng mắc như: xác định chính xác hành vi phạm tội, thu thập chứng cứ, đánh giá lời khai của các bên liên quan, xác định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng để giải quyết các khó khăn, vướng mắc này.

5.3. Phân Tích Các Bản Án và Sự Khác Biệt Trong Quyết Định Hình Phạt

Phân tích các bản án về tội chống người thi hành công vụ cho thấy có sự khác biệt trong quyết định hình phạt giữa các tòa án và các địa phương. Điều này có thể do nhiều yếu tố như: quan điểm của thẩm phán, tình hình an ninh trật tự tại địa phương, áp lực từ dư luận. Cần có sự thống nhất trong áp dụng pháp luật để đảm bảo tính công bằng, minh bạch.

VI. Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Tội Chống Người THCV

Để nâng cao hiệu quả đấu tranh với tội chống người thi hành công vụ, cần hoàn thiện các quy định pháp luật, nâng cao năng lực của người thi hành công vụ, tăng cường tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong cộng đồng.

6.1. Sửa Đổi Bổ Sung Các Quy Định Còn Bất Cập Chồng Chéo

Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về tội chống người thi hành công vụ để đảm bảo tính rõ ràng, cụ thể, dễ áp dụng. Đồng thời, cần loại bỏ các quy định còn bất cập, chồng chéo, gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

6.2. Nâng Cao Năng Lực và Đạo Đức Của Người Thi Hành Công Vụ

Cần nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng giao tiếp, ứng xử của người thi hành công vụ. Đồng thời, cần chú trọng giáo dục đạo đức công vụ, xây dựng đội ngũ người thi hành công vụ liêm khiết, tận tụy, trách nhiệm, hết lòng phục vụ nhân dân.

6.3. Tăng Cường Tuyên Truyền Giáo Dục Pháp Luật Trong Cộng Đồng

Cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục pháp luật về tội chống người thi hành công vụ trong cộng đồng, nâng cao nhận thức của người dân về quyền và nghĩa vụ của mình, cũng như hậu quả của hành vi chống đối. Đồng thời, cần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật, tạo sự đồng thuận trong xã hội về việc bảo vệ người thi hành công vụ và trật tự an toàn xã hội.

27/05/2025
Tội chống người thi hành công vụ trong luật hình sự việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Luận văn bao gồm 02 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về tội chống ngƣời thi hành công vụ. Chƣơng 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội chống ngƣời thi hành công vụ và các kiến nghị. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỘI CHỐNG NGƢỜI THI HÀNH CÔNG VỤ 1.1 Khái niệm công vụ, ngƣời thi hành công vụ và tội chống ngƣời thi hành công vụ 1. Khái niệm công vụ Công vụ là một thuật ngữ luôn đƣợc xem xét, đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau nên do vậy, công vụ cũng đƣợc hiểu theo các phạm vi rộng, hẹp khác nhau.

Theo cách hiểu chung nhất, công vụ trƣớc hết là các việc công, các việc này đƣợc thực hiện vì lợi ích chung, lợi ích công cộng, lợi ích xã hội, lợi ích của Nhà nƣớc. Hoặc theo quan điểm của tác giả Vũ Văn Thái thì: “Công vụ là hoạt động công quyền dựa trên cơ sở “sử dụng quyền lực công” theo quy định của pháp luật; chịu sự chi phối, điều chỉnh của nền hành chính công; nó có tính tổ chức cao và tuân theo những quy ch bắt buộc theo quy định của pháp luật hoặc người có thẩm quyền”.1 Tại Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng Th m phán Tòa án nhân dân Tối cao hƣớng dẫn áp dụng Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 1985 về tội giết ngƣời đã đƣa ra định nghĩa về Công vụ nhƣ sau: “Công vụ là một công việc mà cơ quan Nhà nƣớc hoặc Tổ chức xã hội giao cho một ngƣời thực hiện”. Ở nƣớc ta, cho đến hiện nay, vẫn chƣa có bất kỳ một văn bản quy phạm pháp luật nào đƣa ra khái niệm mang tính chính thống về “công vụ”. Tuy nhiên, với quan niệm công vụ là một hoạt động do công chức thực hiện nhân danh quyền lực Nhà nƣớc, do vậy một thời gian khá dài, chúng ta vẫn thƣờng nhắc đến Nhà nƣớc đơn thuần với chức năng quản lý dựa trên cơ sở quyền lực - quyền uy, mệnh lệnh - phục tùng.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, trên cơ sở định hƣớng xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân thì vai trò, chức năng và nhiệm vụ Nhà nƣớc của nƣớc ta đã có nhiều thay đổi, trong đó nhiệm vụ cung ứng các dịch vụ công chuyển dịch mạnh mẽ theo hƣớng phục vụ nhân dân. Từ cách nhìn và tƣ duy có sự thay đổi về vai trò, chức năng và nhiệm vụ của Nhà nƣớc, nhu cầu về một khái niệm Công vụ mang tính chính thống ngày càng trở nên cấp thiết và 1 Vũ Văn Thái (2016), “Công vụ và cải cách công vụ trong điều kiện Nhà nước chuyển đổi phát triển”, Trang thông tin điện tử - Ban chỉ đạo Trung ƣơng về đ y mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức.aspx/vi/News/71/0/1010103/0/5668/, truy cập ngày 19/10/2016. 8 khái niệm công vụ đó phải là một khái niệm “mở”, không nên coi công vụ đơn thuần chỉ là các hoạt động nhân danh quyền lực Nhà nƣớc mà còn phải bao hàm các hoạt động của các chủ thể khác khi đƣợc Nhà nƣớc “ủy quyền”. Từ những quan điểm nêu trên, chúng ta có thể thấy “công vụ” là một khái niệm rộng về phạm vi và quan trọng về ý nghĩa trong nền hành chính Nhà nƣớc.

Nói đến công vụ là nói đến hoạt động của Nhà nƣớc với nhiều yếu tố hợp thành nhƣ: thể chế công vụ, đội ngũ công chức, các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Nhà nƣớc… Từ thực tiễn nƣớc ta hiện nay chƣa có một khái niệm chính thống về “công vụ”, với đặc điểm tình hình kinh tế - chính trị - xã hội của nƣớc ta hiện nay và xu thế hội nhập phát triển chung của thế giới, tác giả xin đƣợc đƣa ra khái niệm về công vụ nhƣ sau: “Công vụ là một loại hoạt động mang tính quyền lực - pháp lý được thực thi bởi đội ngũ Cán bộ, Công chức Nhà nước hoặc những người khác khi được Nhà nước trao quyền nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong quá trình quản lý toàn diện các hoạt động của đời sống xã hội. Khái niệm người thi hành công vụ Theo giáo trình của Trƣờng Đại học Luật Hà Nội thì: “Người thi hành công vụ là người được Nhà nước hoặc xã hội giao cho những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định trong quản lí lĩnh vực hành chính nhà nước nhất định (cán bộ thu , cảnh sát giao thông, đội viên dân phòng…)”.2 Theo tác giả Đinh Văn Quế thì: “Người thi hành công vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao một nhiệm vụ và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ”.3 Dƣới góc độ Hình sự, tại mục 2 Chƣơng 2 Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng th m phán Tòa án nhân dân tối cao về “hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự” thì ngƣời thi hành công vụ đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Người thi hành công vụ là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội, thực hiện chức năng, nghiệp vụ của mình và cũng có thể là những công dân được huy động làm nghiệp 2 Đại học Luật Hà Nội (2007), iáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập 2, Nxb Công an nhân dân, tr. 3 Đinh Văn Quế (2005), Bình luận khoa h c bộ luật hình sự - phần các tội phạm, Tập VIII (bình luận chuyên sâu), Nxb tổng hợp thành phố Hồ Chi Minh, tr. 9 vụ (như: tuần tra, canh gác…) theo k hoạch của cơ quan có thẩm quyền, phục vụ lợi ích chung của nhà nước, của xã hội”.

Bên cạnh Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng th m phán Tòa án nhân dân tối cao nêu trên, trong các lĩnh vực khác song song tồn tại các văn bản pháp luật quy định về “Ngƣời thi hành công vụ” nhƣ: - Khoản 1 Điều 3 Luật trách nhiệm bồi thƣờng nhà nƣớc năm 2009 quy định nhƣ sau: “Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan Nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án hoặc người khác được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đ n hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án”. So với Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng th m phán Tòa án nhân dân tối cao, thì định nghĩa về ngƣời thi hành công vụ nêu trên đã loại bỏ bớt một “dạng” chủ thể đó là những ngƣời đang làm việc trong các tổ chức xã hội. Nhƣ vậy, ngƣời thi hành công vụ theo Luật trách nhiệm bồi thƣờng nhà nƣớc năm 2009 có phạm vi hẹp hơn so với Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng th m phán Tòa án nhân dân tối cao. - Khoản 1 Điều 3 của Nghị định 208/2013/NĐ-CP/2013/NĐ-CP ngày 17/12/2013 của Chính phủ quy định các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi chống ngƣời thi hành công vụ (Nghị định 208/2013/NĐ-CP/2013/NĐ-CP) quy định: “Người thi hành công vụ là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, chi n sĩ thuộc lực lượng vũ trang nhân dân được cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích Nhà nước, nhân dân và xã hội”.

Định nghĩa về ngƣời thi hành công vụ theo Nghị định 208/2013/NĐ- CP/2013/NĐ-CP nêu trên đƣợc ban hành khi Luật công chức, viên chức đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, khi đã đƣợc coi là công chức, viên chức thì đƣơng nhiên các chủ thể này đã đƣợc bầu cử, phê chu n, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào các cơ quan nhà nƣớc hoặc các tổ chức. Bên cạnh đó, ngƣời thi hành công vụ theo quy định tại Nghị định 208/2013/NĐ-CP còn mở rộng thêm đến các chủ thể là “sĩ quan, hạ sĩ quan, chi n sĩ thuộc lực lượng vũ trang nhân dân”. Tuy nhiên, định nghĩa này lại 10 loại bỏ một “dạng” chủ thể đó là những công dân đƣợc cơ quan nhà nƣớc hoặc ngƣời có th m quyền huy động để thực hiện công vụ.

Từ những khái niệm, định nghĩa theo các quy định nêu trên, để xác định thế nào là Ngƣời thi hành công vụ thì cần phải đảm bảo cả ba khía cạnh sau: a. Về chủ thể Ngƣời thi hành công vụ phải là ngƣời có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan nhà nƣớc, tổ chức xã hội hoặc cũng có thể là một công dân bất kỳ đƣợc cơ quan nhà nƣớc có th m quyền huy động, giao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật. Trên thực tế có ý kiến cho rằng Nghị định 208/2013/NĐ-CP/2013/NĐ-CP đã đƣa thêm các chủ thể là “viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, chi n sĩ” vào nhóm ngƣời thi hành công vụ và nhƣ vậy là có sự mâu thuẫn về chủ thể ngƣời thi hành công vụ so với Luật trách nhiệm bồi thƣờng nhà nƣớc năm 2009. Do đó, căn cứ vào Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thì phải ƣu tiên theo các quy định của Luật trách nhiệm bồi thƣờng Nhà nƣớc năm 2009.

Theo quan điểm của tác giả, thì ý kiến này là không chính xác vì theo khoản 1 Điều 3 Luật trách nhiệm bồi thƣờng nhà nƣớc năm 2009 thì ngoài nhóm chủ thể “người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm” thì còn có trƣờng hợp là “người khác” nhƣng “…được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đ n hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án”. Nhƣ vậy, Nghị định 208/2013/NĐ-CP và Luật trách nhiệm bồi thƣờng nhà nƣớc không hề có sự mâu thuẫn. Tuy nhiên, Nghị định 208/2013/NĐ-CP đã loại bỏ bớt một “dạng” chủ thể khi không quy định những công dân đƣợc cơ quan nhà nƣớc hoặc ngƣời có th m quyền huy động để thực hiện công vụ là ngƣời thi hành công vụ, quy định này đã làm hẹp phạm vi những đối tƣợng đƣợc coi là ngƣời thi hành công vụ so với Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng th m phán Tòa án nhân dân tối cao cũng nhƣ Luật trách nhiệm bồi thƣờng nhà nƣớc năm 2009.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Tội Chống Người Thi Hành Công Vụ Trong Luật Hình Sự Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định pháp lý liên quan đến tội phạm chống lại người thi hành công vụ, một vấn đề quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Tài liệu này không chỉ phân tích các khía cạnh pháp lý mà còn nêu bật những hậu quả nghiêm trọng của hành vi này đối với xã hội và trật tự công cộng. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về cách thức xử lý các vụ việc liên quan, cũng như những biện pháp phòng ngừa cần thiết để bảo vệ người thi hành công vụ.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề pháp lý liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm bảo vệ quyền con người ở việt nam hiện nay, nơi bàn về quyền con người và sự bảo vệ của pháp luật. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học áp dụng pháp luật trong giai đoạn xét xử các tội xâm phạm sở hữu từ thực tiễn toà án nhân dân thành phố hà nội sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quy trình xét xử các tội phạm liên quan. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm cung cấp cái nhìn về quy trình kiểm sát trong các vụ án dân sự, một khía cạnh quan trọng trong việc bảo đảm công lý. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về hệ thống pháp luật và các vấn đề liên quan.