Chương 1 như sau: “Người thi hành công vụ là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân được cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của Nhà nước, nhân dân và xã hội”. Như vậy, các quy định nêu trên cùng với các quy định khác về cán bộ, công chức và viên chức thì để xác định người thi hành công vụ phải xét ở hai khía cạnh: Thứ nhất, về chủ thể, người thi hành công vụ phải là cán bộ công chức, viên chức của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội hoặc cũng có thể là một công dân bất kỳ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền huy động, yêu cầu thực hiện nhiệm vụ. Thứ hai, về phạm vi nhiệm vụ thực hiện, chỉ có thể được coi là thi hành công vụ khi công việc mà họ làm phải là thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, các tổ chức nhằm phục vụ lợi ích chung của nhà nước, của xã hội [16, tr. * Khái niệm chống người thi hành công vụ Theo từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam năm 2005, thì chống người thi hành công vụ được hiểu là “Hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật” [27, tr.
Nghị định số 208/2013/NĐ-CP quy định các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi chống người thi hành công vụ lý giải: Hành vi chống người thi hành công vụ là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc không chấp hành hiệu lệnh, yêu cầu của người thi hành công vụ hoặc có hành vi khác nhằm cản trở người thi hành công vụ thực hiện nhiệm vụ được giao hoặc ép buộc người thi hành công vụ không thực hiện nhiệm vụ được giao. Căn cứ nội dung Điều 8 Bộ luật Hình sự quy định về khái niệm tội phạm, đồng thời căn cứ vào các nội dung đã phân tích ở trên có thể đưa ra khái niệm về tội 8 phạm chống người thi hành công vụ như sau: Chống người thi hành công vụ là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng những thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật [33, tr. * Khái niệm tình hình tội phạm Tình hình tội phạm (THTP) là một thuật ngữ đặc thù của tội phạm học. Trong khoa học tội phạm học, tình hình tội phạm là khái niệm cơ bản, cơ sở đầu tiên, có tính chất là tiền đề cho các khái niệm về tình hình tội phạm cụ thể.
Khái niệm tình hình tội phạm được hình thành bằng cách chuyển mức độ nhận thức từ sự kiện, hành vi và khái niệm tội phạm đơn nhất đến một khái niệm chung hơn, khái quát hơn, phức tạp hơn là tình hình tội phạm, tức là đi từ mức độ nhận thức thấp đến mức độ nhận thức cao hơn, khái quát những nhận thức đã đạt được [31, tr. Theo quan điểm của GS. TS Võ Khánh Vinh thì “Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội, pháp lý - hình sự được thay đổi về mặt lịch sử, mang tính chất giai cấp bao gồm tổng thể thống nhất (hệ thống) các tội phạm thực hiện trong một xã hội (quốc gia) nhất định và trong một khoảng thời gian nhất định” [31, tr. Khái niệm THTP có giá trị áp dụng đối với tất cả các loại tội phạm cụ thể trong đó có tội chống người thi hành công vụ.
Từ khái niệm trên có thể hiểu rằng: Tình hình tội phạm CNTHCV là một hiện tượng xã hội, pháp lý - hình sự, bị tác động và thay đổi về mặt lịch sử, mang tính giai cấp, bao gồm tổng thể các tội phạm CNTHCV thực hiện trên một địa bàn nhất định và trong một khoảng thời gian xác định. Đặc điểm và ý nghĩa của tình hình tội chống người thi hành công vụ Trên cơ sở nghiên cứu các đặc điểm của tình hình tội phạm có thể hiểu tình hình tội chống người thi hành công vụ có những đặc điểm sau: * Tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ là hiện tượng xã hội Tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ được hình thành từ những hành vi xã hội (hành vi chống người thi hành công vụ) được luật hình sự xem là tội 9 phạm và do những cá nhân sống trong xã hội thực hiện dưới tác động qua lại của nhiều mối quan hệ xã hội, trong đó có những mối quan hệ xã hội tiêu cực làm phát sinh hành vi chống người thi hành công vụ. Tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ không thể tồn tại được ngoài xã hội, nó có tác động tiêu cực đến đời sống xã hội, phá vỡ những giá trị xã hội. Tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ sẽ thay đổi và mất đi cùng với sự thay đổi của các hiện tượng xã hội như: Tâm lý tư tưởng, kinh tế chính trị.
Nghiên cứu đặc điểm này mang lại những giá trị về mặt nhận thức và thực tiễn cụ thể: Khi nghiên cứu về tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ phải dựa vào các điều kiện của đời sống xã hội, vào các quá trình, hiện tượng xã hội khác mà đánh giá, nhận xét, giải thích; phải nghiên cứu nó trong mối liên hệ với thực tại khách quan, với các hiện tượng, quá trình xã hội khác để có một nhận thức đúng đắn về tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ giúp chúng ta có cơ sở đề ra các biện pháp tác động phòng ngừa phù hợp. Nghĩa là, khi giải thích về quy luật phát sinh, phát triển của tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ phải luôn xuất phát từ những hiện tượng xã hội tồn tại trong sự tác động lẫn nhau với tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ. Do đó, công tác phòng ngừa tội phạm chống người thi hành công vụ phải sử dụng các giải pháp xã hội tác động đến các quan hệ xã hội. * Tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ là một hiện tượng pháp lý, hình sự Tội chống người thi hành công vụ được quy định trong Bộ luật hình sự Việt Nam, những hành vi chống người thi hành công vụ là những hành vi bị luật hình sự cấm đoán bằng việc đe dọa áp dụng hình phạt.
Tính pháp lý của tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ là dấu hiệu mang tính hình thức nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng khi nghiên cứu và đánh giá về tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ nói chung trong xã hội, cho phép chúng ta có thể phân biệt được hành vi chống người thi hành công vụ với các hành vi khác như: Cố ý gây thương tích, giết người. 10 Nghiên cứu đặc điểm này có ý nghĩa: Việc đánh giá tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ phải lưu ý đặc điểm pháp luật hình sự, cần phải dựa vào những quy định của luật hình sự về tội phạm chống người thi hành công vụ. Việc hoàn thiện những quy định của pháp luật hình sự về tội phạm này cũng được xem là biện pháp tăng cường hiệu quả phòng chống tội chống người thi hành công vụ trong xã hội. * Tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ là hiện tượng mang tính giai cấp Tình hình tội phạm không phải là hiện tượng có trong mọi xã hội mà nó chỉ ra đời khi xã hội có sự phân chia giai cấp.
Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội gắn liền với xã hội có giai cấp. Với tư cách là tình hình của một tội phạm cụ thể, tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ cũng hội tụ đầy đủ các đặc điểm của tình hình tội phạm, theo đó, tính giai cấp là một trong những đặc điểm của tình hình tội chống người thi hành công vụ. Thể hiện: Thứ nhất, Bộ Luật hình sự là sản phẩm của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp và tội chống người thi hành công vụ được quy định tại điều 330 - BLHS nâm 2015. Thứ hai, tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ xuất hiện trong xã hội có giai cấp cùng với sự xuất hiện của sở hữu tư nhân, của giai cấp đối kháng, mâu thuẫn về quyền lợi.
Thứ ba, mỗi giai cấp thống trị khác nhau đều quy định những nhóm hành vi phạm tội khác nhau và các biện pháp trừng trị các hành vi đó cũng khác nhau nhằm bảo vệ lợi ích giai cấp và sự thống trị của mình. Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định hành vi chống người thi hành công vụ là tội phạm để có biện pháp trừng trị phù hợp nhằm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân. Nghiên cứu đặc điểm này có ý nghĩa: Khi nghiên cứu về tình hình tội phạm nói chung và tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ nói riêng thì phải xem xét nó trong sự tương quan về lợi ích của các giai cấp trong xã hội, phòng ngừa 11 tội phạm phải kết hợp với đấu tranh giai cấp và giảm thiểu những xung đột và mâu thuẫn trong xã hội. * Tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ là hiện tượng thay đổi theo quá trình lịch sử.
Tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ không phải là hiện tượng bất biến trong xã hội mà nó có sự thay đổi trong những điều kiện lịch sử nhất định. Tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ có thể thay đổi tùy thuộc vào sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội khác nhau trong lịch sử, và ngay trong cùng một hình thái kinh tế xã hội nếu có sự thay đổi về cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội, cơ cấu giai cấp thì tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ cũng có sự thay đổi. Số lượng các hành vi bị coi là tội phạm chống người thi hành công vụ trong những giai đoạn lịch sử khác nhau có sự khác nhau.