MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Xã hội hiện nay ngày một phát triển và hiện đại, bên cạnh những mặt tích cực nhƣ kinh tế đất nƣớc ngày càng phát triển, nhận thức của ngƣời dân ngày càng đƣợc nâng cao, an ninh chính trị và an toàn xã hội đƣợc giữ vững, song bên cạnh đó xã hội vẫn còn tồn tại một số hiện tƣợng tiêu cực, một trong số đó là tình hình tội phạm ngày một tăng với chiều hƣớng phức tạp. Bên cạnh một bộ phận ngƣời dân thực hiện tốt nghĩa vụ tố giác tội phạm với cơ quan có thẩm quyền góp phần đảm bảo an ninh, trật tự xã hội, còn có một bộ phận không nhỏ do không am hiểu pháp luật hoặc có hiểu biết nhƣng vì tình cảm nên đã cố tình che giấu hoặc không tố giác tội phạm, dẫn đến hậu quả khó lƣờng. Vấn đề này càng trở nên nhức nhối khi những năm qua liên tục xảy ra những vụ trọng án gây chấn động dƣ luận có liên quan đến hai tội danh này, điển hình là: vụ án Lê Văn Luyện giết ngƣời cƣớp tài sản tiệm vàng tại Bắc Giang, vụ án Dƣơng Chí Dũng tham nhũng tại Vinalines, hay vài vụ giết lái xe Kiều Hồng Thành tại Hà Nội, … Vài năm gần đây các vụ án tham nhũng đang đƣợc Đảng, Nhà nƣớc và ngƣời dân đặc biệt quan tâm cũng có liên quan đến hai tội danh này.
Đáng buồn thay, trong số đó có cả những cá nhân giữ các chức vụ, trọng trách cao trong bộ máy nhà nƣớc, am hiểu pháp luật nhƣng vẫn vi phạm. Gần đây là những vụ án về tham nhũng lớn trong đó có những ngƣời vì lợi ích cá nhân, vụ lợi mà có hành vi che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm với các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền. Hiến pháp nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định các quyền và nghĩa vụ của công dân, của các cơ quan và tổ chức. Những ngƣời nào có hành vi xâm phạm đến các quyền và lợi ích của công dân, của tổ chức đều bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Bộ luật hình sự (BLHS) có nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nƣớc, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội đồng thời giáo dục mọi ngƣời ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. 1 Tuy nhiên, hành vi che giấu tội phạm và không tố giác tội phạm đã và đang diễn ra, gây cản trở không nhỏ đến hoạt động phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử các loại tội phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng đã trở thành mối quan tâm, lo ngại của toàn xã hội. Tội che giấu tội phạm và tội không tố giác tội phạm không những xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan tiến hành tố tụng, gây khó khăn cho công tác phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử nhằm xử lý ngƣời phạm tội và tội phạm, dẫn tới sai lệch, không đáp ứng đƣợc đúng các thời hạn tố tụng theo quy định của pháp luật, ảnh hƣởng đến việc giữ chuẩn mực cán bộ công lý, làm mất uy tín của Đảng và Nhà nƣớc ta, mà còn có ảnh hƣởng xấu, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Thực tiễn xét xử, điều tra, truy tố trong những năm gần đây cho thấy, một số không ít những cá nhân trong xã hội không những không làm tròn nghĩa vụ của công dân, thực hiện đấu tranh phòng, chống tội phạm, trái lại có hành vi che giấu, chứa chấp, nuôi dƣỡng, cung cấp các điều kiện vật chất cho ngƣời phạm tội để họ trốn tránh khỏi sự phát hiện của các cơ quan chức năng, không tố giác tội phạm.
Thậm chí, một số ngƣời là cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nƣớc, cơ quan tƣ pháp đã có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để cản trở phát hiện, điều tra, xử lý ngƣời phạm tội, dùng quyền hành khống chế ngƣời phát hiện tội phạm, không chịu cung cấp tài liệu có liên quan đến vụ án hình sự, có hành vi che giấu tội phạm gây khó khăn cho hoạt động xử lý ngƣời phạm tội. Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội che giấu tội phạm và tội không tố giác tội phạm cũng đặt ra một số vấn đề vƣớng mắc, đòi hỏi khoa học pháp lý phải nghiên cứu, giải quyết nhƣ khái niệm, những dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trƣng của tội che giấu tội phạm và tội không tố giác tội phạm, nguyên nhân và các giải pháp đấu tranh phòng, chống tội che giấu tội phạm và tội không tố giác tội phạm. Về mặt lý luận, xung quanh vấn đề quy định tội che giấu tội phạm và tội không tố giác tội phạm, còn nhiều quan điểm khác nhau cần phải đƣợc nghiên cứu để phục vụ các yêu cầu của thực tiễn. Ngoài ra trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tội che giấu tội phạm và tội không tố giác tội phạm cũng đã có nhiều hạn chế và vƣớng mắc đòi hỏi khoa học pháp lý phải nghiên cứu, giải quyết nhƣ khái niệm, 2 những dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trƣng của tội che giấu tội phạm và tội không tố giác tội phạm, thực tiễn áp dụng, … để từ đó đƣa ra những giải pháp, kiến nghị hoàn thiện quy định của BLHS Việt Nam năm 2015 về tội che giấu tội phạm và tội không tố giác tội phạm.
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Tội che giấu tội phạm và tội không tố giác tội phạm theo luật hình sự Việt Nam” mang tính cấp thiết, không những về lý luận, mà còn đòi hỏi cả về thực tiễn hiện nay. Tình hình nghiên cứu đề tài Quá trình nghiên cứu, tác giả nhận thấy một số công trình, luận văn, bài viết của một số tác giả đã đề cập đến nội dung quy định về tội che giấu tội phạm và tội không tố giác tội phạm dƣới góc độ pháp lý hình sự. Các công trình, luận văn, bài viết này đề cập đến những mức độ, khía cạnh, phƣơng diện khác nhau. Cụ thể là các công trình, bài viết sau đây: - Nguyễn Xuân Hà (2006), Che giấu tội phạm – một số khía cạnh pháp lý hình sự và tội phạm học, Luận văn thạc sĩ, Hà Nội; - Phùng Quang Huy (2006), Tội không tố giác tội phạm – một số khía cạnh pháp lý hình sự và tội phạm học, Luận văn thạc sĩ, Hà Nội; - Phan Thị Mai Anh (2015), Tội che giấu tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Hà Nội; - Dƣơng Tiến Mạnh (2015), Kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Hà Nội; - Hồ Mạnh Hà (2016), Trách nhiệm hình sự đối với tội không tố giác tội phạm trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Hà Nội; - Hồ Thị Thùy Dung (2017), Chế định che giấu tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Hà Nội; - Nguyễn Quang Hoà (2017), Thủ tục tiếp nhận, giải quyết tin tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam - Trên cơ sở thực tiễn tỉnh Phú Thọ, Luận văn thạc sĩ, Hà Nội; - Ngô Long Khánh (2017), Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp 3 nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố - Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thái Bình, Luận văn thạc sĩ, Hà Nội; - Nguyễn Mai Trang (05/2017), Ban Nội chính Trung ƣơng, Pháp luật về bảo vệ người tố cáo của một số nước trên thế giới, Thƣ viện Quốc hội, Chuyên đề “Pháp luật về bảo vệ người tố cáo một số nước trên thế giới”, Hà Nội; - Cao Thị Hằng Hà (2018), Tội không tố giác tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Hà Nội; - Duy Linh, Về hành vi “không tố giác tội phạm” và đề xuất phát triển án lệ; - Đỗ Minh Tuấn (2018), Giải pháp nâng cao chất lượng giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và chống oan, sai, VKSND Thành phố Hà Nội, Hà Nội; - Nguyễn Khánh Toàn (2019), Tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế - Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng, Luận văn thạc sĩ, Hà Nội; - Trần Thu Hạnh (2019), Những quy định mới về việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và một số kiến nghị hoàn thiện, VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol.
Các công trình, bài viết trên chỉ đề cập đến một số khía cạnh pháp lý của từng tội nhƣng mỗi công trình, bài viết vẫn còn tồn tại một số hạn chế, khó khăn, vƣớng mắc do sự bất cập của BLHS cũ nên chƣa có sự cập nhật những cái mới nhất về quy định trong BLHS mới đối với hai tội này trong tình hình hội nhập quốc tế hiện nay của Việt Nam, từ đó, so sánh với một số nƣớc trên thế giới để chắt lọc kinh nghiệm áp dụng đối với pháp luật hình sự Việt Nam. Vì vậy, các quy định về tội che giấu tội phạm và tội không tố giác tội phạm vẫn là nội dung cần đƣợc tiếp tục hoàn thiện, làm sáng tỏ về cả mặt lý luận và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay bằng một đề tài nghiên cứu hoàn chỉnh. Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu 3. Mục đích nghiên cứu Luận văn nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ những nội dung cơ bản quy định về tội che giấu tội phạm và tội không tố giác tội phạm trong pháp luật hình sự Việt 4 Nam (về lý luận, lịch sử, về so sánh và về xã hội học).
Từ đó đƣa ra kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng vào thực tiễn các quy định về tội che giấu tội phạm và tội không tố giác tội phạm và học hỏi kinh nghiệm từ một số nƣớc trên thế giới về quy định hai tội này trong Luật hình sự Việt Nam. Ngoài ra, luận văn cũng hƣớng tới việc xây dựng một tài liệu tham khảo có giá trị về lý luận và thực tiễn áp dụng quy định về tội che giấu tội phạm và tội không tố giác tội phạm trong luật hình sự Việt Nam.