CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỐNG ĐẠT, THÔNG BÁO VĂN BẢN TỐ TỤNG CHO ĐƯƠNG SỰ Ở NƯỚC NGOÀI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1. Khái niệm và đặc điểm tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài trong giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình 1. Khái niệm tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài trong giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình Để định nghĩa như thế nào là hoạt động tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài trong giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình, trước hết cần xem xét một số khái niệm sau đây: - Khái niệm “tranh chấp” Từ điển Tiếng Việt định nghĩa tranh chấp là “tranh giành nhau một cách giằng co cái không rõ về bên nào” hoặc “đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là vấn đề quyền lợi của hai bên”. Tra cứu định nghĩa tại từ điển Black’s Law Dictionary do West Pub Co xuất bản năm 1999 thì tranh chấp là “a conflict or controversy; a conflict of claims or rights; an assertion of a right, claim, or demand on one side, met by contrary claims or allegations on the other”, dịch nghĩa sang Tiếng Việt thì “tranh chấp là mâu thuẫn, bất đồng; sự mâu thuẫn về các yêu cầu hay quyền; sự đòi hỏi về quyền, yêu cầu hay đòi hỏi từ một bên được đáp lại bởi một yêu cầu hay lập luận trái ngược của bên kia”2.
Tác giả Nguyễn Thị Mơ thì cho rằng “Tranh chấp là khái niệm dùng để chỉ những bất đồng, những mâu thuẫn hay những xung đột về một lợi ích nhất định mang tính đối kháng mà khi phát sinh các bên có liên quan không thể dung hòa 2 Bản dịch tại: Trần Thị Thúy (2014), ‘Giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam’, luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, trang 16 10 được, đòi hỏi phải có phương cách giải quyết thỏa đáng để bảo vệ lợi ích của mình”3. Tác giả đồng ý với quan điểm này. - Khái niệm “tranh chấp hôn nhân gia đình” Khác với các yêu cầu về hôn nhân gia đình là công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý, trong các vụ án hôn nhân gia đình có sự tranh chấp về quyền và nghĩa vụ4. BLTTDS năm 2015 không định nghĩa như thế nào là tranh chấp hôn nhân gia đình, tuy nhiên tại Điều 28 của Bộ luật này có liệt kê những tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án như sau: (1) Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn (khoản 1 Điều 28 BLTTDS năm 2015): Trong các tranh chấp về hôn nhân gia đình, loại tranh chấp điển hình là vụ án ly hôn đồng thời có tranh chấp cả về việc nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.
Như vậy, tồn tại ba quan hệ tranh chấp là quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi con chung, quan hệ chia tài sản, trong đó quan hệ hôn nhân giữ vai trò chi phối. Tranh chấp về nuôi con là khi các bên không thống nhất được ai là người có trách nhiệm trực tiếp nuôi con, ai là người có nghĩa vụ cấp dưỡng, mức cấp dưỡng và thời gian cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn. Chia tài sản khi ly hôn là do đương sự không có sự thống nhất về việc chia tài sản, phân chia các quyền hoặc nghĩa vụ về tài sản. Ngoài ra, khi ly hôn, nếu đương sự không yêu cầu giải quyết chia tài sản hoặc chỉ yêu cầu giải quyết một phần, thì sau khi đã ly hôn, đương sự có quyền khởi kiện vụ án chia tài sản sau khi ly hôn.
(2) Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (Khoản 2 Điều 28 BLTTDS năm 2015) Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là tranh chấp khi mối quan hệ hôn nhân của vợ chồng vẫn đang tồn tại. Khi giữa vợ và 3 Nguyễn Thị Mơ (2006), ‘Nhận dạng các loại hình tranh chấp thương mại’, Tạp chí Kinh tế Đối ngoại, (16), trang 03. 4 Chu Xuân Minh (2020), Tư pháp thực hành, Nhà xuất bản Hà Nội, Hà Nội, trang 39. 11 chồng có yêu cầu phân chia khối tài sản chung xuất phát từ nhu cầu chính đáng của họ như thực hiện nghĩa vụ về tài sản riêng hoặc thực hiện các giao dịch riêng về tài sản nhưng họ không thỏa thuận được về việc phân chia thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Liên quan đến loại tranh chấp này, trong thực tiễn phát sinh một số trường hợp như sau: + Trường hợp giữa vợ chồng không có tranh chấp về tài sản chung mà đã tự nguyện, thống nhất phân chia khối tài sản chung đó bằng văn bản: Nếu họ nộp đơn yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận thì yêu cầu này không thuộc thẩm quyền của Tòa án, Tòa án không thụ lý vì không phải là tranh chấp hôn nhân gia đình tại Điều 28 BLTTDS và cũng không phải là việc dân sự quy định tại Điều 29 BLTTDS. - Trường hợp tranh chấp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đã được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật: Nếu sau đó vợ chồng có yêu cầu công nhận thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung đó thì Tòa án thụ lý giải quyết theo trình tự việc hôn nhân gia đình tại khoản 7 Điều 29 BLTTDS mà không phải là tranh chấp tại khoản 2 Điều 28 BLTTDS. (3) Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn (khoản 3 Điều 28 BLTTDS năm 2015) Đây là tranh chấp phát sinh khi giữa hai bên đương sự đã chấm dứt quan hệ vợ chồng và con chung đã được giao cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Tuy nhiên, sau đó do tình hình của một bên mà nếu không thay đổi việc nuôi con thì có thể ảnh hưởng đến cuộc sống của con và giữa họ không thống nhất được việc thay đổi nuôi con thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp.
Trong trường hợp việc thay đổi người trực tiếp nuôi con đã được thỏa thuận và họ chỉ yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận thì đó là việc hôn nhân gia đình tại Điều 29 BLTTDS năm 2015. (4) Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ (khoản 4 Điều 28 BLTTDS năm 2015) 12 Các tranh chấp này bao gồm yêu cầu xác định cha, mẹ cho con, yêu cầu xác định con cha mẹ, không thừa nhận người nào đó là con hoặc không thừa nhận người nào đó là cha, mẹ. Do có tranh chấp nên các yêu cầu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 4 Điều 28 BLTTDS năm 2015. Trong trường hợp không có tranh chấp mà các bên tự nguyện thỏa thuận thì thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân theo pháp luật về hộ tịch mà không thuộc thẩm quyền của Tòa án5.
(5) Tranh chấp về cấp dưỡng (khoản 5 Điều 28 BLTTDS năm 2015) Khi có căn cứ cho rằng người có nghĩa vụ cấp dưỡng trốn tránh nghĩa vụ, hoặc có sự thay đổi về mức cấp dưỡng vì mức cấp dưỡng đó không còn phù hợp với người được cấp dưỡng nữa, đồng thời giữa họ có tranh chấp, nghĩa là không thỏa thuận được với nhau về mức cấp dưỡng, thời gian cấp dưỡng, cấp dưỡng một lần hay theo định kỳ, thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. (6) Tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (khoản 6 Điều 28 BLTTDS năm 2015) Khoản 1 Điều 99 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cũng quy định Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng thì không công nhận quan hệ hôn nhân, tuy nhiên nếu có tranh chấp về tài sản chung, con chung thì thuộc trường hợp tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật là việc hôn nhân gia đình quy định tại khoản 1 Điều 29 BLTTDS năm 2015, tuy nhiên nếu có tranh chấp về tài sản chung, con chung thì Tòa án cũng thụ lý giải quyết bằng vụ án hôn nhân gia đình theo khoản 7 Điều 28 BLTTDS năm 2015.
5 Căn cứ khoản 1 Điều 101 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 1 Điều 7 và Điều 24 Luật Hộ tịch năm 2014 13 (8) Các tranh chấp khác về hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật (khoản 8 Điều 28 BLTTDS) Đây là một quy định mở đối với những tranh chấp về hôn nhân gia đình khác mà chưa được liệt kê trong các khoản từ 1 đến 7 tại Điều 28 BLTTDS năm 2015, tuy nhiên có thể hiểu là nếu các tranh chấp đó chưa có quy định cơ quan nào khác giải quyết thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. - Khái niệm “yếu tố nước ngoài” Trong giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình, việc xác định yếu tố nước ngoài có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thẩm quyền tài phán của các quốc gia liên quan, lựa chọn ngành luật điều chỉnh cũng như áp dụng pháp luật một cách chính xác và phù hợp6. Pháp luật Việt Nam có các quy định liên quan đến yếu tố nước ngoài như sau: Khoản 2 Điều 663 Bộ luật dân sự năm 2015 (sau đây viết tắt là “BLDS năm 2015”) quy định: “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; b) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài; c) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài”. Khoản 2 Điều 464 BLTTDS năm 2015 cũng định nghĩa vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài như quy định tại Khoản 2 Điều 663 BLDS năm 2015.