CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG TIẾP CÔNG DÂN 1. Khái quát chung về tiếp công dân 1. Khái niệm, đặc điểm Tiếp công dân “Công dân” là thuật ngữ thường được sử dụng trong khoa học chính trị, pháp lý. Trong từ điển Bách khoa Việt Nam: “công dân" là người dân của một nước có chủ quyền.
Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam, có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam. Quyền và nghĩa vụ của công dân thể hiện quan hệ lợi ích giữa Nhà nước và cá nhân. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Công dân có quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và của xã hội, có quyền bầu cử và ứng cử, quyền lao động, quyền học tập, nghỉ ngơi, quyền tự do ngôn luận, tự do hôn nhân, tự do tín ngưỡng, có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, tài sản, danh dự và nhân phẩm, quyền khiếu nại, tố cáo,…"[38].
Cũng theo từ điển Hành chính giải thích, “công dân” là người trong quan hệ về mặt quyền lợi và nghĩa vụ đối với Nhà nước Quốc tịch là căn cứ pháp lý để xác định công dân của một nước. Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”[38]. Theo quy định tại, Khoản 1 Điều 17 Hiến pháp 2013 khẳng định: “công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam"[5]. Luật quốc tịch 2008 quy định: “người có quốc tịch Việt Nam bao gồm người đang có quốc tịch Việt Nam cho đến ngày Luật này có hiệu lực và người có quốc tịch Việt nam theo quy định của luật này"[6].
Từ những cách lý giải như trên thì thuật ngữ “công dân” có nghĩa là chỉ người dân cụ thể của một quốc gia có chủ quyền, lãnh thổ xác định có quyền và nghĩa vụ trong quan hệ với quốc gia mà mình mang quốc tịch. Do gắn liền với mối quan hệ chính trị, pháp lý, quyền công dân không phải là bất biến mà có thể thay 9 n đổi hoặc tạm thời bị tước trong trường hợp công dân đó vi phạm pháp luật nghiêm trọng, bị Tòa án nhân danh Nhà nước ra văn bản tước quyền công dân. Trong tiếng Việt, “tiếp” có nghĩa là nhận hoặc đón lấy điều gì đó. Theo đó, “tiếp công dân” được hiểu là tiếp xúc, trao đổi qua lại giữa các cơ quan nhà nước với công dân để tiếp nhận và phản hồi những thông tin mà công dân cung cấp.
Theo từ điển Hành chính, “tiếp công dân” là “gặp gỡ nhân dân để báo cáo công việc (đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân) hoặc theo yêu cầu của công dân để nghe kiến nghị của công dân hoặc giải quyết các vấn đề dân yêu cầu. Ở Việt Nam, các cơ quan hành chính, Hội đồng nhân dân phải có lịch tiếp dân và phòng tiếp dân”.Theo Khoản 1, Điều 2 Luật Tiếp công dân 2013 quy định; “tiếp công dân là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân quy định tại Điều 4 của Luật này đón tiếp để lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân; giải thích, hướng dẫn cho công dân về việc thực hiện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị phản ảnh theo đúng quy định của pháp luật”[5]. Tuy nhiên, có thể hiểu rộng ra thì tiếp công dân không chỉ giới hạn ở việc tiếp đón, lắng nghe để tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân mà còn bao gồm cả việc tiếp nhận, giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến tổ chức, cá nhân và các công việc thuộc về trách nhiệm của cơ quan nhà nước phải thực hiện. Như vậy, có thể hiểu “Tiếp công dân là hoạt động đón tiếp để lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, phản ánh từ người dân của cơ quan nhà nước được tổ chức thường xuyên, định kỳ hoặc khi người dân có yêu cầu khẩn thiết nhằm giải thích hướng dẫn cho người dân về việc thực hiện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo đúng quy trình của pháp luật”.
Từ khái niệm trên, có thể rút ra đặc điểm của tiếp công dân trong các cơ quan hành chính nhà nước đó là: Thứ nhất, chủ thể tiếp công dân là các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền quản lý hành chính nhà nước. Việc quy định trách nhiệm tiếp công dân của cơ quan, cá nhân rất quan trọng, nhằm tạo cơ sở pháp lý cũng như xác định trách nhiệm pháp lý trong việc 10 n tiếp công dân. Việc tiếp công dân thực chất là cách thức để cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, tổ chức có thể trực tiếp lắng nghe, tiếp nhận, làm rõ nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của nhân dân, qua đó giúp cho việc xử lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo kịp thời, chính xác, đúng pháp luật; Đồng thời thông qua việc giải thích, hướng dẫn nhân dân thực hiện việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo đúng quy định của pháp luật, góp phần giải quyết tâm tư, bức xúc của công dân, củng cố và tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước. Do vậy, Hiến pháp 2013, Luật Tiếp công dân là đạo luật chung, có giá trị pháp lý cao nhất về lĩnh vực tiếp công dân, do đó quy định bao quát hết tất các các cơ quan, tổ chức, đơn vị đều phải có trách nhiệm tiếp công dân.
Theo đó, các cơ quan, tổ chức đơn vị trong hệ thống chính trị đều phải có trách nhiệm tiếp công dân. Là cơ quan trực tiếp triển khai các văn bản, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào đời sống xã hội. Các cơ quan hành chính nhà nước có trách nhiệm đáp ứng tốt nhất các yêu cầu hợp pháp của người dân, chủ động triển khai các nhiệm vụ, tổ chức tiếp đón, đối thoại với người dân thường xuyên, giải quyết những khó khăn, vướng mắc của người dân liên quan đến pháp luật. Điều 28 Hiến pháp 2013 quy định: “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước.
Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi y kiến, kiến nghị của công dân”[5]. Điều 4 Luật Tiếp công dân 2013 quy định về trách nhiệm tiếp công dân của các cơ quan nhà nước gồm: Chính phủ; Bộ, cơ quan ngang bộ, công cục và tổ chức tương đương, cục; Ủy ban nhân dân các cấp; Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Các cơ quan của Quốc hội; Hội đồng nhân dân các cấp; Tòa án nhân dân; Viện kiểm sát, Kiểm toán nhà nước. Điều 16 Luật Tiếp công dân 2013 quy định việc tổ chức tiếp công dân tại cơ 11 n quan hành chính nhà nước như sau: “Bộ, cơ quan ngang bộ thành lập bộ phận tiếp công dân hoặc bố trí công chức thuộc Thanh tra bộ làm công tác tiếp công dân. Việc tiếp công dân của tổ chức trực thuộc bộ, cơ quan ngang bộ do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quy định phù hợp với yêu cầu, tính chất tổ chức và hoạt động của từng tổ chức; Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bố trí công chức thuộc Thanh tra cơ quan làm công tác tiếp công dân.
Việc tiếp công dân của cơ quan trực thuộc cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và việc tiếp công dân của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định phù hợp với yêu cầu, tính chất tổ chức và hoạt động của từng cơ quan; Chính phủ, Thanh tra Chính phủ, Văn phòng Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện đã tham gia tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở tiếp công dân ở trung ương, Trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh, cấp huyện thì không bố trí địa điểm tiếp công dân thường xuyên tại cơ quan mình”[10]. Theo đó, các cơ quan hành chính có trách nhiệm tiếp công dân bao gồm: Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang bộ, Tổng cục và các tổ chức tương đường, cơ quan thuộc Chính phủ; Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố thuộc trung ương; cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã thành phố thuộc tỉnh. Trong đó, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác tiếp công dân; trực tiếp quản lý công tác tiếp công dân của các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương và địa phương; Thanh tra Chính phủ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác tiếp công dân;Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý công tác tiếp công dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình; Thứ hai, nội dung của tiếp công dân là lắng nghe, tiếp nhận các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của người dân. Đặc điểm này khác với tiếp công dân để xử lý, giải quyết các hồ sơ theo thủ 12 n tục hành chính như kết hôn, đăng ký kinh doanh… Đây là hoạt động chính trong hoạt động tiếp công dân.
Những nội dung cần lắng nghe, đối thoại khi tiếp công dân gồm: những vấn đề mà người dân đang gặp vướng mắc, đang cảm thấy khó khăn, bức xúc, muốn trình bày với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để có phương hướng xử lý đúng mức, phù hợp; Những mong muốn, nguyện vọng chính đáng, những ý kiến, kiến nghị mà người dân muốn phản ánh với cơ quan nhà nước; Những vấn đề mà trước đây người dân luôn theo đuổi, muốn tiếp tục phản ánh để cơ quan nhà nước tiếp tục giải quyết mang lại hiệu quả như mong muốn. Khiếu nại, tố cáo phải hướng tới những hành vi của chủ thể, hoặc sự kiện pháp lý nhất định. Trong nhiều trường hợp, nguyên nhân, điều kiện phát sinh hành vi vi phạm thuộc về sự khiếm khuyết trong chính sách, pháp luật do nhà nước ban hành.