Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu. Thiết kế một số trò chơi học tập và dạy học Blended learning chủ đề Bảng tuần hoàn Hoá học 10. Thực nghiệm sư phạm.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về vấn đề cần nghiên cứu 1. Tổng quan nghiên cứu trên thế giới Khi công nghệ dần phát triển và tiếp cận con người thì giáo viên cần tìm kiếm những mô hình học tập thích hợp để tăng hoạt động và giúp kết quả học tập đạt được tốt hơn. Tổ chức trò chơi học tập sẽ khuyến khích học sinh nhận thức và đưa ra quyết định tốt hơn khi tham gia trò chơi.
Nó cũng khuyến khích học sinh bắt đầu suy nghĩ chiến lược về các khái niệm trò chơi trong khi phát triển các kĩ năng thực tế, ngày càng tích cực tham gia. Mục đích của việc tổ chức trò chơi học tập sẽ giúp học sinh tư duy và giải quyết vấn đề. Cơ sở lý luận đầu tiên của trò chơi được đưa ra từ James Waldegrave vào năm 1713, Antoine Augustin Cournot công bố Nghiên cứu về những Nguyên lý toán học của lý thuyết tài sản vào năm 1838. Những kết qủa này sau này được mở rộng thành lý thuyết về trò chơi và các hành vi kinh tế bởi John Von Neumann và Oskar Morgentern vào năm 1944.
Theo nghiên cứu của Nor Azan Mat Zin cho rằng “ Trò chơi trong dạy học được sử dụng làm công cụ dạy và học trong một số môn học, chẳng hạn như Toán học, Khoa học, Lịch sử và ngôn ngữ học. Trò chơi được trẻ em và thanh thiếu niên chấp nhận một cách tích cực. Nghiên cứu của ông tại 16 địa phương có 341 học sinh nhận thấy rằng phần lớn trong số họ (92,1%) đã từng chơi máy tính hoặc trò chơi điện tử. [12] Đã có một số nghiên cứu phát triển phương pháp luận cho trò chơi giáo dục vào những năm này và nhằm mục đích lấy người học làm trung tâm.
Trên tạp chí quốc tế về khoa học và máy tính, Zainal A. Hasibuan đã trích dẫn “Thế mạnh về giáo dục khác của việc sử dụng trò chơi và mô phỏng bao gồm sự phát triển về nhiều mục tiêu nhận thức, kĩ năng, quá trình có thể chuyển giao, học tập lấy người học làm trung tâm, tính chủ động, tư duy sáng tạo, mục tiêu về ý thức, thái độ và tích hợp kiến thức”. [15] 7 Các phương pháp giảng dạy thay thế, như trò chơi nghiêm túc và thế giới ảo đang cố gắng thay thế các quy trình giảng dạy thông thường hiện có. Đây là một sự thay đổi đang diễn ra với tốc độ lâu dài trong những năm qua.
Đối với môi trường E- Learning cần có những thay đổi đáng kể và chúng phải có khả năng cung cấp các tính năng mới, để giữ cho người học tham gia đầy đủ vào quá trìոh giáo dục. [14] Bêո cạոh đó, Với sự hỗ trợ của E – learոiոg, học siոh có thể chủ độոg học tập mọi lúc, mọi ոơi; có thể tự học, tự khám phá tri thức, côոg ոghệ ոhằm ոâոg cao kiếո thức, kĩ năng của bản thân. “Công nghệ cho phép việc học bước qua bức tường lớp học và tạo điều kiện tiếp cận tốt hơn với tài nguyên học tập” [16]. Một số dự án nghiên cứu đã chỉ ra sự cần thiết phải kết nối phương pháp dạy học và phong cách học tập thực tế của học sinh vì điều này có thể tác động to lớn đến động cơ học tập của học sinh.
Theo [16] “Blended learning có nhiều hình thức khác nhau và sẽ tiếp tục phát triển giống như công nghệ mới và thực hành đang được giới thiệu. Không nên xem nó như một mô hình đơn lẻ mà giống như cách tiếp cận chia sẻ mục tiêu cuối cùng là cung cấp trải nghiệm giáo dục và kết quả giáo dục tốt hơn”. Theo Trung tâm Nghiên cứu và Đổi mới Giáo dục, các khóa học Blended learning đang ngày càng trở nên quan trọng, với truyền thông và công nghệ thông tin đang dần được phát triển, bổ sung, không thay thế, hình thức học truyền thống (Mitchell & Forner,2010: 78). Việc thành công của Blended learning không chỉ là kết quả của sự tích hợp đơn giản của truyền thông và công nghệ thông tin (ICTs) với phương pháp mặt đối mặt (FTF).
Trong trường hợp nơi số lượng học sinh cao, loại tài nguyên lớn này cung cấp cơ hội để nhận thức thấu đáo và mở rộng kiến thức hiện tại. Với việc sử dụng Blended learning giáo viên có thể sử dụng các công cụ và tài liệu trực tuyến như một phần của lớp học hàng ngày của họ hướng dẫn [12]. Lợi ích của Blended learning giúp cho người học thể hiện đa dạng về kiến thức, phong cách học tập hấp dẫn đa dạng thúc đẩy học tập độc lập và kỹ năng tự định hướng cho học sinh, một năng lực cho người học suốt đời [13]. Một nghiên cứu của Harvey Singh cho thấy rằng có lẽ hình thức tốt nhất của Blended learning là bổ sung cho việc học (được tổ trước trước khi bắt đầu một nhiệm vụ công 8 việc) với thực hành (sử dụng mô hình mô phỏng quy trình công việc hoặc nhiệm vụ) và các công cụ hỗ trợ hiệu suất đúng lúc giúp tạo điều kiện thực hiện công việc phù hợp.
Các công cụ năng suất tiên tiến cung cấp" không gian làm việc" môi trường nơi kết hợp các công cụ hỗ trợ làm việc, cộng tác và hiệu suất dựa trên máy tính [8]. Trước đây hình thức dạy học chủ yếu "lấy giáo viên làm trung tâm " hiện nay đã dần thay đổi thành " lấy người học làm trung tâm". Việc học E- learning đã giúp việc " lấy người học làm trung tâm" thay đổi và phát triển mỗi ngày. Bên cạnh đó, nếu chỉ học giáp mặt hay E-learning không thôi thì chưa đủ.
Vì vậy, sự ra đời của Blended learning giúp giải quyết được những nhược điểm và phát huy những ưu điểm của E- learning. Blended learning đang dần trở lên phổ biến trên thế giới. Hiện nay đã có nhiều quốc gia sử dụng phương pháp này trong dạy học như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc. … Theo [8] Blended learning đang nhanh chóng phát triển cao nhất, chương trình hiệu quả để giải quyết các vấn đề học tập ở những học sinh có nhu cầu đặc biệt.
B-leanring, tính đến năm 2010, bao gồm “hơn 1,500,000 học sinh cả nước”. Theo [10] Một nghiên cứu đầu tiên trên toàn quốc được tài trợ bở Sloan Consortium (nay là hiệp hội học tập trực tuyến) cho thấy 65,2% các tổ chức giáo dục đại học (IHEs) đã cung cấp các khóa học Blended learning. Một nghiên cứu năm 2008, được Bộ Giáo dục Hoa Kỳ ủy nhiệm để khám phá giáo dục từ xa ở Hoa Kỳ, đã định nghĩa Blended learning là “Một sự kết hợp giữa hướng dẫn trực tuyến và trong lớp với giảm thời gian ngồi trong lớp cho học sinh. Sử dụng định nghĩa này, nghiên cứu cho thấy 35% các tổ chức giáo dục đại học cung cấp các khóa học theo Blended learning, và 12% trong số 12,2 triệu tuyển sinh giáo dục từ xa được ghi nhận trong các khóa học theo Blended learning.
Như vậy, tổ chức trò chơi trong dạy học Blended learning sẽ giúp người học có cơ hội được học tập nhiều hơn nhưng không bị áp lực bởi lượng kiến thức. Giáo viên sẽ hỗ trợ học sinh nhiều hơn và học sinh có thể làm chủ các hoạt động cũng như kiến thức. Khi bàn về năng lực, có nhiều quan điểm khác nhau do xuất phát từ các góc độ chuyên môn khác nhau. 9 Theo từ điển Webster’s New 20th Century, “ NL là khả năng đáp ứng thích hợp và đầy đủ các yêu cầu của một lĩnh vực hoạt động”.
Denyse Tremblay cho rằng năng lực là “ khả năng hành động, thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống.” [3] Tại Mỹ, từ những năm 1970, giáo dục cũng dựa trên phát triển năng lực, điều này đã được nghiên cứu và áp dụng, theo đó, sau khi kết thúc mỗi chương trình học, người ta đo chính xác kiến thức, kĩ năng và thái độ của người học Các năng lực thường được tập trung để phát triển bao gồm năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực tự học,. Việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo được quan tâm ở hầu hết các cấp bậc. Nghiên cứu tại một trường Z Julius Babajide Omiwale Onsun State University đã khảo sát về năng lực giải quyết vấn đề của học sinh liên quan đến thành tích học tập của họ trong môn Vật lý về khái niệm giải quyết vấn đề là hành động một người dùng để thu hẹp khoảng cách giữa các giải pháp dự kiến và cách thức chính xác mà vấn đề được giải quyết. [4] Ngoài ra, còn có nhiều đề tài nghiên cứu và các tổ chức quan tâm đến năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo và việc kết hợp tổ chức dạy học blended learning nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo là điều cần thiết.
Tổng quan nghiên cứu ở trong nước Trong nước cũng đã có những nghiên cứu về trò chơi ở các môn học như Tác giả Lê Thị Quỳnh Trang, Trần Hoài Phương; nghiên cứu “ Trong các hình thức trải nghiệm, trò chơi không chỉ nhận được sự hưởng ứng của đại đa số học sinh mà còn là công cụ đắc lực khiến giờ học trở nên thú vị hơn. Tuy trò chơi có xuất phát điểm là loại hình hoạt động giải trí, thư giãn nhưng khi được tổ chức có kịch bản với những nội dung kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau thì nó còn mang đầy đủ chức năng giáo dục, giao tiếp, văn hóa, …. giúp học sinh được “học mà chơi, chơi mà học”[25]. Mục đích của trò chơi là nhằm lôi cuốn học sinh tham gia vào các hoạt động giáo dục một cách tự nhiên, giảm tải căng thẳng, mệt mỏi trong quá trình học tập” 10 Nối tiếp là tác giả Đỗ Thị Phương Thảo và cộng sự nghiên cứu rằng phương pháp sử dụng trò chơi dạy học Vật lí mang lại hiệu quả tích cực trong quá trình dạy học và GV cần nghiên cứu, sử dụng nhiều hơn để thực hiện tốt mục đích dạy học [26].