Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn bố cục gồm 03 chương với nội dung như sau: Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG MA TÚY Chƣơng 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Chƣơng 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP VỀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG CHỐNG MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬTPHÒNG, CHỐNG MA TÚY 1. Pháp luật phòng, chống ma túy 1. Khái niệm và đặc điểm pháp luật về phòng, chống ma túy 1.1 Khái niệm - Khái niệm về ma túy Cho đến nay, trên thế giới không có một khái niệm thống nhất về “ma túy”hay “chất ma túy”. Ma y là từ Hán Việt, trong đó “ma” được hiểu là tê mê và “túy” là say sưa.
Theo đó, ma túy là chất có tác dụng gây trạng thái ngây ngất, đờ đẫn, tê liệt, dùng quen thành nghiện, hay nói cách khác, ma túy là chất gây nghiện. Theo từ điển tiếng Việt, ma túy là tên gọi chung của những chất có tác dụng gây trạng thái ngây ngất, đờ đẫn, dùng quen thành nghiện; ma túy là những chất mà người dùng nó một thời gian sẽ gây nghiện hay nói cách khác là trạng thái phụ thuộc vàonó.[55] Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa “ma túy” là các chất khi xâm nhập vào cơ thể sẽ phá hủy các cơ quan nội tạng. Đến năm 1982, WHO đã phát triển định nghĩa “ma tuý” theo nghĩa rộng, là mọi thực thể hoá học hoặc là những thực thể hỗn hợp, khác với tất cả những cái được đòi hỏi để duy trì một sức khoẻ bình thường, việc sử dụng những cái đó sẽ làm biến đổi chức năng sinh học và có thể cả cấu trúc của vật. Liên Hợp Quốc cũng đã đưa ra định nghĩa “ma túy” là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, khi xâm nhập vào cơ thể làm thay đổi trạng thái tâm sinh lý của người sử dụng.
Tuy nhiên, các định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới hay của Liên Hợp Quốc đều mang tính khái quát, bao hàm tất cả các chất làm biến đổi về mặt tâm sinh lý 7 của conngười. Do sự gây hại rất lớn của ma túy đối với xã hội, vì vây, trong Bộ luật hình sự Việt nam (BLHS sửa đổi 2009, 2015) quy địnhmatúycóthể hiểu là các chất bao gồm: nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, cao coca, lá, hoa, quả cây cần sa, quả thuốc phiện khô, quả thuốc phiện tươi, heroine, cocaine, các chất matúy khác ở thể lỏng hay thể rắn. Tiếp đến, tại Khoản 1,Điều 2, Luật Phòng, chống ma túy năm 2000 (sửa đổi năm 2008) đưa ra khái niệm về chất ma túy nhưsau: “Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành”. Theo đó, Khoản 2 và Khoản 3 Điều 2 Luật Phòng, chống ma túy năm 2000 (sửa đổi năm 2008) quy định: “chất gây nghiện” là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng và “chất hướng thần” là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện với ngƣời sử dụng.
Như vậy, ma túy là những chất đã được khoa học xác định vàcó tên gọi riêng. Danh mục các chất ma túy, tiền chất ma túy được quy định tại Nghị định của Chính phủ (Nghị định số 67/2001/NĐ-CP; Nghị định số 133/2003/NĐCP; Nghị định số 82/2013/NĐ-CP). Việc xác định là chất ma túy, tiền chất được tiến hành qua trưng cầu giám định. Từ các khái niệm của quốc tế và Việt Nam về ma túy, có thể đưa ra một khái niệm chung như sau: Ma túy là các chấtcó nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, khi đưa vào cơ thể con người, nó có tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý của con người.
Nếu lạm dụng ma túy, con người sẽ lệ thuộc vào nó, khi đó gây tổn thương và nguy hại cho người sử dụng và cộng đồng. -Căn cứ nguồn gốc của ma túy và cơ chế tác động dƣợc lý, các chuyên gia của Liên hợp quốc đã thống nhất phân chia ma túy thành năm nhómsau: 8 + Nhóm 1: ma túy là các chất từ cây thuốc phiện (opiates); + Nhóm 2: ma túy là các chất làm từ cần sa (canabis); + Nhóm 3: ma túy là các chất gây kích thích (sitimulants); + Nhóm 4: ma túy là các chất gây ức chế (depressants); + Nhóm 5: ma túy là các chất gây ảo giác (hallucinorens). Khái niệm phòng, chống ma túy Ma túy và tội phạm về ma túy đang là hiểm họa của toàn cầu, gây tác hại cho sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Chính vì vậy, đấu tranh phòng và chống tội phạm về ma túy là nhiệm vụ đã và đang được tất cả các nhà nước trên thế giới quan tâm, lo lắng.
Mỗi một quốc gia đều nỗ lực quan tâm đến việc hoạch định các chính sách và đưa ra nhiều biện pháp nhằm phòng ngừa, đấu tranh để từng bước đẩy lùi loại tội phạm đặc biệt nguy hiểm này. Đấu tranh phòng, chống tệ nạn và tội phạm ma túy là nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước. Đây là cuộc đấu tranh gay gay, quyết liệt, lâu dài, đòi hỏi sự bền bỉ, kiên trì, huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chínhtrị và toàn xãhội. Khái niệm phòng, chống ma túy được quy định Luật phòng, chống ma túy năm 2000(sửa đổi năm 2008): “PCMT là phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh chống tệ nạn ma tuý và kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma tuý”.
Trong đó: - Tệ nạn ma túy là tình trạng nghiện ma túy, tội phạm về ma túy và các hành vi trái phép khác về ma túy (khoản 8 Điều2); - Các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma tuý bao gồm các hoạt động nghiên cứu, giám định, sản xuất, vận chuyển, bảo quản, tàng trữ, mua bán, phân phối, sử dụng, xử lý, trao đổi, nhập khẩu, xuất khẩu, quá cảnh các chất ma túy, tiền chất và thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, được cơ quan quản 9 lý nhà nƣớc có thẩm quyền cho phép theo quy định của pháp luật (khoản9); - Kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma tuý là việc cho phép, theo dõi, kiểm tra, giám sát các hoạt động quy định tại khoản 9 Điều này và phòng ngừa, ngăn chặn việc lợi dụng các hoạt động đó vào mục đích khác (khoản10). - Phòng ngừa, ngăn chặn, đấutranh: + Phòng ngừa bao gồm “đề phòng” và “ngăn ngừa”. Đề phòng là chuẩn bị trước để sẵn sàng đối phó, ngăn ngừa, hoặc hạn chế những thiệt hại có thể xảy ra. Ngăn ngừa là làm cho cái xấu, cái không hay đang có khả năng xảy ra sẽ không xảy ra được.
Phòng ngừa là chuẩn bị trước, bằng cách này hay bằng cách kháckhông để cho cái xấu, cái không hay nào đó xảy ra. + Phòng ngừa ma túy là bất cứ hoạt động nào nhắm đến việc giảm bớt hoặc giảm thiểu việc sử dụng ma túy và những hậu quả tai hại của nó. + Ngăn chặn tệ nạn ma túy là hoạt động nhằm ngăn ngừa, chặn đứng những tác hại, ảnh hưởng xấu của tệ nạn ma túy; ngăn chặn sự phát triển của tệ nạn ma túy trong cộng đồng, xã hội, bao gồm ngăn chặn các hoạt động bất hợp pháp liên quan đến việc trồng các cây có chứa ma túy; các hoạt động sản xuất, chế biến, mua bán, vận chuyển và sử dụng trái phép chất ma túy; ngăn chặn sự gia tăng số ngƣời nghiện, tái nghiện (ngăn chặn nguồn cung về matúy). + Đấu tranh chống tệ nạn ma túy là hoạt động nhằm tiến tới việc ngăn chặn, đẩy lùi và tiến tới xóa bỏ tệ nạn ma túy; xóa bỏ các tụ điểm phức tạp về ma túy; xóa bỏ việc buôn bán, sử dụng trái phép ma túy với mục đích hướng đến là xóa bỏ tệ nạn ma túy ra khỏi cộng đồng, xã hội.
Khái niệm pháp luật về phòng, chống ma túy Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí nhà nước của giai cấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, được đảm bảo thực 10 hiện bằng Nhà nƣớc nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích trật tự và ổn định xãhội, vì sự phát triển bền vững của xã hội [40, tr. Pháp luật phòng, chống ma túy là một bộ phận cấu thành trong hệ thống pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Ngay từ khi mới thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Nhà nước đã rất quan tâm đến công tác phòng, chống ma túy, coi phòng, chống ma túy là một trong những nhiệm vụ cơ bản của Nhà nước. Những quy định về ngăn chặn, đấu tranh loại trừ ma túy ra khỏi đời sống xã hội dần được hình thành và đến nay đã trở thành hệ thống những quy phạm pháp luật về phòng, chống ma túy.
Trong văn bản quy phạm pháp luật cao nhất của Nhà nước là Hiến pháp năm 2013 quy định: “nghiêm cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc phiện và các chất ma túy khác. Nhà nước quy định chế độ bắt buộc cai nghiện và chữa các bệnh xã hội nguy hiểm. Đặc biệt, tình hình ma túy và các tội phạm và ma túy diễn biến ngày càng phức tạp hơn, những quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1985 không đáp ứng được yêu cầu của cuộc đấu tranh này. Sau nhiều lần (các năm: 1991, 1992, 1997, 1999) được điều chỉnh, bổ sung; ngày 27/11/2015 BLHS đƣợc Quốc hội thông qua giữ nguyên các tội về ma túy quy định trong BLHS đƣợc Quốc hội thông qua ngày 21/12/1999 và đƣợc sửa đổi bổ sung vào ngày 19/6/2009 nhƣng có khác là chia tách các Điều 194, Điều 200 trong BLHS năm 2009 thành các tội riêng biệt.
Cụ thể là Điều 194 trong BLHS năm 2009 đƣợc chia tách thành 04 (bốn)tội quy định trong BLHS năm 2015 đó là: Điều 249: Tội tang trữ trái phép chất ma túy. Điều 250: Tội vận chuyển trái phép chất ma túy. Điều 251: Tội mua bán trái phép chất ma túy. Điều 252: Tội chiếm đoạt chất ma túy.
Điều 200 trong BLHS năm 2009 chia tách thành 02 (hai) tội quy định trong BLHS năm 2015, đó là Điều 257; Tội Cƣỡng bức ngƣời khác sử dụng trái phép chất ma túy.