phần Mở đầu, Kết luận, luận văn đƣợc đƣợc kết cấu thành 03 9 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tổ chức thông tin kế toán trong chu trình bán hàng và thu tiền trong doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức thông tin kế toán trong chu trình Bán hàng và thu tiền tại Công ty CP Giày Bình Định. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức thông tin kế toán trong chu trình bán hàng và thu tiền tại Công ty CP Giày Bình Định. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THÔNG TIN KẾ TOÁN TRONG CHU TRÌNH BÁN HÀNG VÀ THU TIỀN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1.
TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN 1. Khái niệm về hệ thống thông tin kế toán Hệ thống thông tin kế toán là bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống thông tin quản lý trong doanh nghiệp, bao gồm nguồn nhân lực, các phƣơng tiện, các phƣơng pháp kế toán đƣợc tổ chức khoa học nhằm thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về tình hình huy động vốn, sử dụng nguồn vốn cũng nhƣ kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong từng kỳ nhất định. Hai chức năng của hệ thống thông tin kế toán là thông tin và kiểm tra. Phần Phần Cứng mềm Dữ liệu Thông Con kế toán tin kế ngƣời toán Cơ sở Các quy dữ liệu trình, thủ tục Hình 1.
Các yếu tố cơ bản của hệ thống thông tin kế toán Nguồn: Nguyễn Mạnh Toàn và Huỳnh Thị Hồng Hạnh (2011) Hệ thống thông tin kế toán là sự kết hợp giữa hệ thống kế toán và hệ thống thông tin. Tổ chức công tác kế toán trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin tạo ra một hƣớng nghiên cứu mới - nghiên cứu về hệ thống 11 thông tin kế toán. Nhƣ vậy, hệ thống thông tin kế toán là một tập hợp các nguồn lực bao gồm con ngƣời và các máy móc thiết bị nhằm biến đổi dữ liệu kế toán thành các thông tin kế toán. Các yếu tố cơ bản của hệ thống thông tin kế toán đƣợc trình bày nhƣ sau: Đầu vào: Là các dữ liệu từ các hoạt động kinh tế phát sinh, ví dụ trong một doanh nghiệp là các hoạt động: mua vật tƣ, hàng hóa, bán hàng, thu tiền, các chi phí phát sinh… Quy trình xử lý: Là một quy trình hoàn chỉnh từ việc thu thập thông tin về các dữ liệu kế toán, đến việc xử lý, phân tích, tổng hợp các dữ liệu này để lập các báo cáo kế toán bằng hệ thống các phƣơng pháp kế toán là phƣơng pháp chứng từ, phƣơng pháp tài khoản và ghi kép, phƣơng pháp đo lƣờng đối tƣợng kế toán và phƣơng pháp tổng hợp cân đối kế toán.
Quy trình xử lý của HTTTKT rất phức tạp, đòi hỏi sự vận dụng hợp lý hệ thống các phƣơng pháp kế toán trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc, các chuẩn mực kế toán và hệ thống các phƣơng tiện kỹ thuật CNTT. Để cung cấp thông tin tổng hợp và chi tiết ở các mức độ khác nhau, trong giai đoạn xử lý thông tin, quan trọng nhất là việc tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán để làm căn cứ cho việc phân loại và hệ thống hóa thông tin theo từng loại đối tƣợng kế toán, từng loại chỉ tiêu phục vụ nhu cầu thông tin của ngƣời sử dụng với phƣơng tiện vật chất biểu hiện là hệ thống các sổ kế toán. Đầu ra: Là các thông tin kế toán đáp ứng theo yêu cầu của ngƣời sử dụng, bao gồm các đối tƣợng bên ngoài tổ chức, các cấp quản trị cũng nhƣ phục vụ hoạt động tác nghiệp tại các bộ phận bên trong tổ chức. Phƣơng tiện biểu hiện những thông tin tổng hợp và chi tiết đã đƣợc xử lý để cung cấp cho ngƣời sử dụng là hệ thống báo cáo kế toán gồm Báo cáo tài chính và các báo cáo kế toán quản trị.
Trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin, đầu ra của hệ thống thông tin kế toán còn là tất cả những thông tin kế toán cần thiết 12 phục vụ công tác quản lý và tác nghiệp mà các bộ phận chức năng có thể đƣợc phân quyền truy cập (Huỳnh Thị Hồng Hạnh, 2015). Mối quan hệ giữa hệ thống thông tin kế toán với các hệ thống thông tin khác trong doanh nghiệp Hệ thống thông tin trong doanh nghiệp là một hệ thống đa dạng, phức tạp với nhiều chức năng khác nhau đƣợc thực hiện bởi các bộ phận khác nhau, có mới quan hệ ràng buộc, chặt chẽ, cung cấp thông tin lẫn nhau nhằm đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp có hiệu quả. Các hệ thống thông tin chức năng nhƣ hệ thống thông tin tài chính, hệ thống thông tin nhân sự, hệ thống thông tin bán hàng, hệ thống thông tin sản xuất không tách biệt nhau mà thƣờng chia sẻ với nhau các nguồn lực chủ yếu của hệ thống và tất cả chúng đều có mối quan hệ chặt chẽ với hệ thống thông tin kế toán. Các hệ thống thông tin chức năng này cung cấp dữ liệu đầu vào cho hệ thống thông tin kế toán và từ những dữ liệu này, hệ thống thông tin kế toán có nhiệm vụ xử lý chúng thành thông tin hữu ích cung cấp trở lại cho các bộ phận để thực hiện chức năng của mình.
Ví dụ, hệ thống thông tin kế toán ung cấp thông tin về tình hình vật tƣ tồn kho cho bộ phận cung ứng, thông tin về tình hình công nợ khách hàng cho bộ phận bán hàng,. Mối quan hệ giữa HTTTKT và các hệ thống thông tin khác đƣợc thể hiện qua Hình 1. 13 HTTT MIS sản xuất HTTT HTTT cung ứng bán hàng HTTT Kế toán HTTT HTTT Maketing tài chính HTTT nhân sự Hình 1. Mối quan hệ giữa hệ thống thông tin kế toán với các hệ thống thông tin khác trong doanh nghiệp Nguồn: Nguyễn Mạnh Toàn và Huỳnh Thị Hồng Hạnh (2011) Nhƣ vậy, hệ thống thông tin kế toán cùng với các hệ thống thông tin chức năng khác tạo nên hệ thống thông tin quản lý hoàn chỉnh phục vụ yêu cầu quản trị doanh nghiệp.
Các hệ thống thông tin này liên kết hệ thống quản trị với hệ thống tác nghiệp, đảm bảo sự vận hành của doanh nghiệp đạt đƣợc các mục tiêu đề ra. Tổ chức HTTTKT theo phần hành và chu trình 1. Tổ chức thông tin kế toán theo phần hành Tổ chức thông tin kế toán theo phần hành là cách tổ chức dữ liệu kế toán bằng việc phân loại và xử lý theo từng đối tƣợng kế toán nhất định. Mỗi phần hành do một nhân viên kế toán phụ trách độc lập.
Nhân viên kế toán phần hành nào thì chịu trách nhiệm thu thập, kiểm tra tất cả các chứng từ liên quan và thực hiện việc cập nhật dữ liệu theo từng đối tƣợng kế toán thuộc phần 14 hành đó. Cụ thể, kế toán các phần hành theo dói và cung cấp thông tin về số dƣ đầu kỳ, tình hình phát sinh tăng, phát sinh giảm trong kỳ và số dƣ cuối kỳ của từng đối tƣợng. Ví dụ: Với phần hành kế toán vật tƣ, căn cứ vào các số liệu trên các phiếu nhập - xuất kho, kế toán chi tiết vật tƣ sẽ theo dõi sự biến động về số lƣợng, đơn giá, thành tiền vào sổ chi tiết mở cho từng loại vật tƣ theo trình tự thời gian. Toàn bộ chứng từ, các sổ kế toán chi tiết liên quan đến vật tƣ do kế toán vật tƣ quản lý và lƣu trữ.
Cuối kỳ, kế toán chi tiết vật tƣ sẽ tiến hành kiểm tra, cộng sổ để xác định giá trị từng loại vật tƣ tồn kho và lập Bảng tổng hợp Nhập - Xuất - Tồn cho toàn bộ vật tƣ, hàng hóa, trên cơ sở đó đối chiếu để đảm bảo khớp đúng với số liệu của kế toán tổng hợp. Trong doanh nghiệp thƣờng có các phần hành kế toán chủ yếu nhƣ: kế toán vốn bằng tiền, kế toán vật tƣ, kế toán công nợ, kế toán tài sản cố định, kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm… Tổ chức thông tin kế toán theo phần hành hƣớng đến các đối tƣợng kế toán, chú trọng đến việc phân loại, thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về tình hình và sự biến động theo từng loại tài sản và nguồn vốn trong quá trình kinh doanh của công ty. Tổ chức thông tin kế toán theo chu trình Việc tổ chức công tác kế toán theo phần hành độc lập đáp ứng đƣợc yêu cầu về cung cấp thông tin theo từng đối tƣợng kế toán, lập báo cáo tài chính và kiểm tra bảo vệ tài sản của doanh nghiệp. Tuy nhiên, thông tin kế toán cung cấp ngày càng đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành các hoạt động của doanh nghiệp.
Tất cả các bộ phận trong doanh nghiệp đều cần thông tin do kế toán cung cấp và ngƣợc lại kế toán không phải là điểm khởi đầu mà thƣờng là ghi nhận và tiếp tục xử lý kết quả của các bộ phận khác trong toàn hệ thống doanh nghiệp. Do vậy, việc tổ chức dữ liệu kế toán 15 theo từng phần hành một cách riêng lẻ, độc lập sẽ không giúp khai thác, kế thừa hết các dữ liệu và thông tin từ các bộ phận chức năng khác trong doanh nghiệp. Hơn nữa việc chia sẻ thông tin giữa các bộ phận của doanh nghiệp trong điều kiện tổ chức thông tin kế toán theo phần hành còn nhiều hạn chế. Mặt khác, trong quá trình hoạt động của các doanh nghiệp có những công việc lặp đi lặp lại một các thƣờng xuyên, liên tục theo một trình tự (chu trình) nhất định qua nhiều khâu, nhiều giai đoạn do nhiều bộ phận, nhiều cá nhân tham gia thực hiện, trong đó có sự tham gia tích cực của các phần hành kế toán.
Để đảm bảo các hoạt động diễn ra một các nhịp nhàng, đồng bộ nhằm đạt đƣợc hiệu quả cao nhất, cần phải phối hợp hoạt động giữa các chức năng, bộ phận, cá nhân cùng tham gia trong cùng một chu trình. Do vậy cần phải tổ chức trao đổi dữ liệu, thông tin một cách khoa học giữa các bộ phận để công việc đƣợc tiến hành xuyên suốt qua các công đoạn, là cơ sở để xác định trách nhiệm của từng bộ phận trong việc phối hợp thực hiện nhiệm vụ, tránh chồng chéo, sai sót. Trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin nhƣ hiện nay, nhằm tăng cƣờng chức năng phối hợp, trao đổi dữ liệu và thông tin giữa các phần hành kế toán và giữa kế toán với các bộ phận khác trong doanh nghiệp, bên cạnh việc tổ chức theo từng phần hành, cần thiết phải xây dựng HTTTKT theo các chu trình.