Chương 5 TổCHỨCLANHTHỔCÁCN6ÀNHKINHTẾVIỆT NAM 5. Tổ chức lãnh thổ công nghiệp 5. Vai trò, đặc điểm của tổ chức lãnh thổ côrtịỊ nghiệp 5. Vai trò cùa to chức lãnh thố công nghiệp Công nghiệp là một ngành sản xuất vật chất quan trọng, đặc trưng cho trình độ phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Vai trò của công nghiệp đối với phát triển và phân bố sản xuất đirợc thể hiện nlnr sau: Phát triển công nghiệp là con đường tất yếu, duy nhất đế cải tạo và hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân; các ngành kinh tế quốc dân được quản lý, tố chức và sản xuất theo plmơng pháp công nghiệp với hiệu quả cao. Phát triển và phân bố công nghiệp tác động lĩiạnh mẽ, sâu sắc tới sự phân bố của các ngành sản xuất khác, tới toàn bộ tố chức lãnh thố cùa một xã hội, tới sinh thái môi trường. Các điểm công nghiệp, các trung tâm công nghiệp được phân bố ở đâu thường làm biến đổi theo nó sự phân bố cùa nông nghiệp, giao thông vận tải, các ngành dịch vụ hình thành ở đó những điểm dân cư lớn, tập trung, đẩy mạnh quá trình đô thị hoá, làm thay đổi rõ rệt bộ mặt xã hội và môi trường thiên nhiên. Phát triển và phân bố công nghiệp sẽ tạo ra môi trường thuận lợi để đẩy mạnh cách mạng khoa học, công nghệ và ứng dụng những thành tựu của nó vào phát triển nền kinh tế quốc dân; tạo ra môi trường thuận lợi để thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, mở rộng các quan hệ kinh tế, thương mại với nước ngoài.
180 Phát triển và phân bố công nghiệp hợp lý còn góp phần nâng cao tiềm lực quốc phòng và khả năng phòng thú dất nước. Phát triển và phân bố công nghiệp đúng đan đem lại những hiệu quả lo 1Ớ I 1 cho toàn bộ xã hội, tác động tích cực tới sự hình thành các tổng thể sản xuất lãnh thổ của các vùng, tới bộ mặt kinh tế - xã hội của đất nirớc. Ngược lại, sai lầm trong phân bố công nghiệp sẽ gây những tác hại lâu dài không chỉ cho bản thân các doanh nghiệp, cho ngành công nghiệp mà còn tác hại tới các ngành sản xuất khác và đời sống nhân dân, gây ô nhiễm và phá hoại môi trường. Nước ta đang trong quá trinh phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phân bố công nghiệp trở thành một bộ phận quan trọng trong tồ cliírc nền kinh tế - xã hội theo lãnh thố.
Đặc đi êm cùa lồ chức lãnh thổ công nghiệp * Đặc điểm chung Sản xuất công nghiệp củ kha nàng thực hiện chuyên môn hoá sản xuất sâu vờ hợp lác hoá sán xuất rộng: do đối tượng sản xuất của ngành sản xuất công nghiệp là những vật vô sinh, sản xuất ít chịu ảnh hưởng cùa điều kiện tự nhiên. Quá trinh sản xuất công nghiệp diễn ra liên tục, trình tự sản xuất bắt buộc, mặt khác để sản xuất ra một sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh đòi hỏi phải có sự phoi hợp của nhiều loại lao động. Do đó, muốn nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế trong sản xuất, đòi hỏi phải thực hiện sản xuất chuyên môn hoá sâu đến từng bộ phận, từng chi tiết của sản phẩm. Nhưng đi liền với sản xuất chuyên môn hoá, đòi hỏi phải có sự hợp tác hoá sản xuất, đây là hai mặt không thể tách rời trong sản xuất đế tạo ra sản phẩm cuối cùng.
Chuyên môn hoá sản xuất càng sâu đòi hỏi hợp tác hoá sản xuất càng rộng. Từ đặc điểm trên, trong phát triển và phân bố công nghiệp phải nghiên cứu, lựa chọn được những vị tri phân bố hợp lý, tạo thuận lợi cho thực hiện chuyên môn hoá sản xuất và hợp tác hoá sản xuất đe nâng cao hiệu quả kinh tế (rong sản xuất. 181 Sán xuất công nghiệp cỏ xu hướng phân bố ngày càng lập trung cao độ theo lãnh thồ : phân bố tập trung tlieo lãnh thố là quy luật phát triển của sản xuất công nghiệp thể hiện ở quy mô và mật độ sản xuất của các doanh nghiệp công nghiệp trên một đơn vị lãnh thổ. Tính tập trung theo lãnh thố của sản xuất công nghiệp có nhiều ưu điếm, song cũng có nhược điểm.
Công nghiệp phân bố tập trung theo lãnh thổ hình thành những điểm công nghiệp, khu công nghiệp, vùng công nghiệp sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi để thực hiện chuyên môn hoá sản xuất và hợp tác hoá sản xuất, khai thác sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản xuất, đưa lại hiệu quả kinh tế xã hội cao. Tuy nhiên nếu quy mô tập trung công nghiệp theo lãnh thố quá mức, vượt quá sức chứa của lãnh thố, sẽ gây ra rất nhiều khó khăn như làm hỉnh thành những khu công nghiệp lớn, những trung tâm dân cư đông đúc, những thành phố khống lồ, tạo sức ép lớn lên hệ thống cơ sớ hạ tầng, gây khó khăn phức tạp cho tố chức, quản lý xã hội và môi trường. Vỉ vậy cần nghiên cứu toàn diện những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội trong từng địa phương, từng vùng cũng như trên lãnh thổ cả nirớc đế lựa chọn quy mô phân bố công nghiệp cho phù hợp. Sún xuấí công nghiệp có nhiều khù năng tổ chức phân bố thành các loại hình doanh nghiệp đ ể nâng cao hiệu quả sán xuất : trong nền công nghiệp hiện đại, nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp có mối quan hệ với nhau trong quy trình công nghệ sản xuất như cùng sử dụng chung loại sản phẩm đầu vào, cùng công nghệ sản xuất.
Vỉ vậy, trong phát triến và phân bố công nghiệp, những cơ sở công nghiệp có mối quan hệ với nhau cần được tổ chức, phân bố thành loại hỉnh doanh nghiệp liên doanh, liên kết đế nâng cao hiệu quả trong sản xuất. Các doanh nghiệp này có đặc trưng ở sự thống nhất về quy trình công nghệ sản xuất, về mặt lãnh thổ của các cơ sở sản xuất. Giữa các cơ sở sản xuất trong các doanh nghiệp liên doanh, liên kết có những mối liên hệ tuần tự với nhau trong một đơn vị quản lý hành chính, kỹ thuật. Loại hình doanh nghiệp liên doanh, liên kết có ưu điếm là giảm bớt được chi phi đầu tư xây dựng cơ 182 bản, cho phép sử dạng một cách tổng hợp và có hiệu quả các nguồn nguyên, nhicn liệu, vật liệu, rút ngan các clui kỳ sản xuất, giảm hao phí lao động sống, tăng năng suất lao động, liạ giá thành sản phẩm, mang lại hiệu quà kinh tế - xã hội cao.
* Đặc diêm phát tricn công nghiệp Việt Nam trong thòi kỳ dổi m ó i Từ năm 1986, nhờ kct quả của công cuộc doi mới, nền kinh tế nirớc ta có điều kiện đi vào công nghiệp hoá, hiện đại lioá. Đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá được xác định trên cơ sở phân tích các bài học thực tiễn trong nước, phân tích các mặt thành công và thất bại của các mô hình công nghiệp hoá diễn ra ở các nước khác nhau trong khu vực và thế giới. Điểm nổi bật trong tiến trình công nghiệp hoá trong giai đoạn hiện nay ở nước ta có thề thấy như sau: Phát triển công nghiệp nhằm tạo tiền đề cho việc thực hiện công nghiệp hoá cho các giai đoạn tiếp sau. Quan điểm này chi phối việc xác định lại cơ cấu và hướng đầu tư.
Công nghiệp hoá gắn liền với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo dịnh hướng xã hội chủ nghĩa. Quan điểm này khuyến khích đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước, huy động tốt hơn mọi nguồn lực bcn trong và bên ngoài để phát triển công nghiệp. Cơ chế quàn lý kinh tế được đổi mới, một mặt tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh tự chủ trong sản xuất, tài chính, tiếp cận thị trường, đồng thời tăng cirờng chức năng quản lý vĩ mô của Nhà nước. Các đòn bẩy kinh tế được sử dụng rộng rãi như giá cả, tiền lương, chính sách tài chính, tiền tệ và hợp tác đầu tư.
Sự đổi mới chính sách kinh tế đối ngoại với phương châm đa dạng hoá, đa phương hoá các hoạt động kinh tế đối ngoại đó góp phần quan trọng vào việc tiến hành công nghiệp hoá đất nước. Mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp hiện đại. Nhũng nhăn tổ ảnh hinmỊỊ đến tố ch ứ c lãnh thổ côtiỊỊ nịỊhiệp 5. Tài nguyên thiên nhiên Tài nguyên thiên nhiên được coi là cơ sở quan trọng hàng đầu đe phát triển công nghiệp.
Một số ngành công nghiệp như công nghiệp khai khoáng, công nghiệp luyện kim, công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản. phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thiên nhiên, s ố lượng, chất lượng, phân bố và sự kết hợp của chúng trên lãnh thổ, trong chừng mực nhất định đã ảnh hưởng rõ rệt đến cơ cấu và sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp. Khoáng sản là một trong những nguồn tài nguyên có ý nghĩa hàng đầu đối với công nghiệp. Nhìn chung, khoáng sản của nước ta phong phú về chủng loại, đa dạng về loại hình, nhưng không đều về trữ lượng, khó khăn khi chế biến và sử dụng, số lượng các mỏ nhiều, hầu như đủ loại, song lại manh mún, phân bố rải rác, khó khai thác và mỏ lớn không nhiều.
Tài nguyên nước của nước ta tương đối phong phú, nlurng phân bố không đều theo thời gian và không gian. Sông ngòi nước ta khá dày đặc và chảy trên những vùng có địa hỉnh khác nhau, tạo nên nhiều thác ghềnh. Tiềm năng thủy điện của nước ta rất lớn. v ề mặt lý thuyết, công suất tiềm năng đạt hơn 30 triệu KW, tập trung chú yếu ờ hệ thống sông Hồng, hệ thống sông Đồng Nai.
Nhìn chung, nước phục vụ đù cho sản xuất công nghiệp và cho sinh hoạt ở các đô thị. Tuy nhiên, nguồn nước phân bố không đều theo vùng và theo mùa gây nên tình trạng mất cân đối giữa nguồn cung cấp nước và sự phát triển công nghiệp giữa các vùng. Tài nguyên từ các sản phấm hữu cơ được khai thác bởi các hoạt động nông- lâm- ngư nghiệp cũng có tác động tới sản xuất công nghiệp. Rừng và hoạt động lâm nghiệp ở nirớc ta là cơ sở cung cấp vật liệu xây dựng (gỗ, tre, nứa), nguyên liệu cho các ngành tiểu thủ công nghiệp (song, mây, giang, trúc).
Tuy nhiên, tài nguyên rừng đang bị giảm sút nghiêm trọng đã ảnh hưởng đến một số ngành công nghiệp, nhất là ngành khai thác, chế biến gỗ và lâm sản.