CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ NHÀ Ở CÔNG VỤ TẠI VIỆT NAM VÀ KINH NGHIỆM TỔ CHỨC KHÔNG GIAN NHÀ Ở CÔNG VỤ Ở TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 1. Các khái niệm và phân loại nhà ở công vụ * Khái niệm về nhà ở công vụ Nhà ở công vụ là nhà ở thuộc sở hữu nhà nước dùng để bố trí cho một số đối tượng thuê trong thời gian đảm nhiệm công tác. Các đối tượng được bố trí nhà ở công vụ bao gồm: cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước thuộc diện ở nhà công vụ; cán bộ, công chức thuộc các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội được điều động, luân chuyển có thời hạn theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc lực lượng vũ trang nhân dân được điều động.
Nhà công vụ được quy định theo từng cấp độ chức vụ, thường chức càng cao, nhu cầu đối ngoại càng lớn, hoặc các ngành được xem là cao quý đối với người dân thì nhà công vụ càng lớn, đẹp, sang trọng và riêng biệt, nhà công vụ thường được bố trí gần công sở, có khi trong khuôn viên công sở như trường học, bệnh viện,. * Phân loại nhà ở công vụ Quỹ nhà ở công vụ được chia làm 3 loại là nhà biệt thự, nhà chung cư và nhà một tầng (căn hộ) nhiều gian. Hiện nay, số lượng biệt thự được bố trí làm nhà ở công vụ là 49 nhà, chiếm 0,8% số lượng nhà ở công vụ. Tất cả đều là biệt thự hạng III hoặc biệt thự hạng II.
Các biệt thự hạng II đều do các cơ quan Trung ương quản lý. Số lượng căn hộ nhà chung cư được bố trí làm nhà công vụ là 1.092 căn, chiếm 17% số lượng nhà ở công vụ; hầu hết được xác định là có chất lượng đảm bảo với tỷ lệ chất lượng còn lại khoảng 60% - 98%. 5 Số lượng căn hộ của nhà một tầng nhiều gian nhà được bố trí làm nhà ở công vụ là 5.285 căn chiếm 82,2% số lượng nhà ở công vụ; hầu hết được xác định là có chất lượng trung bình với tỷ lệ chất lượng còn lại khoảng 50-65%. Tóm lại, tuy quỹ nhà ở công vụ có nguồn gốc tạo lập khác nhau, được xây dựng trong nhiều thời kỳ với kỹ thuật và công nghệ khác nhau, nhưng việc bảo trì được quan tâm thường xuyên nên chất lượng nhà ở công vụ nhìn chung vẫn đảm bảo yêu cầu sử dụng.
Tuy nhiên, vẫn còn có một số nhà ở công vụ chưa đảm bảo được yêu cầu về chất lượng, cần được đầu tư kinh phí để tiến hành sửa chữa, cải tạo. * Sư ̣ khác nhau giữa nhà chung cư công vụ và nhà chung cư khác. Từ những khái niê ̣m ở trên ta có thể thấ y sự khác nhau giữa chung cư công vụ so với nhà chung cư khác (gồ m: nhà chung cư thương ma ̣i; chung cư thuô ̣c sở hữu nhà nước nay đã bán một phần hoă ̣c toàn bô ̣ cho người đang ở thuê trở thành nhà chung cư có nhiề u chủ sở hữu.) như sau: Về quyền sở hữu: Nhà chung cư công vụ là loa ̣i nhà ở chỉ có mô ̣t chủ sở hữu là nhà nước (bao gồm các căn hộ, các diêṇ tích dùng để kinh doanh dich ̣ vụ, các diện tích sử dụng chung như: cầ u thang, hành lang, sảnh.) do mô ̣t cơ quan đại diện quản lý, người sử du ̣ng là người ở thuê. Nhà chung cư khác hầ u hế t là nhà chung cư có nhiề u chủ sở hữu (chủ sở hữu các căn hô ̣ và các phần diện tích để kinh doanh dich ̣ vụ), người sử dụng là các chủ sở hữu hoă ̣c là người thuê của chủ sở hữu đó.
Các diê ̣n tích như cầ u thang, hành lang, sảnh. thuô ̣c sở hữu chung của các chủ sở hữu. Về tiêu chuẩn sử dụng và thiế t kế : Nhà chung cư công vu ̣: phải đươ ̣c thiế t kế theo đúng tiêu chuẩ n tương ứng với từng nhóm chức danh với cơ cấ u phù hơ ̣p; đảm bảo điề u kiê ̣n ở và trang thiế t bi ̣ cao hơn so với các nhà chung cư khác. Các căn hô ̣ phải đươ ̣c bố trí đầ y đủ các trang thiế t bi ̣nô ̣i thấ t, (bế p, điề u hòa, giường, tủ.), không gian làm việc, các trang thiế t bi ̣ thông tin liên la ̣c vì 6 người sử du ̣ng hầ u hế t là những cán bô ̣ đươ ̣c điề u đô ̣ng luân chuyể n cầ n phải làm viê ̣c ngay và với các điề u kiêṇ hiê ̣n đa ̣i để đáp ứng các công viêc.
Nhu cầu về nhà ở công vụ Theo quy định của pháp luật về nhà ở thì những đối tượng là cán bộ, công chức; sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc lực lượng vũ trang nếu có đủ điều kiện nhất định thì được bố trí nhà ở công vụ. Đối tượng và điều kiện được bố trí nhà ở công vụ được quy định cụ thể tại Điều 34 và Điều 35 của Luật Nhà ở. Căn cứ vào quy định về đối tượng và tiêu chuẩn được thuê nhà ở công vụ, ngoài số đối tượng hiện đang ở nhà công vụ thì đến năm 2015 sẽ có thêm số lượng đối tượng thuộc diện được ở nhà công vụ khoảng 49. Riêng Bộ Quốc phòng và Bộ Công an là 37.
Theo số liệu thống kê thì tổng quỹ nhà ở công vụ trong cả nước hiện nay chỉ đáp ứng được khoảng 10,5% so với nhu cầu của cả nước. Để đáp ứng nhu cầu về nhà ở công vụ, căn cứ vào tiêu chuẩn sử dụng nhà ở công vụ và số lượng người được bố trí nhà ở công vụ, ngoài việc duy trì quỹ nhà ở công vụ hiện có, cần xây dựng thêm khoảng 2.000m2 sàn nhà ở để bố trí thêm cho 49.100 người; trong đó, tập trung vào Bộ Quốc phòng và Bộ Công an cần 2.000m2, chiếm 81,3% trên tổng nhu cầu về diện tích nhà ở công vụ của các cơ quan Trung ương và địa phương (xem Phụ lục số 1). Thực trạng nhà ở công vụ tại Việt Nam 1. Số liệu về quỹ nhà ở công vụ Quỹ nhà ở công vụ được tạo lập từ hai nguồn là nhà ở tiếp quản do thực hiện các chính sách về nhà đất trước đây (44.420m2, chiếm tỷ lệ 14,1% trên tổng số) và do Nhà nước đầu tư xây dựng (270.860m2 chiếm tỷ lệ 85,9%).
Theo báo cáo của 32 cơ quan trung ương và 57 địa phương thì có 46 đơn 7 vị đang duy trì quỹ nhà ở công vụ, bao gồm 11 Bộ, ngành và 35 địa phương. Có 43 đơn vị không có quỹ nhà này, bao gồm 21 Bộ, ngành (trong đó có Bộ Y tế) và 22 địa phương. Qua khảo sát và tổng hợp báo cáo của các cơ quan trung ương và địa phương cho thấy, tổng quỹ nhà ở công vụ hiện nay là 315.280m2 sàn, bao gồm 49 biệt thự và 6.377 căn hộ nhà chung cư và nhà ở 1 tầng. Trong đó, quỹ nhà của các cơ quan Trung ương là 198.091m2, của các địa phương là 117.
Quỹ nhà ở công vụ của các cơ quan Trung ương là 198.091m2, bao gồm 42 biệt thự và 4.790 căn hộ chung cư và nhà ở 1 tầng. Qua xem xét số liệu báo cáo cho thấy, số lượng nhà ở công vụ của các cơ quan Trung ương tập trung nhiều nhất vào Bộ Quốc phòng (83.033m2) và Bộ Công an (67. Do tính chất đặc thù của lực lượng vũ trang là thường xuyên phải điều động lực lượng phục vụ yêu cầu về quốc phòng, an ninh nên quỹ nhà ở công vụ cho các sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc các lực lượng vũ trang có số lượng rất lớn (xem Phụ lục số 2 - Biểu số liệu về hiện trạng nhà ở công vụ của các cơ quan Trung ương). Quỹ nhà ở công vụ của các địa phương là 117.189m2, bao gồm 7 biệt thự và 1.587 căn hộ nhà chung cư và nhà ở 1 tầng (xem Phụ lục số 3 - Biểu số liệu về hiện trạng nhà ở công vụ của các tỉnh, TP trực thuộc Trung ương).
Đánh giá thực trạng về thiết kế và quản lý nhà ở công vụ 1. Thực trạng về thiết kế nhà ở công vụ Thời gian trước khi đất nước thống nhất, Nhà ở công vụ thường chỉ được quan tâm và thiết kế phục vụ cho mục đích quân sự và chính trị, với các dạng nhà bán kiên cố, xây dựng nhanh. Ở Việt Nam ngoài một số các công trình nhà ở công vụ có quy mô lớn sử dụng đúng mục đích của nó như Dinh Thống Nhất tại TP Hồ Chí Minh,.thì tại Hà Nội, các nhà công vụ đa số được tận 8 dụng từ các công trình biệt thự, văn phòng từ thời Pháp thuộc với thiết kế đặc trưng (hình 1. Phần lớn biệt thự dùng làm nhà ở công vụ được xây dựng từ trước những năm 1954; quá trình quản lý sử dụng không được duy tu, sửa chữa, không được nâng cấp.
Vì vậy, nhìn chung bị hư hỏng xuống cấp nhiều, tỷ lệ chất lượng còn lại thấp. Đối với những biệt thự cổ nói chung và nhà ở công vụ dạng biệt thự nói riêng ở Hà Nội thì đa phần được bố trí cho nhiều hộ gia đình ở không đúng theo thiết kế ban đầu mà là tự phát, tự tổ chức không gian; Chỉ có 16% nhà ở công vụ dạng biệt thự ở Hình 1. Nhà ở công vụ 26 Hà Nội là có một hộ ở, còn lại 84% Hoàng Diệu – Hà Nội. Nguồn: [1] biệt thự có từ 2 hộ trở lên, đặc biệt có gần 10% số biệt thự có từ 10 hộ ở trở lên.
Tình trạng cải tạo, cơi nới, xây dựng diễn ra phổ biến trong các biết thự (chiếm 74%), trong đó hầu hết các trường hợp cơi nới, sửa chữa đều không có thiết kế, không có giấy phép xây dựng, nhất là các biệt thự có nhiều hộ gia đình ở và biệt thự giáp đường. Tình trạng trên đã làm hỏng vẻ đẹp kiến trúc củac các biệt thự, ảnh hưởng xấu đến cảnh quan đô thị. Hiện nay, số biệt thự còn giữ nguyên trạng ban đầu chỉ còn 159 biệt thự, số còn lại (452 biệt thự) hầu như đã bị biến dạng, trở thành gần như nhà phố, thậm trí nhiều biệt thự biến thành các khu nhà ở công cộng, chật chội không đảm bảo điều kiện sống tối thiểu. 9 Trong những năm gần đây, với sự cấp thiết của quỹ nhà ở công vụ, Đảng và Nhà nước đã có những chính sách tích cực giúp nâng cao và chuẩn hóa trong công việc thiết kế nhà ở công vụ.