Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Lược sử nghiên cứu về HTTN 1. Trên thế giới Từ xa xưa, ý nghĩa và tầm quan trọng của HĐTN với việc học tập của mỗi cá nhân đã được nhiều người biết đến. Khổng Tử (551- 479 trước công nguyên) từng nói: "Những gì tôi nghe, tôi sẽ quên.
Những gì tôi thấy, tôi sẽ nhớ. Những gì tôi làm, tôi sẽ hiểu". Tư tưởng này thể hiện tinh thần trú trọng việc học từ trải nghiệm và việc làm. Mô hình học tập qua kinh nghiệm của John Dewey (1859-1952).
John Dewey là người đưa ra quan điểm “học qua làm, học bắt đầu từ làm”. Mô hình HTTN của ông có sự tương đồng với Lewin, ông nhấn mạnh “Học tập là một quá trình biện chứng kết hợp giữa kinh nghiệm và khái niệm, quan sát và hành động” [9]. Tư tưởng giáo dục của J. Dewey rất tiến bộ vào thời kì đó và cho đến nay vẫn là một trong những quan điểm giáo dục điển hình của nhiều nước trên thế giới.
Ông cho rằng “Quá trình phát triển trí tuệ của người học là kết quả của sự trải nghiệm. trải nghiệm sẽ cho người học biểu tượng trong đầu về sự vật hiện tượng đó. Việc dạy học phải là quá trình xâu chuỗi các thành tố trong kinh nghiệm cũ và mới của người học; quá trình học của người học phải là quá trình hình thành cái nhìn mới, hứng thú và kinh nghiệm mới”. Ông nhấn mạnh “Không có nội dung hoặc giá trị tự thân tuyệt đối nào từ bên ngoài được mang áp đặt cho HS.
Nhà trường và GV phải tạo ra một môi trường trong đó những hoạt động của trẻ chứa đựng cả những tình huống khó khăn, để từ đó người học tự tìm tòi và xây dựng kiến thức thông qua kinh nghiệm và tư duy, thông qua trải nghiệm của chính bản thân” [9]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên http://lrc.vn Kurt Lewin (1890 - 1947) nhấn mạnh “Kinh nghiệm là một khía cạnh quan trọng của việc học. Nghiên cứu hành động là một chu trình xoắn ốc bao gồm các bước: bắt đầu với kinh nghiệm cụ thể, tiếp theo người học sẽ thu thập dữ liệu, quan sát và phản ánh về kinh nghiệm đó; các dữ liệu này sau đó được phân tích, khái quát hóa để hình thành các khái niệm trừu tượng và khái quát; cuối cùng là thử nghiệm các ý nghĩa của khái niệm trong tình hình mới” [17]. Mô hình học tập và phát triển nhận thức của Jean Piaget (1896-1980).
Jean Piaget là một trong những người sáng lập môn Tâm lí học phát triển, và chuyên nghiên cứu về tâm lí học nhận thức và tâm lí học trẻ em. Theo ông “Quá trình phát triển trí tuệ của trẻ em trải qua 4 giai đoạn: Giai đoạn cảm giác - vận động (từ 0-3 tuổi); Giai đoạn tiền thao tác cụ thể (từ 3-7, 8 tuổi); Giai đoạn thao tác cụ thể (từ 7,8 tuổi - 11 tuổi); Giai đoạn thao tác hình thức hay tư duy logic (từ 11-14,15 tuổi). Mỗi lứa tuổi có đặc điểm riêng về chất lượng trí tuệ và được coi là một giai đoạn phát triển. Các thành tựu trí tuệ giai đoạn này là sự kế tiếp giai đoạn trước, là sự kết hợp thống nhất các cấu trúc đã có từ giai đoạn trước, mỗi giai đoạn là một cấu trúc tổng thể các sơ đồ chứ không phải là sự xếp chồng các sơ đồ lên nhau”.
Qua mô hình này ông đã chỉ rõ “HĐTN có vai trò rất lớn đối với sự phát triển nhận thức ở trẻ em; các thành tựu trí tuệ của trẻ em ở giai đoạn này là sự kế thừa kinh nghiệm giai đoạn trước; là sự kết hợp thống nhất các cấu trúc đã có từ giai đoạn trước; là kết quả của một quá trình trải nghiệm, mỗi giai đoạn đều gồm các cấu trúc đã có, đang có và các yếu tố chuẩn bị cho giai đoạn tiếp sau”. Theo Piaget Sự phát triển nhận thức của trẻ cũng đi theo chu trình 4 bước: từ hiện tượng cụ thể, đến sự phản ánh, đến tư duy trừu tượng, đến hành động trí tuệ chủ động [17]. Năm 1984, dựa trên những nghiên cứu của Dewey, Lewin, Piaget và các nhà nghiên cứu khác, David A. Kolb (sinh năm 1939) là nhà lý luận giáo dục người Mỹ , đã phát triển mô hình học tập trải nghiệm, Kolb nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của kinh nghiệm đối với quá trình học tập “Học tập Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên http://lrc.vn chính là quá trình kiến tạo tri thức thông qua quá trình chuyển đổi kinh nghiệm”.
Theo mô hình của David A. Kolb “Quá trình HTTN gồm bốn pha: trải nghiệm cụ thể; quan sát phản ánh; trừu tượng hóa khái niệm; thử nghiệm tích cực. Chu trình HTTN diễn ra từ giai đoạn 1 đến giai đoạn 4 và quay trở lại tạo thành một vòng tròn khép kín. Quá trình học luôn tiếp diễn một cách liên tục và nhịp nhàng trên cơ sở những thành tựu, kết quả thu được” [17].
Kolb khuyến nghị trình tự của việc học theo mô hình HTTN cần tuân thủ trình tự của chu trình, nhưng không nhất thiết phải bắt đầu từ bước nào.Tuy nhiên để có được hiệu quả cao nhất thì khi vận dụng mô hình HTTN của Kolb cần thực hiện đúng chu trình mà Kolp đã đề ra. Mô hình HTTN của David A. Kolb được sử dụng rộng rãi ở nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực giáo dục. Ngày nay giáo dục trải nghiệm được nhiều nước trên thế giới quan tâm, nghiên cứu và vận dụng vào chương trình dạy học nhằm phát triển những năng lực, phẩm chât, phát huy tiềm năng sáng tạo của từng người học.
Ở Việt Nam Ở Việt Nam, từ thời kì đầu của nền giáo dục Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ phương pháp để đào tạo nên những người đức - tài là: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội” lời dạy của Bác cũng chính là nguyên lí giáo dục được quy định trong luật giáo dục hiện hành của Việt Nam. Trong chương trình đào tạo Cử nhân Khoa học Quản lý của Khoa Quốc tế trường Đại học Quốc gia liên kết với Đại học Keuka, Hoa Kỳ có một môn học gọi là "Kinh nghiệm". Chương trình học đã cung cấp cho sinh viên kinh nghiệm thực tế, hỗ trợ kiến thức đã học trong các môn học khác trước đó. Kinh nghiệm đòi hỏi sinh viên phải thể hiện các kỹ năng chuyên nghiệp của mình thông qua việc lập kế hoạch, thực hiện và làm việc trong các dự án khác nhau.
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã tổ chức các chương trình tập huấn, các hội thảo về tổ chức HĐTN như: Hội thảo “Tổ chức HĐTN sáng tạo cho HS Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên http://lrc.vn phổ thông và mô hình trường phổ thông gắn với sản xuất, kinh doanh tại địa phương” diễn ra tại Tuyên Quang vào tháng 8/2014 [4]; tập huấn “Kĩ năng xây dựng và tổ chức các HĐTN sáng tạo trong trường trung học” năm 2015 [5]. Qua đó đã tạo được phong trào nghiên cứu, dạy học thông qua tổ chức các HĐTN ở các trường phổ thông. Trên Tạp chí Giáo dục cũng có rất nhiều bài viết bàn về HĐTN như: “HTTN - lý thuyết và vận dụng vào thiết kế, tổ chức HĐTN trong môn học ở trường phổ thông” của nhóm tác giả Đào Thị Ngọc Minh - Nguyễn Thị Hằng [12]; “Rèn luyện cho học sinh kĩ năng tự học thông qua các HĐTN trong dạy học phần sinh học vi sinh vật - Sinh học 10” của nhóm tác giả Phan Đức Duy - Ngô Thị Ngọc Trâm [6]; “Vận dụng mô hình HTTN trong dạy học Sinh học ở trường trung học cơ sở” của nhóm tác giả Đặng Thị Thanh Mai - Nguyễn Văn Thanh [11]; Các tác giả đã trình bày biện pháp, cách thức tổ chức các HĐTN cụ thể dưới nhiều hình thức khác nhau, từ đó chỉ ra những thuận lợi và khó khăn trong việc thiết kế, tổ chức các HĐTN cho học sinh. Ngoài ra còn có một số nghiên cứu sâu về dạy học trải nghiệm thể hiện trong các luận án, luận văn như: Tác giả Trần Thị Gái (2018) với luận án “Rèn luyện cho sinh viên ký năng thiết kế HĐTN trong dạy học Sinh học ở trường phổ thông”.
Tác giả đã vận dụng lí thuyết học qua trải nghiệm để rèn luyện kĩ năng thiết kế HĐTN cho sinh viên [8]. Qua tìm hiểu lược sử các công trình nghiên cứu trên chúng tôi nhận thấy, trên thế giới và cả trong nước có rất nhiều tài liệu đề cập đến tầm quan trọng của HĐTN trong dạy học nói chung và trong dạy học sinh học nói riêng. Các tài liệu này cũng đã làm rõ khái niệm, nội dung, hình thức tổ chức HĐTN nhưng chưa có tài liệu nào đề cập cụ thể đến việc “Tổ chức HTTN cho học sinh lớp 11 trong dạy học phần trao đổi chất và chuyển hóa năng lượng ở thực vật”. Song đây là nguồn tài liệu tham khảo tốt cho giáo viên và học sinh khi tham gia vào các hoạt động HTTN.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên http://lrc. Học tập trải nghiệm 1. Khái niệm về HTTN Khái niệm về trải nghiệm Theo Từ điển Tiếng việt, "Trải có nghĩa là đã từng qua, từng biết, từng chịu đựng; còn nghiệm có nghĩa là kinh qua thực tế nhận thấy điều nào đó là đúng" [14]. Theo từ điền bách khoa Việt Nam: “Trải nghiệm theo nghĩa chung nhất là bất kì một trạng thái có màu sắc, xúc cảm nào được chủ thể cảm nhận, trải qua, đọng lại thành bộ phận trong đời sống tâm lí của từng người” [15].
Theo Dewey, kinh nghiệm được hiểu là kinh nghiệm tri giác (sense experience), vừa là nội dung, vừa là phương pháp. “Mọi thứ đều do cá nhân trẻ em tự tìm ra thông qua công cụ của chúng, đặc biệt là công cụ tư duy. Khi trẻ em tự mình trải nghiệm thì mới tìm ra được giá trị của điều chúng trải nghiệm (giá trị là điều được thấy trong khi cảm thụ và đánh giá của người học chứ không phải là giá trị tự thân của sự vật, hiện tượng). Do đó giá trị là cái được tìm ra chứ không phải là giá trị cố hữu, giá trị bên trong, kết quả có sẵn” [9].
Như vậy, có thể hiểu trải nghiệm là kiến thức, kĩ năng hay sự thông thạo về một sự vật, sự kiện có được thông qua quan sát hoặc tham gia tiếp xúc trực tiếp đến sự vật hoặc sự kiện đó.