MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”. Đây cũng là nguyên lí giáo dục được qui định trong Luật Giáo dục hiện hành của Việt Nam nhằm để nhấn mạnh yếu tố thực hành và vận dụng thực tế. Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã nêu rõ quan điểm đổi mới giáo dục :”Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo định hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc, vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với mục tiêu, nội dung giáo dục, đối tượng HS và điều kiện cụ thể của mỗi cơ sở GD phổ thông.
Đa dạng hóa hình thức tổ chức học tập, coi trọng cả dạy học trên lớp và các hoạt động xã hội, trải nghiệm sáng tạo, tập dượt nghiên cứu khoa học. Phối hợp chặt chẽ GD nhà trường, GD gia đình và GD xã hội”. Như vậy, theo quan điểm trên thì hình thức dạy và học trải nghiệm sáng tạo ngày càng được chú trọng trong mục tiêu của GD phổ thông[2], [8]. Theo dự thảo chương trình GD phổ thông sau năm 2015, HĐTNST là môn học bước đầu giúp HS trực tiếp tham gia vào các hoạt động và ở tư cách chủ thể hoạt động “học qua làm” và “học qua trải nghiệm” giúp người học không những có được năng lực thực hiện mà còn có những trải nghiệm về cảm xúc, ý chí và nhiều trạng thái tâm lí khác.
“Học qua làm” chú ý đến những quy trình, động tác và đi đến kết quả chung cho mọi người học nhưng “học qua trải nghiệm” lại chú ý tới kinh nghiệm, sự sáng tạo và cảm xúc cá nhân. Các em được trải nghiệm, được bày tỏ quan điểm, ý tưởng, được đanmsh giá và lựa chọn ý tưởng hoạt động, được thể hiện, tự khẳng định bản thân, được tự đánh giá và đánh giá kết quả hoạt động của bản thân, của nhóm mình và của bạn bè,.Từ đó, hình thành và phát triển cho các em những giá trị sống và các năng lực cần thiết. HĐTNST về cơ bản mang tích chất của hoạt động tập thể trên tinh thần tự chủ, với sự nỗ lực GD nhằm phát triển khả năng sáng tạo và cá tính riêng của mỗi cá nhân trong tập thể [1]. 2 Hơn thế nữa, HĐTNST còn gắn kết với dạy học tích hợp là một trong những định hướng quan trọng trong đổi mới GD hiện nay.
Đặc biệt là tích hợp GDMT cho HS là điều hết sức quan trọng và cần thiết. Nhất là ở cấp Tiểu học vì đây là cấp học nền móng, là cơ sở, là cấp học phổ cập của hệ thống GD quốc dân, hàng triệu trẻ em của cấp học này một khi được GD, được trang bị đầy đủ hành trang kiến thức, nhận thức về MT sẽ là một lực lượng hình hậu trong mọi hành động tuyên truyền, cải thiện, BVMT và tài nguyên thiên nhiên cho đất nước. Ở Tiểu học GDMT không được dạy như một môn học riêng mà nội dung GDMT được lồng ghép, tích hợp vào nội dung các môn học. Môn Tự nhiên và Xã hội là môn học có nội dung được tích hợp và lồng ghép nhiều nhất.
Ở môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 bước đầu các em được tìm hiểu cơ bản về MT, MT tự nhiên, ô nhiễm MT, BVMT và những tác động của con người đối với môi trường. Việc tổ chức các HĐTNST nhằm tích hợp GDMT sẽ giúp các em có thêm nhiều kiến thức về môi trường sống xung quanh, hình thành ở các em ý thức bảo vệ, giữ gìn thiên nhiên, MT hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn. Với những lí do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội cho học sinh lớp 2”. Lịch sử nghiên cứu 2.Nghiên cứu về giáo dục môi trường 2.Nghiên cứu về giáo dục môi trường trên thế giới: Trên thế giới, những năm đầu thập niên 70 của thế kỉ XIX, GDMT đã được các tổ chức thế giới quan tâm.
Từ đó đến nay, dưới sự theo dõi của các tổ chức MT Liên hiệp quốc, GDMT đã phát triển mạnh mẽ và sâu rộng. Trong nhiều năm qua, nội dung GDMT đã được đưa ra bàn thảo, thống nhất tại các hội nghị quốc tế và khu vực. Nội dung được quan tâm là các chương trình, chiến lược và giải pháp GDMT chung cho tất cả các quốc gia trên toàn thế giới. Bên cạnh các hội nghị với các chương trình, chiến lược, còn có nhiều công trình nghiên cứu GDMT trong các lĩnh vực xã hội, ở các khu vực, các trường đại học, cao đẳng và các trường phổ thông.
Tiêu biểu có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau: - GDMT và thái độ đối với MT (Environmental education and environmental 3 attitudes) của Alvin Pettus - Environment EANL. Công trình này đã đánh giá kết quả một số cuộc thử nghiệm. Các cuộc thử nghiệm đó được tiến hành để đo lường thái độ với MT và tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến những thái độ đó. Nội dung công trình nghiên cứu đã cho một số kết luận cụ thể: (1) Ở nơi có càng nhiều thông tin về GDMT thì sẽ giúp con người có càng nhiều biện pháp để cải tạo chất lượng MT; (2) Điều kiện sống và làm việc có ảnh hưởng đến việc kiểm soát về MT và tham gia vào các hoạt động MT; (3) Niềm tin, văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi thái độ của con người về MT; (4) Ở khu vực tư nhân thì thái độ BVMT khác với ở khu vực công cộng.
- Sự khác nhau giữa thanh thiếu niên và người trưởng thành trong việc quan tâm đến các vấn đề MT (Teenage - adult differences in concern for environmental problems) của J. Hugh McTeer, giáo sƣ tại Đại học miền Tây Georgia, Carrollton, Georgia. Kết quả nghiên cứu của công trình đề cập đến sự quan tâm về các vấn đề MT của thanh thiếu niên và người trưởng thành ở vùng ngoại ô Atlanta. Theo đó, thanh thiếu niên có sự quan tâm đến các vấn đề MT nhiều hơn so với những người trưởng thành và họ cũng hy vọng về những hoạt động trong tương lai nhằm cải thiện MT ở thế hệ trẻ sau này.
Đồng thời, công trình nghiên cứu cũng đề cập đến giải pháp tổ chức các khóa học, các chương trình bồi dưỡng nhằm tăng cường sự quan tâm của người lớn đến các vấn đề MT mà thế giới đang đối mặt. - Chương trình bảo tồn con người và MT (A curriculum for the Conservation of People and Their environment) của Matthew J. Brennan, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu về MT Brentree ở Milford, PA và là người đầu tiên chịu trách nhiệm trong việc xuất bản Tạp chí GDMT. Công trình nghiên cứu đề xuất một chương trình GDMT dựa trên các khái niệm có liên quan đến MT.
Chương trình giáo dục bao gồm tất cả các môn học và các cấp học. Nội dung liên quan đến nhiều lĩnh vực và có cấu trúc đƣợc xây dựng dựa trên các khái niệm về MT. Mục đích của chƣơng trình là nhằm thúc đẩy sự phát triển của một nền văn hóa thế giới. Trong đó, các chính sách và thực tiễn đều nhằm duy trì một MT tương hợp với cuộc sống của con người trên toàn cầu.
Nói cách khác, đó là một nền văn hóa vì sự bảo tồn con người và môi trường sống của con người. - Giáo dục vì sự phát triển bền vững ở các nước đang phát triển: Sự cần thiết ủng hộ GDMT của Monica Hale, cựu viên chức giáo dục cao cấp (giáo dục phổ thông, cao đẳng và đại học), hội đồng GDMT, Học viện Báo chí, Vương quốc Anh. Nội dung công 4 trình đề cập đến vấn đề trợ giúp của các tổ chức, các nước phát triển và các nước công nghiệp đối với các nước đang phát triển, đặc biệt trong việc chuyển giao công nghệ, cùng với việc đảm bảo các hoạt động xúc tiến kinh tế, xúc tiến phát triển công nghiệp không làm suy thoái MT. Cần phải đưa việc quan tâm tới MT vào trong tất cả các khía cạnh của các chương trình hợp tác, trợ giúp để phát triển; đẩy nhanh các dự án GDMT cộng đồng và giáo dục những người lập chính sách.
- Hỡi các nhà GDMT, đã đến lúc phải thiết kế chương trình tổng thể (Environmental Educators, It is Time to design a Whole Curriculum Now) của Pen - Jen Chen, Trường đại học sư phạm quốc gia Đài Bắc, Đài Loan. Công trình đã đánh giá việc nhiều nhà nghiên cứu GDMT đã hết sức cố gắng để đƣa GDMT trở thành ngành giáo dục chính thức từ trước thập niên 70. Các nhà MT học đã đưa ra những tài liệu đa dạng nhằm giúp đỡ các công dân và đặc biệt là HS để họ hiểu thấu đáo các cách thức bảo vệ cho trái đất. Tuy nhiên, tác giả công trình kêu gọi việc xây dựng một chương trình giáo dục xanh là cần thiết và phù hợp với sự phát triển bền vững trong thế kỷ XXI.
Chương trình này có mối liên hệ chặt chẽ các thành phần tích cực của nền giáo dục như giáo dục toàn cầu, giáo dục quyền công dân, giáo dục dân chủ, giáo dục hòa bình, giáo dục AIDS, Khoa học - Công nghệ - (MT) - xã hội [ST(E)S], nghiên cứu địa phương,. Chương trình giáo dục xanh phải tổng hợp tất cả các mục tiêu được xác định bởi những người ủng hộ giáo dục MT để xây dựng một chương trình giáo dục mới cho thế kỉ XXI. - Dạy và học trong GDMT: Phát triển nhận thức về MT (Teaching and learning in Environmental Education: Developing Environmental Conceptions) của R. Packer, giảng viên Đại học Kỹ thuật Queensland, Brisbane, Australia.
Công trình đã trình bày mô hình lý thuyết nhằm phát triển nhận thức về MT. Mô hình đó là việc thống nhất về kiến thức, thái độ và định hƣớng hành vi với MT. Bên cạnh đó, công trình cũng đề cập đến việc áp dụng các nguyên tắc tích cực trong dạy học, cung cấp nền tảng nhằm khuyến khích sinh viên các trường đại học nên tích cực hơn, đối diện với những mâu thuẫn và đưa ra những quyết định đánh giá được sự quan tâm của họ đối với các quan điểm về MT.