MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Giáo dục và đào tạo là lĩnh vực có vai trò quan trọng đối với mọi quốc gia, dân tộc ở mọi thời đại. Trong xu thế phát triển tri thức ngày nay, giáo dục – đào tạo được xem là chính sách, biện pháp quan trọng hàng đầu để phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Để đảm bảo phát triển bền vững, nhiều quốc gia đã không ngừng đổi mới giáo dục đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trang bị cho các thế hệ tương lai nền tảng văn hóa vững chắc và năng lực thích ứng cao trước mọi biến động của thiên nhiên và xã hội.
Đổi mới giáo dục đã trở thành nhu cầu cấp thiết và xu thế mang tính toàn cầu. Trong định hướng đổi mới, Bộ Giáo dục và Đào tạo nước ta khẳng định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môm học; bồi dưỡng phương pháp tự học, làm việc theo nhóm; rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn” (Luật Giáo dục, 2005; QH11/ số 28). Tại Hội nghị Trung ương VI khóa XI, Đảng cũng đã có những kết luận quan trọng về tính cấp thiết phải đổi mới PPDH: “Đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tư duy sang tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi trọng thực hành, thực nghiệm, ngoại khóa, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay …” Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đang được triển khai đồng bộ trong hệ thống giáo dục nước ta. Sự đổi mới được nhấn mạnh trên cả mục tiêu giáo dục và chương trình giáo dục.
Đặc biệt là sự đổi mới về phương pháp giáo dục, giáo dục nhằm phát triển năng lực của học sinh. Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể được Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố ngày 26/12/2018 đã chỉ rõ hệ thống năng lực chung (năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo) và năng lực đặc thù (năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất) của các môn học mà học sinh cần đạt được. Đồng 1 thời chương trình giáo dục tổng thể cũng nhấn mạnh việc tổ chức hoạt động trải nghiệm và coi đây là một trong những ưu thế vượt trội để phát triển năng lực của học sinh [2]. Học tập trải nghiệm được xem là một điểm nhấn của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục hiện nay.
Học tập trải nghiệm là chìa khóa thực hiện học đi đôi với hành, học qua làm, học giải quyết các vấn đề thực tiễn ngay trong lớp, trong trường. Đây là phương pháp ưu việt cho sự phát triển năng lực sáng tạo, giúp học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức, hình thành các năng lực, giá trị và phẩm chất của bản thân. Vật lí là ngành khoa học nghiên cứu các dạng vận động đơn giản, tổng quát nhất của vật chất và tương tác giữa chúng. Chương trình môn học Vật lí coi trọng việc rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức đã học để tìm hiểu và giải quyết ở mức độ nhất định một số vấn đề của thực tiễn, đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống, vừa đảm bảo phát triển năng lực Vật lí – biểu hiện của năng lực khoa học tự nhiên, vừa đáp ứng yêu cầu định hướng nghề nghiệp của học sinh [5].
Thí nghiệm và thực hành đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành khái niệm, quy luật, định luật Vật lí. Vì vậy, chương trình Vật lí chú trọng rèn luyện cho học sinh khả năng tìm hiểu các thuộc tính của Vật lí thông qua các nội dung thí nghiệm, thực hành dưới các góc độ khác nhau. Phương pháp dạy học môn Vật lí được thực hiện theo những định hướng chung, trong đó có: “Vận dụng linh hoạt các phương pháp, kĩ thuật, hình thức tổ chức dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vốn hiểu biết, kinh nghiệm sống của học sinh trong học tập, tránh áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc…”[3]. Định hướng này đặt ra yêu cầu là cần phải có phương pháp tổ chức hoạt động học tập nhằm giúp học sinh thực hành cũng như trải nghiệm những kiến thức đã được học, qua đó hình thành các năng lực cần thiết.
Một trong những biện pháp hiệu quả trong dạy học hiện nay là tổ chức học tập trải nghiệm trải nghiệm – mô hình học tập mà cơ sở khoa học là lý thuyết học thông qua trải nghiệm của David Kold. 2 Yêu cầu của giáo dục hiện nay là nâng cao năng lực cho người học. Do đó, trong trường học cần phải chuyển đổi từ dạy học theo định hướng nội dung sang dạy học theo định hướng phát triển năng lực. Môn Vật lí 9 cũng hướng tới hình thành và phát triển các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung ở người học.
Trường TH, THCS & THPT Ngô Thời Nhiệm là trường tư thục được thành lập từ năm 1997. Trải qua hơn 20 năm hình thành và phát triển, đặc biệt là để giữ vững sứ mệnh giáo dục ngày càng lớn mạnh, nhà trường đã không ngừng đổi mới trong giáo dục, luôn hướng tới chất lượng nguồn nhân lực. Tuy nhiên, việc dạy học môn Vật lí 9 hiện nay chưa thật sự hướng tới phát triển các năng lực cho người học mà chủ yếu hướng học sinh đến những nội dung trong sách giáo khoa, mang tính chất cơ bản, chưa đi vào vấn đề thực tiễn cuộc sống; phương pháp dạy học còn thiếu những hoạt động giúp học sinh có thể tự kiến tạo kiến thức, đồng thời trải nghiệm những kiến thức đã học. Thực trạng này khiến học sinh bị động, lúng túng trong việc giải quyết các tình huống có vấn đề đặt ra trong thực tế; đồng thời năng lực vận dụng kiến thức Vật lí vào giải quyết tình huống thực tiễn của HS cũng còn hạn chế.
Xuất phát từ tính cần thiết và hiệu quả của việc tổ chức học tập trải nghiệm, cũng như thực trạng dạy học và năng lực hiện có của học sinh lớp 9 trường Ngô Thời Nhiệm, người nghiên cứu nhận thấy học tập trải nghiệm có thể được áp dụng tại trường và việc áp dụng này có thể nâng cao năng lực vận dụng kiến thức Vật lí đã học vào giải quyết tình huống thực tiễn của học sinh lớp 9 tại trường. Do đó, người nghiên cứu chọn đề tài: “Tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm môn Vật lí 9 tại trường TH, THCS & THPT Ngô Thời Nhiệm, quận 9, TP HCM” để làm đề tài nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu Thông qua tổ chức hoạt động HTTN môn Vật lí 9 tại trường TH, THCS & THPT Ngô Thời Nhiệm, quận 9, TP HCM sẽ rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức Vật lí vào giải quyết tình huống thực tiễn cho học sinh. Nhiệm vụ nghiên cứu Đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau: 3 - Hệ thống cơ sở lí luận về tổ chức hoạt động HTTN môn Vật lí 9.
- Nghiên cứu thực trạng tổ chức hoạt động HTTN môn Vật lí 9 tại trường TH, THCS & THPT Ngô Thời Nhiệm. - Biện pháp tổ chức hoạt động HTTN môn Vật lí 9 tại trường TH, THCS & THPT Ngô Thời Nhiệm, quận 9, TP HCM. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4. Khách thể nghiên cứu Quá trình dạy học môn Vật lí 9 tại trường THCS.
Đối tượng nghiên cứu Tổ chức hoạt động HTTN môn Vật lí 9. Giả thuyết nghiên cứu Hiện nay, trong dạy học môn Vật lí 9 tại trường TH, THCS & THPT Ngô Thời Nhiệm, Quận 9, TP HCM việc thiết kế và tổ chức hoạt động học tập giúp HS tự khám phá kiến thức và vận dụng kiến thức đã học vào GQVĐ thực tiễn chưa được quan tâm đầu tư về phương pháp và cách thức thực hiện. Do đó, năng lực vận dụng kiến thức Vật lí vào giải quyết tình huống thực tiễn của HS còn hạn chế. Năng lực vận dụng kiến thức Vật lí vào giải quyết vấn đề thực tiễn của HS sẽ được cải thiện khi tổ chức hoạt động HTTN môn Vật lí 9 tại trường TH, THCS & THPT Ngô Thời Nhiệm, Quận 9, TP HCM.
Phạm vi nghiên cứu 6. Về nội dung Đề tài tổ chức các dạng hoạt động HTTN môn Vật lí lớp 9 trong xây dựng kiến thức và vận dụng kiến thức với các nội dung thuộc chương II: Điện từ học. Trong đó, các chủ đề HTTN được tổ chức gồm: - Chủ đề: Trái Đất là một nam châm khổng lồ (Bài: Tác dụng từ của nam châm, của dòng điện) - Chủ đề: Làm đầu tuốc-nơ-vít nhiễm từ và hút được các vật nhẹ bằng sắt, thép (Bài: Nam châm điện. Ứng dụng của nam châm) - Chủ đề: Chế tạo động cơ điện một chiều đơn giản (Bài: Lực điện từ) 4 6.
Về khách thể khảo sát và địa bàn khảo sát Đề tài nghiên cứu thực trạng dạy học môn Vật lí lớp 9 trên 07 GV và 160 HS lớp 9 tại trường TH, THCS & THPT Ngô Thời Nhiệm. Đề tài thực nghiệm sư phạm tổ chức hoạt động HTTN môn Vật lí lớp 9 tại lớp 9A2 và lớp 9A3 trường TH, THCS & THPT Ngô Thời Nhiệm, quận 9, TP HCM. Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: 7. Phương pháp nghiên cứu lý luận Phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa các tài liệu khoa học về đổi mới phương pháp dạy học, HTTN; HTTN môn Vật lí; các phương pháp tổ chức hoạt động HTTN môn Vật lí 9, phương pháp dạy học môn Vật lí đã được xuất bản trên các ấn phẩm trong và ngoài nước.
Kết quả phân tích các tài liệu là cơ sở khoa học để xác lập khung cơ sở lý luận về tổ chức hoạt động HTTN môn Vật lí lớp 9 cho đề tài. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 7. Phương pháp quan sát Đề tài sử dụng phương pháp quan sát để thu thập thông tin định tính về hoạt động dạy môn Vật lí 9 của GV và hoạt động học Vật lí 9 của HS. Phương pháp nghiên cứu này còn được sử dụng để thu thập thông tin về sự thay đổi năng lực vận dụng kiến thức Vật lí vào giải quyết tình huống thực tiễn của HS lớp 9 tại trường TH, THCS & THPT Ngô Thời Nhiệm khi tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm môn Vật lí lớp 9.