Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc tổ chức dạy học theo định hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh. Thiết kế phương án dạy học chương “Điện tích- Điện trường” theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh ở Trung tâm Giáo dục thường xuyên Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƢỚNG BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.
Tổng quan nghiên cứu về năng lực Có rất nhiều đề tài nghiên cứu về năng lực nhưng cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về khái niệm năng lực. - Theo quan điểm của các nhà khoa học di truyền học: năng lực con người nó phụ thuộc vào tính chất bẩm sinh, di truyền của gen của mỗi người. - Theo quan điểm của các nhà khoa học xã hội học: năng lực con người phụ thuộc vào nhân cách con người được quyết định bởi xã hội. - Theo quan điểm của các nhà tâm lý học: năng lực con người là sự thích nghi với điều kiện và môi trường sống xung quanh.
Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học đề cập đến năng lực như: A.Lêônchiép, Platônốp, Kovaliốp, D.Anôkhin, Các nhà tâm lý học, giáo dục học, xã hội học ở Việt Nam đã cũng đã nghiên cứu và phát triển các quan niệm về năng lực. - Luận văn của tác giả Bùi Văn Huệ viết năm 2000 cho rằng :“Năng lực là một tổ hợp những thuộc tính độc đáo của một cá nhân nó phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt kết quả tốt nhất”. - Luận văn của tác giả Phạm Minh Hạc viết năm 2002 cho rằng : “Năng lực là các đặc điểm tâm lý ở con người nó tạo điều kiện để quy định tốc độ, chiều sâu, cường độ của việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo”.Tổng quan các đề tài nghiên cứu về dạy học chương “Điện tích- Điện trường” - Vật lí 11 Dạy học Vật lí gắn liền với thực tiễn là mong muốn của rất nhiều giáo 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com viên , bởi Vật lí là môn khoa học gắn với cuộc sống con người. Nếu học sinh thấy được sự gần gũi giữa kiến thức bộ môn với thực tế các em sẽ thích môn vật lí hơn, hứng thú tìm hiểu khoa học, có thêm ý thức, kỹ năng sống và có năng lực vận dụng kiến thức tốt hơn.
Thế nhưng còn nhiều nguyên nhân dẫn đến việc liên hệ giữa nội dung bài học tới thực tiễn còn nhiều khó khăn. Đặc biệt dạy học trong chương “ Điện tích- Điện trường” đòi hỏi học sinh cần nhiều kỹ năng như thu thập xử lí thông tin số liệu, kỹ năng làm thí nghiệm, kỹ năng làm việc nhóm… Yêu cầu học sinh phải có tính tự học cao. Những năm trước đây cũng đã có nhiều đề tài nghiên cứu về chương“Điện tích – Điện trường”. Tuy nhiên những nghiên cứu đó chỉ dừng lại ở mục đích giúp học sinh nắm được lý thuyết để vận dụng vào bài tập, củng cố kiến thức.Trong vấn đề nghiên cứu, các nhà nghiên cứu chỉ đưa ra phương pháp giảng dạy theo định hướng nội dung: Việc lựa chọn nội dung dựa vào các khoa học chuyên môn, không gắn với các tình huống thực tiễn, nội dung được quy định chi tiết trong chương trình, HS tiếp thu thụ động những tri thức được quy định sẵn .Mục tiêu dạy học được mô tả không chi tiết và không nhất thiết phải quan sát, đánh giá được và chủ yếu dạy học lý thuyết trên lớp học.Vì thế học sinh chưa có được phương pháp và cách học chương này một cách hiệu quả.
Khái niệm năng lực 1. Khái niệm năng lực Khái niệm năng lực là phạm trù được bàn đến trong nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội. Vì thế mà nó có nhiều cách để định nghĩa. Trong từ điển tiếng Việt : “Năng lực là khả năng, là điều kiện hoặc tự nhiên sẵn có để con người ta thực hiện một hành vi nào đó,là một phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với kết quả tốt nhất”.
Tóm lại, ta có thế đưa ra định nghĩa như sau: 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Năng lực là khả năng của mỗi con người để hoàn thành công việc trong hoàn cảnh nhất định nhờ việc tổng hợp các thuộc tính tâm sinh lí của con người được đánh giá qua việc mỗi cá nhân con người có khả năng giải quyết các công việc vấn đề đó” 1. Cấu trúc chung của năng lực hành động Sự kết hợp của 4 loại năng lực thành phần dưới đây tạo nên cấu trúc chung của năng lực hành động. -Thứ nhất là năng lực chuyên môn : Là khả năng giải quyết và đánh giá các kết quả các nhiệm vụ chuyên môn một cách chính xác. - Thứ hai là năng lực phương pháp : Bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn là khả năng tiếp nhận, xử lí và truyền thụ lại các vấn đề cần giải quyết.
Đề ra những kế hoạch và hành động mới. - Thứ ba là năng lực xã hội : Là khả năng giải quyết xử lí các tình huống giao tiếp trong xã hội giữa con người với nhau. - Thứ tư là năng lực cá thể: Là khả năng của mỗi cá nhân dùng để đánh giá mỗi cá nhân thông qua việc thực hiện được các kế hoạch đã đề ra 1.Bản chất của năng lực - Thứ nhất năng lực là sự khác biệt về tâm lý của cá nhân người này với người kia, với mỗi sự việc một hành động thì mỗi cá nhân có các giải quyết các nhau để đánh giá xem năng lực của mỗi người là khác nhau. - Thứ hai năng lực là những khác biệt về hiệu quả công việc hành động chứ không phải sự khác nhau chung chung nào.
- Thứ ba năng lực không liên quan đến những kiến thức kỹ năng, kỹ xảo ở mỗi cá nhân mà nó chỉ làm cho việc tiếp thu các kỹ năng kỹ xảo trở nên một cách dễ dàng hơn thôi. - Thứ tư năng lực của mỗi cá nhân có nguồn gốc bẩm sinh do hệ thống thần kinh trung ương nhưng chỉ được phát triển qua hoạt động phát triển của con người. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Phân biệt năng lực với tri thức, kỹ năng, kỹ xảo - Trí thức là khả năng hiểu biết tiếp thu, thu nhận, học hỏi kiến thức từ sách vở và từ kinh nghiệm cuộc sống của mỗi cá nhân. - Kỹ năng là sự vận dụng những kiến thức thu nhận được áp dụng vào thực tế để thực hiện một hành động nào đó.
- Kỹ xảo là sự lặp đi lặp lại những kỹ năng nhiều lần đến mức thuần thục để mỗi cá nhân không phải tập trung nhiều ý thức vào công việc đó. Còn năng lực có tính chất tương đối ổn đinh, cơ bản của cá nhân, cho phép nó thực hiện một hoạt động, công việc đạt kết quả nhất định. Mỗi cá nhân con người có trình độ và năng lực khác nhau.Không chỉ căn cứ vào trình độ bằng cấp mà nó còn phải căn cứ vào mức độ hoàn thành công việc. Năng lực tự học 1.
Khái niệm tự học Có rất nhiều khái niệm tự học được nêu ra nhưng được sử dụng nhiều nhất là khái niệm : “ Tự học chính là một quá trình mà người học tự thực hiện các hoạt động học tập trên lớp cũng như ở nhà của mình mà không nhất thiết phải có sự hỗ trợ của người khác. Học sinh tự đưa ra mục tiêu học tập của bản thân, phát hiện và sáng tạo ra nguồn tài liệu học phù hợp với bản thân mình, giúp ích cho quá trình học tập của mình và tự đánh giá được kết quả học tập của mình”. Nhiều học sinh hiện nay đang rơi vào tình trạng lúc nào cũng bận rộn với việc học ở trường, học thêm, bài tập về nhà… Có rất nhiều lý do khiến cho cuộc sống của các bạn trở nên bận rộn tới mức ngạt thở. Khi tìm được phương pháp học hiệu quả biết sắp xếp thời gian hợp lí thì việc học của học sinh sẽ trở nên nhẹ nhàng.
Từ lúc đi học cho tới nay, các bạn đã nạp không biết bao nhiêu kiến thức vào đầu. Những con chữ từ sách vở, lời nói của giáo viên như món ăn đã được tinh chế sẵn chỉ việc ngồi và thưởng thức. Nhiều người cho rằng như vậy là rất may mắn khi không cần phải động 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com não quá nhiều. Chỉ cần đến lớp ghi chép bài đầy đủ và học bài cẩn thận là tới lúc thi có thể đạt được điểm cao, không được điểm cao thì ít ra cũng qua môn đó do những gì mình viết ra là những gì sách nói, thầy cô dạy, sai làm sao được.Hoặc nếu không hiểu những gì trên lớp thầy cô dạy thì đã có cách đi học thêm, lại một quá trình tiếp thu một cách thụ động khác được nạp vào bởi lúc này tinh thần tự học của mọi người lại càng giảm xuống, sẽ lại phụ thuộc vào các lớp học thêm.
Cũng có rất nhiều loại sách tham khảo ra đời: như các loại văn mẫu, hướng dẫn… Học sinh lại càng trở nên lười suy nghĩ hơn đó là lối học thụ động không đạt hiệu quả giống kiểu học vẹt không hiểu được bản chất. Nhiều bạn cho rằng cứ phải chép bài đầy đủ thì mới có thể hiểu được bài nên cứ cắm cúi chéplấy chép để, nuốt gọn từng lời giáo viên nói bất kể đó là ý chính hay ý phụ rồi về học thuộc với hi vọng đề thi sẽ rơi vào những phần đó. Với họ, đôi khi không ghi chép đầy đủ chính là không học bởi thói quen lười suy nghĩ, chắt lọc tri thức khiến họ không biết phải bắt đầu học từ đâu. Năng lực tự học Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn đào tạo,Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn quan niệm “ Cốt lõi của học là tự học” và “… khi nói đến tự học là chỉ riêng nội lực của người học”.
Khi học sinh ở nhà ôn bài, suy nghĩ các câu hỏi, tự tra cứu sách vở để giải đáp thắc của bản thân cũng là một hoạt động tự học. “Năng lực tự học được hiểu là một thuộc tính kỹ năng rất phức hợp.