phần Mở đầu; Kết luận; Khuyến nghị; Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn dự kiến đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở khoa học của đề tài Chƣơng 2. Xử lý dạy học bài “Vẻ đẹp của thơ ca” theo hƣớng phát triển năng lực cho học sinh lớp 10 Chƣơng 3. Thực nghiệm sƣ phạm 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.
Dạy học theo định hƣớng phát triển năng lực 1. Năng lực và phân loại năng lực 1.1 Khái niệm năng lực Khái niệm NL có nguồn gốc từ tiếng Latinh “competentia”, có nghĩa là gặp gỡ. Trong tiếng Anh, “năng lực” có thể đƣợc dùng với những thuật ngữ nhƣ capability, ability, competency, capacity,. Khái niệm NL đã đƣợc con ngƣời biết đến từ lâu, nhƣng chỉ đến những năm 70 của thế kỉ XX, trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, khái niệm này mới đƣợc tập trung nghiên cứu ở nhiều phƣơng diện khác nhau nhƣ triết học, tâm lí học, kinh tế học, giáo dục học, xã hội học.
Ngƣời viết xin đƣợc điểm lại một số quan điểm, định nghĩa NL của các tác giả trong nƣớc và trên thế giới. Trên thế giới: Đáng chú ý nhất là định nghĩa về NL của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế Thế giới (OECD): năng lực là khả năng đáp ứng thành công những yêu cầu phức tạp trong một bối cảnh cụ thể thông qua việc huy động những tiền đề về mặt tâm lí xã hội (bao gồm cả khía cạnh nhận thức và phi nhận thức [17,Tr97]. Định nghĩa của tác giả F. Weinert: năng lực là tổng hợp các khả năng và kĩ năng sẵn có hoặc học được cũng như sự sẵn sàng của học sinh nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh và hành động một cách có trách nhiệm, có sự phê phán để đi đến giải pháp [17,Tr98].
Rudich, NL là tính chất tâm sinh lí của con ngƣời chi phối các quá trình tiếp thu các kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo cũng nhƣ hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định. 11 Gerard và Roegiers (1993) đã định nghĩa NL là một tích hợp những kĩ năng cho phép nhận biết một tình huống và đáp ứng với tình huống đó một cách tích hợp và một cách tự nhiên. Theo John Erpenbeck, NL đƣợc tri thức làm cơ sở, đƣợc sử dụng nhƣ khả năng, đƣợc quy định bởi giá trị, đƣợc tăng cƣờng qua kinh nghiệm và đƣợc thực hiện hóa qua chủ định. Perrenoud (1997), việc xây dựng NL có nghĩa là tạo điều kiện cho cá nhân huy động, áp dụng và tích hợp kiến thức thu đƣợc trong các tình huống phức tạp khác nhau và không thể đoán trƣớc.
Ông đƣa ra định nghĩa NL là khả năng hoạt động hiệu quả trong một số tình huống nhất định dựa trên kiến thức nhƣng khả năng này không có giới hạn. Theo Weitert (2001), NL là những khả năng và kĩ xảo học đƣợc hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng nhƣ sự sẵn sàng về động cơ, xã hội. và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt. Ở Việt Nam: Theo Từ điển Tiếng Việt [18,Tr816], NL đƣợc hiểu là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” khi đề cập tới NL của đối tƣợng nào đó hoặc “là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con ngƣời khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lƣợng cao” khi đề cập tới NL của con ngƣời.
Tác giả Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn khẳng định: Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy. Tác giả Đào Trọng Khanh (2011) đã nghiên cứu phát triển NL và tƣ duy kĩ thuật, cho rằng NL cũng đƣợc hiểu là một thuộc tính nhân cách phức hợp, bao gồm kĩ năng, kĩ xảo cần thiết, đƣợc định hình trên cơ sở kiến thức, đƣợc 12 gắn bó đa dạng với động cơ và thói quen tƣơng ứng, làm cho con ngƣời có thể đáp ứng đƣợc những yêu cầu đặt ra trong công việc. Một cách khái quát, theo PGS. Đào Trọng Khanh, có thể hiểu NL là phẩm chất tâm lí và sinh lí của con ngƣời đảm bảo thực hiện đƣợc một hoạt động nào đó.
Tác giả Hoàng Hòa Bình đã định nghĩa: năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Hai đặc trưng cơ bản của năng lực là: 1) Được bộc lộ, thể hiện qua hoạt động; 2) Đảm bảo hoạt động có hiệu quả, đạt kết quả mong muốn"[17,Tr101]. Đối chiếu các định nghĩa về NL của các tác giả trong và ngoài nƣớc, có thể hiểu NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể [17,Tr101].
Phân loại năng lực Phân loại NL là một vấn đề rất phức tạp. Kết quả phụ thuộc vào quan điểm và tiêu chí phân loại. Hiện nay, các nhà nghiên cứu đều thống nhất có hai loại năng lực chính: năng lực chung (general competence) và năng lực cụ thể, chuyên biệt (specific competence). NL chung là NL trong một phạm vi rộng, tạo tiền đề và là cơ sở cần thiết trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau.
Ví dụ, ngƣời có NL nhận thức sẽ có khả năng học tập tốt nhiều môn học khác nhau; ngƣời có NL về thao tác vật chất sẽ có khả năng thành thạo trong nhiều ngành nghề khác nhau. NL chung là NL cơ bản, thiết yếu để con ngƣời có thể sống và làm việc bình thƣờng trong xã hội. NL này đƣợc hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học. Vì thế có nƣớc gọi là NL xuyên chương 13 trình (cross-curricular competencies).
Hội đồng châu Âu gọi là năng lực chính (key competence). Cũng cần lƣu ý khái niệm năng lực chính đƣợc nhiều nƣớc trong khối EU sử dụng với các thuật ngữ khác nhau nhƣ: NL nền tảng (socles de competences), NL chủ yếu (essential competences), kĩ năng chính (key skills), kĩ năng cốt lõi (core skills), NL cơ bản (basic competencies), khả năng/phẩm chất chính (key qualifications), kĩ năng chuyển giao được (key transferable skills). Theo quan điểm của EU, mỗi năng lực chung cần: a) Góp phần tạo nên kết quả có giá trị cho xã hội và cộng đồng; b) Giúp cho các cá nhân đáp ứng đƣợc những đòi hỏi của một bối cảnh lớn và phức tạp; c) Chúng có thể không quan trọng với các chuyên gia, nhƣng rất quan trọng với tất cả mọi ngƣời [17,Tr105]. NL chung của HS có thể phân thành hai nhóm: Nhóm NL nhận thức: đó là NL thuần tâm gắn liền với các quá trình tƣ duy (quá trình nhận thức) nhƣ năng lực ngôn ngữ; năng lực tính toán và suy luận logic/tƣ duy trìu tƣợng; NL giải quyết vấn đề; NL tri giác không gian; NL sáng tạo; NL cảm xúc; NL tƣơng tác; NL ghi nhớ; năng lực tự học; NL ngoại ngữ; NL công nghệ.và NL nghĩ về cách suy nghĩ – siêu nhận thức.
Mỗi NL nhận thức này trong nhóm NL nhận thức lại gồm các NL cụ thể/NL thành phần. Nhóm các năng lực phi nhận thức: đó là các NL không thuần tâm thần, mà có sự pha trộn các nét/phẩm chất nhân cách nhƣ NL vƣợt khó; NL thích ứng; NL thay đổi suy nghĩ/tạo niềm tin thiết thực tích cực; NL ứng phó stress; NL quan sát; NL tập trung chú ý; NL quản lí/lãng đạo/phát triển bản thân. NL cụ thể, chuyên biệt là NL riêng đƣợc hình thành và phát triển do một lĩnh vực/môn học nào đó, vì thế chƣơng trình Quebec gọi là năng lực môn học cụ thể (subject – specific competencies) để phân biệt với năng lực xuyên chương trình, năng lực chung. 14 Sáng tạo và đọc diễn cảm là ví dụ để phân biệt hai loại NL này.
Sáng tạo là NL chung. Nó là sản phẩm của tất cả các môn học/hoạt động và đòi hỏi vận dụng ở tất cả các môn học/hoạt động; còn đọc diễn cảm là NL riêng, NL do môn Tiếng Việt và Văn học đảm nhận. Trong cuộc sống rất cần NL sáng tạo; không sáng tạo thì không thể phát triển, thậm chí khó tồn tại. Nhƣng không đọc diễn cảm đƣợc thì cũng không có gì ảnh hƣởng lớn.
NL chuyên biệt sẽ góp phần hình thành NL chung, NL chung là cơ sở để phát huy NL chuyên biệt. Hai loại NL: NL chung và NL chuyên biệt không bao giờ tách biệt mà luôn bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Môn Ngữ văn gồm hai NL chuyên biệt là NL văn học và NL ngôn ngữ. NL văn học, một biểu hiện của NL thẩm mĩ, là khả năng tiếp nhận và tạo lập văn bản văn học.
Khả năng tiếp nhận văn bản văn học đƣợc thể hiện qua việc vận dụng kiến thức văn học và kinh nghiệm cá nhân vào việc đọc, giải mã, kiến tạo nghĩa và đánh giá văn bản văn học. Khả năng tạo lập văn bản văn học đƣợc thể hiện qua khả năng biểu đạt cảm xúc và ý tƣởng bằng hình thức ngôn từ mang tính thẩm mĩ cao, có thể sáng tác văn học. NL văn học chính là NL đặc trƣng của môn Ngữ văn. Với NL này, môn Ngữ văn có vai trò và tác dụng to lớn trong việc giáo dục tƣ tƣởng, bồi dƣỡng tâm hồn, nhân cách cho ngƣời học.
NL ngôn ngữ đƣợc hiểu là khả năng sử dụng các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ để chuyển tải, trao đổi thông tin về các phƣơng diện của đời sống xã hội, trong từng bối cảnh/ngữ cảnh cụ thể, nhằm đạt đƣợc mục đích nhất định trong việc thiết lập mối quan hệ giữa những con ngƣời với nhau trong xã hội. NL ngôn ngữ bao gồm các thành tố: sự hiểu biết và khả năng sử dụng ngôn ngữ, sự hiểu biết về các tri thức của đời sống xã hội, sự vận dụng phù hợp những hiểu biết trên vào tình huống phù hợp để đạt đƣợc mục đích. Trong môn Ngữ văn, việc hình thành và phát triển cho học sinh NL ngôn ngữ là mục tiêu quan trọng, cũng là mục tiêu thế mạnh của môn học.