Tổ chức dạy học bài "Vẻ đẹp của thơ ca" lớp 10 theo định hướng phát triển năng lực

Hướng dẫn dạy bài Vẻ đẹp của thơ ca (Kết nối tri thức) lớp 10 theo định hướng phát triển năng lực. Tài liệu hữu ích cho giáo viên và học sinh.

Trường đại học

Trường Đại học Giáo dục

Chuyên ngành

Sư phạm Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2023

201
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

3. Mục đích nghiên cứu

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

5. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

6. Phƣơng pháp nghiên cứu

7. Giả thuyết khoa học

8. Đóng góp mới của đề tài

9. Cấu trúc luận văn

1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Dạy học theo định hƣớng phát triển năng lực

1.2. Năng lực và phân loại năng lực

1.3. Quan niệm về dạy học theo định hƣớng phát triển năng lực HS

1.4. Dạy học Ngữ văn theo định hƣớng phát triển năng lực

1.5. Yêu cầu của chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018 về dạy học Ngữ văn theo định hƣớng phát triển năng lực

1.6. Phƣơng pháp dạy học Ngữ văn theo yêu cầu của chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018

1.7. Phƣơng pháp đánh giá môn Ngữ văn theo yêu cầu của chƣơng trình giáo dục phổ thông năm 2018

1.8. Thơ và dạy học thơ theo định hƣớng phát triển năng lực cho HS lớp 10

1.9. Khái niệm, đặc trƣng và phân loại thơ

1.10. Yêu cầu cần đạt, phƣơng pháp dạy học và kiểm tra đánh giá HS lớp 10 trong dạy học thơ theo định hƣớng phát triển năng lực

1.11. Đặc điểm và yêu cầu của bài “Vẻ đẹp của thơ ca” Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống

1.12. Đặc điểm của bài “Vẻ đẹp của thơ ca” trong sách Ngữ văn 10 – Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống

1.13. Yêu cầu của bài học “Vẻ đẹp của thơ ca” trong sách Ngữ văn 10 – (Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống)

1.14. Thực trạng dạy học bài “Vẻ đẹp của thơ ca” trong chƣơng trình SGK Ngữ văn 10

1.15. Tiểu kết chƣơng 1

2. XỬ LÝ DẠY HỌC BÀI “VẺ ĐẸP CỦA THƠ CA” THEO HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HS LỚP 10

2.1. Mục tiêu dạy học

2.2. Nguyên tắc dạy học

2.3. Bám sát vào mục tiêu bài học

2.4. Bám sát đặc trƣng thể loại

2.5. Bám sát vào tiến trình dạy học

2.6. Tích cực hóa hoạt động của học sinh

2.7. Đảm bảo tính vừa sức

2.8. Tổ chức các hoạt động dạy học

2.9. Dạy học đọc hiểu văn bản

2.10. Dạy học thực hành đọc hiểu văn bản “Cánh đồng” của tác giả Ngân Hoa

2.11. Dạy học viết

2.12. Dạy học nói và nghe

2.13. Tổ chức kiểm tra đánh giá

2.14. Mục đích đánh giá

2.15. Nội dung đánh giá

2.16. Công cụ đánh giá

2.17. Tiểu kết chƣơng 2

3. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM DẠY HỌC BÀI “VẺ ĐẸP CỦA THƠ CA” (BỘ SÁCH KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG) CHO HỌC SINH LỚP 10 THEO ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

3.1. Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm

3.2. Nội dung, đối tƣợng, thời gian và địa bàn thực nghiệm

3.3. Tổ chức thực nghiệm

3.4. Các bƣớc tiến hành

3.5. Thiết kế bài học

3.6. Kết quả thực nghiệm

3.7. Tiêu chí đánh giá

3.8. Đánh giá kết quả thực nghiệm

3.9. Đề kiểm tra đánh giá TN: (đề kiểm tra thực nghiệm: Phụ lục 4 )

3.10. Đánh giá chung về kết quả thực nghiệm

3.11. Tiểu kết chƣơng 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Dạy Học Vẻ Đẹp Thơ Ca Lớp 10 Mới Nhất

Chương trình Giáo dục 2018 đặt ra mục tiêu đổi mới toàn diện, trong đó có việc xã hội hóa biên soạn sách giáo khoa. Bộ môn Ngữ văn lớp 10 hiện có ba bộ sách giáo khoa (SGK) chính: Cánh Diều, Kết nối tri thức với cuộc sống, và Chân trời sáng tạo. Cả ba bộ SGK này đều bám sát nội dung và yêu cầu cần đạt của chương trình giáo dục phổ thông mới, đảm bảo cụ thể hóa chương trình, nội dung, cấu trúc của SGK. Nội dung, cấu trúc của SGK và của từng bài học đáp ứng yêu cầu về quy định tại thông tư 33. Cả ba bộ SGK Ngữ văn đều được biên soạn theo quan điểm mới, hiện đại có sự liên hệ, tiếp cận với SGK các nước tiên tiến trên thế giới nhưng đều phải đảm bảo phù hợp với điều kiện nhà trường và phù hợp với HS của từng cấp học. Việc đổi mới dạy học Ngữ văn ở bậc THPT theo định hướng phát triển năng lực cho HS đã được đặt ra. Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018 xác định Ngữ văn là môn học mang tính công cụ và tính thẩm mỹ - nhân văn. Môn Ngữ văn giúp học sinh có phương tiện giao tiếp, làm cơ sở để học tập các môn học khác và cũng là công cụ quan trọng để giáo dục học sinh những giá trị cao đẹp về văn hóa, văn học và ngôn ngữ dân tộc. Mục tiêu là phát triển ở học sinh những cảm xúc lành mạnh, tình cảm nhân ái, giàu lòng vị tha. Môn Ngữ văn còn có vai trò to lớn trong việc giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất cũng như những năng lực cốt lõi để sống và làm việc hiệu quả cũng như để học tập suốt đời. Tuy nhiên, trên thực tế việc tổ chức dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho HS còn mới và chưa được chú trọng một cách đồng bộ ở các trường học. Theo Giáo sư Đỗ Ngọc Thống, mặc dù đã có nhiều cố gắng đổi mới phương pháp dạy học, tình trạng giáo viên đọc – trò ghi chép vẫn còn tồn tại do áp lực thi cử. Hiện tượng HS đọc văn bản nhưng hiểu không đúng, hiểu hời hợt, nông cạn thậm chí là hiểu sai lệch giá trị nội dung cũng như giá trị nghệ thuật vẫn còn. Vì vậy việc tổ chức dạy học cho HS theo định hướng phát triển năng lực là việc làm cần thiết nhằm giúp HS phát triển toàn diện cả 4 kĩ năng: đọc, viết, nói, nghe.

1.1. Tầm quan trọng của việc phát triển năng lực cảm thụ thơ ca

Việc phát triển năng lực cảm thụ thơ ca lớp 10 là vô cùng quan trọng. Thơ ca luôn là một trong những thể loại hấp dẫn nhất, có sức mời gọi nhất tới độc giả, tới những nhà thơ, nhà văn, giới nghiên cứu, phê bình. Và đã có vô vàn những quan niệm, nhận định khác nhau về thơ. Các Mác đã từng nói: “Thơ ca là niềm vui cao cả nhất mà loài người đã tạo ra cho mình”. Tuy nhiên, để độc giả cảm nhận được cái hay cái đẹp của thơ lại còn khó hơn. Vì vậy, chương trình Ngữ văn mới đã có nhưng hiện nay chưa có hướng dẫn cụ thể nào triển khai chương trình dạy học nội dung Ngữ văn nói chung và dạy học thơ cho HS lớp 10 theo định hướng phát triển năng lực nói riêng.

1.2. Mục tiêu và ý nghĩa của bài Vẻ đẹp của thơ ca

Bài “Vẻ đẹp của thơ ca” là bài học số 2 các em HS lớp 10 sẽ được tiếp cận trong chương trình Ngữ văn học kì I – đây là một bài học khó không chỉ đối với các em, mà với GV chúng tôi để HS của mình hiểu bài, để HS phát triển toàn diện cả 4 kĩ năng đọc, viết, nói, nghe cũng không phải là một điều dễ dàng gì. Việc lựa chọn đề tài: Tổ chức dạy học bài “Vẻ đẹp của thơ ca”– (Bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống) cho học sinh lớp 10 theo định hướng phát triển năng lực để nghiên cứu, chúng tôi mong muốn góp phần đưa ra những hướng dẫn cụ thể để triển khai ND dạy học thể loại thơ lớp 10 trong chương trình SGK Ngữ văn mới, đồng thời, đáp ứng xu thế dạy học theo định hướng phát triển NL trong nhà trường hiện nay.

II. Thách Thức Dạy Vẻ Đẹp Thơ Ca Lớp 10 và Giải Pháp SEO

Việc dạy học vẻ đẹp thơ ca lớp 10 hiện nay đối mặt với nhiều thách thức. Chương trình và sách giáo khoa mới đòi hỏi giáo viên phải đổi mới phương pháp giảng dạy để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh. Tuy nhiên, nhiều giáo viên vẫn còn lúng túng trong việc áp dụng các phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực. Bên cạnh đó, áp lực thi cử cũng là một yếu tố cản trở quá trình đổi mới phương pháp dạy học. Tình trạng giáo viên đọc – trò ghi chép vẫn còn tồn tại. Để khắc phục những hạn chế này, cần có những giải pháp đồng bộ từ việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên đến việc thay đổi hình thức kiểm tra, đánh giá.

2.1. Thực trạng và nguyên nhân của những khó khăn

Một trong những nguyên nhân chính của những khó khăn này là sự thiếu hụt về kiến thức và kinh nghiệm của giáo viên trong việc áp dụng các phương pháp dạy học mới. Ngoài ra, điều kiện cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học ở nhiều trường học còn hạn chế, gây khó khăn cho việc tổ chức các hoạt động dạy học tích cực. Cuối cùng, tâm lý ngại thay đổi và thói quen dạy học truyền thống của một số giáo viên cũng là một yếu tố cản trở quá trình đổi mới phương pháp dạy học văn lớp 10.

2.2. Các giải pháp và hướng đi để vượt qua thách thức

Để vượt qua những thách thức này, cần có những giải pháp đồng bộ từ việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên đến việc thay đổi hình thức kiểm tra, đánh giá. Cụ thể, cần tăng cường các khóa tập huấn, bồi dưỡng về phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho giáo viên. Đồng thời, cần đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học hiện đại để hỗ trợ quá trình dạy học. Quan trọng nhất, cần tạo ra một môi trường khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới trong dạy học.

III. Phương Pháp Dạy Vẻ Đẹp Thơ Ca Lớp 10 Hiệu Quả Nhất

Để dạy vẻ đẹp thơ ca lớp 10 hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh. Giáo viên cần tạo ra một môi trường học tập thân thiện, cởi mở, khuyến khích học sinh tham gia vào các hoạt động thảo luận, tranh luận, chia sẻ cảm xúc và suy nghĩ của mình về tác phẩm. Bên cạnh đó, cần sử dụng các phương tiện trực quan, sinh động để giúp học sinh dễ dàng hình dung và cảm nhận được vẻ đẹp của thơ ca. Dạy học cá nhân hóa môn văn lớp 10 cũng là một giải pháp phù hợp.

3.1. Sử dụng phương pháp đọc hiểu tích cực và sáng tạo

Phương pháp đọc hiểu tích cực và sáng tạo giúp học sinh chủ động khám phá và cảm nhận được vẻ đẹp của thơ ca. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách đọc diễn cảm, phân tích ngôn ngữ, hình ảnh, nhịp điệu của thơ, từ đó hiểu được ý nghĩa và giá trị của tác phẩm. Đồng thời, cần khuyến khích học sinh liên hệ tác phẩm với thực tế cuộc sống, chia sẻ những trải nghiệm và suy nghĩ của mình về tác phẩm.

3.2. Tổ chức các hoạt động thảo luận tranh luận và chia sẻ

Các hoạt động thảo luận, tranh luận và chia sẻ giúp học sinh trao đổi kiến thức, kinh nghiệm, cảm xúc và suy nghĩ của mình về tác phẩm. Giáo viên cần tạo ra một môi trường học tập thân thiện, cởi mở, khuyến khích học sinh tự tin bày tỏ quan điểm của mình. Đồng thời, cần hướng dẫn học sinh cách lắng nghe và tôn trọng ý kiến của người khác.

3.3. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học thơ ca

Ứng dụng công nghệ trong dạy học thơ ca lớp 10 giúp học sinh tiếp cận với tác phẩm một cách trực quan, sinh động. Giáo viên có thể sử dụng các phần mềm trình chiếu, video, âm thanh để minh họa cho bài giảng. Đồng thời, có thể sử dụng các công cụ trực tuyến để tổ chức các hoạt động thảo luận, tranh luận, chia sẻ.

IV. Thiết Kế Bài Giảng Vẻ Đẹp Thơ Ca Lớp 10 Phát Triển NL

Việc thiết kế bài giảng vẻ đẹp thơ ca lớp 10 theo định hướng phát triển năng lực cần chú trọng đến việc xây dựng các hoạt động học tập đa dạng, phong phú, phù hợp với trình độ và sở thích của học sinh. Giáo viên cần xác định rõ mục tiêu của bài học, lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học phù hợp, đồng thời thiết kế các hoạt động kiểm tra, đánh giá để đo lường mức độ đạt được của học sinh.

4.1. Xác định mục tiêu và nội dung bài học cụ thể

Mục tiêu của bài học cần cụ thể, rõ ràng, đo lường được và phù hợp với trình độ của học sinh. Nội dung bài học cần bám sát chương trình sách giáo khoa, đồng thời mở rộng và nâng cao kiến thức cho học sinh. Cần lựa chọn những tác phẩm thơ tiêu biểu, có giá trị nghệ thuật cao và phù hợp với lứa tuổi của học sinh.

4.2. Xây dựng các hoạt động học tập đa dạng và phong phú

Các hoạt động học tập cần đa dạng và phong phú để thu hút sự chú ý của học sinh và phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh. Có thể sử dụng các hoạt động như: đọc diễn cảm, phân tích ngôn ngữ, hình ảnh, nhịp điệu của thơ, thảo luận, tranh luận, chia sẻ cảm xúc, viết bài cảm nhận, đóng kịch, vẽ tranh, làm thơ...

4.3. Lựa chọn phương pháp kiểm tra đánh giá phù hợp

Phương pháp kiểm tra, đánh giá cần phù hợp với mục tiêu của bài học và đánh giá được năng lực của học sinh. Có thể sử dụng các hình thức kiểm tra, đánh giá như: kiểm tra trắc nghiệm, kiểm tra tự luận, bài tập thực hành, bài thuyết trình, bài luận...

V. Ứng Dụng Dạy Vẻ Đẹp Thơ Ca Lớp 10 Theo Năng Lực Thực Tế

Việc ứng dụng dạy vẻ đẹp thơ ca lớp 10 theo năng lực thực tế đòi hỏi giáo viên phải linh hoạt, sáng tạo, biết vận dụng kiến thức và kinh nghiệm của mình để giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình dạy học. Giáo viên cần quan tâm đến từng học sinh, giúp đỡ những học sinh yếu kém, đồng thời tạo điều kiện cho những học sinh giỏi phát huy hết khả năng của mình.

5.1. Phân loại và hỗ trợ học sinh theo trình độ năng lực

Phân loại học sinh theo trình độ năng lực giúp giáo viên có thể đưa ra những phương pháp dạy học phù hợp với từng nhóm học sinh. Đối với những học sinh yếu kém, cần có những biện pháp hỗ trợ đặc biệt như: kèm cặp, phụ đạo, giao bài tập đơn giản hơn. Đối với những học sinh giỏi, cần tạo điều kiện cho các em phát huy hết khả năng của mình như: giao bài tập nâng cao, khuyến khích tham gia các hoạt động ngoại khóa.

5.2. Tạo môi trường học tập tích cực và thân thiện

Môi trường học tập tích cực và thân thiện giúp học sinh cảm thấy thoải mái, tự tin và hứng thú với môn học. Giáo viên cần tạo ra một bầu không khí cởi mở, tôn trọng lẫn nhau, khuyến khích học sinh tham gia vào các hoạt động học tập. Đồng thời, cần tạo điều kiện cho học sinh hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập.

5.3. Đánh giá kết quả học tập một cách khách quan và công bằng

Đánh giá kết quả học tập một cách khách quan và công bằng giúp học sinh nhận biết được điểm mạnh, điểm yếu của mình và có động lực để cố gắng hơn trong học tập. Giáo viên cần sử dụng nhiều hình thức đánh giá khác nhau như: kiểm tra trắc nghiệm, kiểm tra tự luận, bài tập thực hành, bài thuyết trình, bài luận... Đồng thời, cần đưa ra những nhận xét, đánh giá cụ thể, chi tiết về từng bài làm của học sinh.

VI. Kết Luận Và Hướng Phát Triển Dạy Vẻ Đẹp Thơ Ca L10

Việc dạy học bài “Vẻ đẹp của thơ ca” theo định hướng phát triển năng lực là một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự nỗ lực và sáng tạo của cả giáo viên và học sinh. Tuy nhiên, nếu thực hiện tốt, sẽ giúp học sinh phát triển toàn diện các năng lực cần thiết, đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp dạy học mới, phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng học sinh.

6.1. Tổng kết những kết quả đạt được và hạn chế còn tồn tại

Việc thực hiện đề tài luận văn đã góp phần đưa ra những hướng dẫn cụ thể để triển khai ND dạy học thể loại thơ lớp 10 trong chương trình SGK Ngữ văn mới, đồng thời, đáp ứng xu thế dạy học theo định hướng phát triển NL trong nhà trường hiện nay. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế như: thiếu kinh nghiệm trong việc áp dụng các phương pháp dạy học mới, điều kiện cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học còn hạn chế.

6.2. Đề xuất các hướng nghiên cứu và phát triển trong tương lai

Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp dạy học mới, phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng học sinh. Cần tăng cường các khóa tập huấn, bồi dưỡng về phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho giáo viên. Đồng thời, cần đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học hiện đại để hỗ trợ quá trình dạy học. Cuối cùng, cần tạo ra một môi trường khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới trong dạy học.

11/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu; Kết luận; Khuyến nghị; Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn dự kiến đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở khoa học của đề tài Chƣơng 2. Xử lý dạy học bài “Vẻ đẹp của thơ ca” theo hƣớng phát triển năng lực cho học sinh lớp 10 Chƣơng 3. Thực nghiệm sƣ phạm 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.

Dạy học theo định hƣớng phát triển năng lực 1. Năng lực và phân loại năng lực 1.1 Khái niệm năng lực Khái niệm NL có nguồn gốc từ tiếng Latinh “competentia”, có nghĩa là gặp gỡ. Trong tiếng Anh, “năng lực” có thể đƣợc dùng với những thuật ngữ nhƣ capability, ability, competency, capacity,. Khái niệm NL đã đƣợc con ngƣời biết đến từ lâu, nhƣng chỉ đến những năm 70 của thế kỉ XX, trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, khái niệm này mới đƣợc tập trung nghiên cứu ở nhiều phƣơng diện khác nhau nhƣ triết học, tâm lí học, kinh tế học, giáo dục học, xã hội học.

Ngƣời viết xin đƣợc điểm lại một số quan điểm, định nghĩa NL của các tác giả trong nƣớc và trên thế giới. Trên thế giới: Đáng chú ý nhất là định nghĩa về NL của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế Thế giới (OECD): năng lực là khả năng đáp ứng thành công những yêu cầu phức tạp trong một bối cảnh cụ thể thông qua việc huy động những tiền đề về mặt tâm lí xã hội (bao gồm cả khía cạnh nhận thức và phi nhận thức [17,Tr97]. Định nghĩa của tác giả F. Weinert: năng lực là tổng hợp các khả năng và kĩ năng sẵn có hoặc học được cũng như sự sẵn sàng của học sinh nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh và hành động một cách có trách nhiệm, có sự phê phán để đi đến giải pháp [17,Tr98].

Rudich, NL là tính chất tâm sinh lí của con ngƣời chi phối các quá trình tiếp thu các kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo cũng nhƣ hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định. 11 Gerard và Roegiers (1993) đã định nghĩa NL là một tích hợp những kĩ năng cho phép nhận biết một tình huống và đáp ứng với tình huống đó một cách tích hợp và một cách tự nhiên. Theo John Erpenbeck, NL đƣợc tri thức làm cơ sở, đƣợc sử dụng nhƣ khả năng, đƣợc quy định bởi giá trị, đƣợc tăng cƣờng qua kinh nghiệm và đƣợc thực hiện hóa qua chủ định. Perrenoud (1997), việc xây dựng NL có nghĩa là tạo điều kiện cho cá nhân huy động, áp dụng và tích hợp kiến thức thu đƣợc trong các tình huống phức tạp khác nhau và không thể đoán trƣớc.

Ông đƣa ra định nghĩa NL là khả năng hoạt động hiệu quả trong một số tình huống nhất định dựa trên kiến thức nhƣng khả năng này không có giới hạn. Theo Weitert (2001), NL là những khả năng và kĩ xảo học đƣợc hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng nhƣ sự sẵn sàng về động cơ, xã hội. và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt. Ở Việt Nam: Theo Từ điển Tiếng Việt [18,Tr816], NL đƣợc hiểu là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” khi đề cập tới NL của đối tƣợng nào đó hoặc “là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con ngƣời khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lƣợng cao” khi đề cập tới NL của con ngƣời.

Tác giả Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn khẳng định: Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy. Tác giả Đào Trọng Khanh (2011) đã nghiên cứu phát triển NL và tƣ duy kĩ thuật, cho rằng NL cũng đƣợc hiểu là một thuộc tính nhân cách phức hợp, bao gồm kĩ năng, kĩ xảo cần thiết, đƣợc định hình trên cơ sở kiến thức, đƣợc 12 gắn bó đa dạng với động cơ và thói quen tƣơng ứng, làm cho con ngƣời có thể đáp ứng đƣợc những yêu cầu đặt ra trong công việc. Một cách khái quát, theo PGS. Đào Trọng Khanh, có thể hiểu NL là phẩm chất tâm lí và sinh lí của con ngƣời đảm bảo thực hiện đƣợc một hoạt động nào đó.

Tác giả Hoàng Hòa Bình đã định nghĩa: năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Hai đặc trưng cơ bản của năng lực là: 1) Được bộc lộ, thể hiện qua hoạt động; 2) Đảm bảo hoạt động có hiệu quả, đạt kết quả mong muốn"[17,Tr101]. Đối chiếu các định nghĩa về NL của các tác giả trong và ngoài nƣớc, có thể hiểu NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể [17,Tr101].

Phân loại năng lực Phân loại NL là một vấn đề rất phức tạp. Kết quả phụ thuộc vào quan điểm và tiêu chí phân loại. Hiện nay, các nhà nghiên cứu đều thống nhất có hai loại năng lực chính: năng lực chung (general competence) và năng lực cụ thể, chuyên biệt (specific competence). NL chung là NL trong một phạm vi rộng, tạo tiền đề và là cơ sở cần thiết trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau.

Ví dụ, ngƣời có NL nhận thức sẽ có khả năng học tập tốt nhiều môn học khác nhau; ngƣời có NL về thao tác vật chất sẽ có khả năng thành thạo trong nhiều ngành nghề khác nhau. NL chung là NL cơ bản, thiết yếu để con ngƣời có thể sống và làm việc bình thƣờng trong xã hội. NL này đƣợc hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học. Vì thế có nƣớc gọi là NL xuyên chương 13 trình (cross-curricular competencies).

Hội đồng châu Âu gọi là năng lực chính (key competence). Cũng cần lƣu ý khái niệm năng lực chính đƣợc nhiều nƣớc trong khối EU sử dụng với các thuật ngữ khác nhau nhƣ: NL nền tảng (socles de competences), NL chủ yếu (essential competences), kĩ năng chính (key skills), kĩ năng cốt lõi (core skills), NL cơ bản (basic competencies), khả năng/phẩm chất chính (key qualifications), kĩ năng chuyển giao được (key transferable skills). Theo quan điểm của EU, mỗi năng lực chung cần: a) Góp phần tạo nên kết quả có giá trị cho xã hội và cộng đồng; b) Giúp cho các cá nhân đáp ứng đƣợc những đòi hỏi của một bối cảnh lớn và phức tạp; c) Chúng có thể không quan trọng với các chuyên gia, nhƣng rất quan trọng với tất cả mọi ngƣời [17,Tr105]. NL chung của HS có thể phân thành hai nhóm: Nhóm NL nhận thức: đó là NL thuần tâm gắn liền với các quá trình tƣ duy (quá trình nhận thức) nhƣ năng lực ngôn ngữ; năng lực tính toán và suy luận logic/tƣ duy trìu tƣợng; NL giải quyết vấn đề; NL tri giác không gian; NL sáng tạo; NL cảm xúc; NL tƣơng tác; NL ghi nhớ; năng lực tự học; NL ngoại ngữ; NL công nghệ.và NL nghĩ về cách suy nghĩ – siêu nhận thức.

Mỗi NL nhận thức này trong nhóm NL nhận thức lại gồm các NL cụ thể/NL thành phần. Nhóm các năng lực phi nhận thức: đó là các NL không thuần tâm thần, mà có sự pha trộn các nét/phẩm chất nhân cách nhƣ NL vƣợt khó; NL thích ứng; NL thay đổi suy nghĩ/tạo niềm tin thiết thực tích cực; NL ứng phó stress; NL quan sát; NL tập trung chú ý; NL quản lí/lãng đạo/phát triển bản thân. NL cụ thể, chuyên biệt là NL riêng đƣợc hình thành và phát triển do một lĩnh vực/môn học nào đó, vì thế chƣơng trình Quebec gọi là năng lực môn học cụ thể (subject – specific competencies) để phân biệt với năng lực xuyên chương trình, năng lực chung. 14 Sáng tạo và đọc diễn cảm là ví dụ để phân biệt hai loại NL này.

Sáng tạo là NL chung. Nó là sản phẩm của tất cả các môn học/hoạt động và đòi hỏi vận dụng ở tất cả các môn học/hoạt động; còn đọc diễn cảm là NL riêng, NL do môn Tiếng Việt và Văn học đảm nhận. Trong cuộc sống rất cần NL sáng tạo; không sáng tạo thì không thể phát triển, thậm chí khó tồn tại. Nhƣng không đọc diễn cảm đƣợc thì cũng không có gì ảnh hƣởng lớn.

NL chuyên biệt sẽ góp phần hình thành NL chung, NL chung là cơ sở để phát huy NL chuyên biệt. Hai loại NL: NL chung và NL chuyên biệt không bao giờ tách biệt mà luôn bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Môn Ngữ văn gồm hai NL chuyên biệt là NL văn học và NL ngôn ngữ. NL văn học, một biểu hiện của NL thẩm mĩ, là khả năng tiếp nhận và tạo lập văn bản văn học.

Khả năng tiếp nhận văn bản văn học đƣợc thể hiện qua việc vận dụng kiến thức văn học và kinh nghiệm cá nhân vào việc đọc, giải mã, kiến tạo nghĩa và đánh giá văn bản văn học. Khả năng tạo lập văn bản văn học đƣợc thể hiện qua khả năng biểu đạt cảm xúc và ý tƣởng bằng hình thức ngôn từ mang tính thẩm mĩ cao, có thể sáng tác văn học. NL văn học chính là NL đặc trƣng của môn Ngữ văn. Với NL này, môn Ngữ văn có vai trò và tác dụng to lớn trong việc giáo dục tƣ tƣởng, bồi dƣỡng tâm hồn, nhân cách cho ngƣời học.

NL ngôn ngữ đƣợc hiểu là khả năng sử dụng các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ để chuyển tải, trao đổi thông tin về các phƣơng diện của đời sống xã hội, trong từng bối cảnh/ngữ cảnh cụ thể, nhằm đạt đƣợc mục đích nhất định trong việc thiết lập mối quan hệ giữa những con ngƣời với nhau trong xã hội. NL ngôn ngữ bao gồm các thành tố: sự hiểu biết và khả năng sử dụng ngôn ngữ, sự hiểu biết về các tri thức của đời sống xã hội, sự vận dụng phù hợp những hiểu biết trên vào tình huống phù hợp để đạt đƣợc mục đích. Trong môn Ngữ văn, việc hình thành và phát triển cho học sinh NL ngôn ngữ là mục tiêu quan trọng, cũng là mục tiêu thế mạnh của môn học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ