phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia làm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về dạy học bài tập nhằm bồi dƣỡng năng lực vật lí cho học sinh. Chƣơng 2: Tổ chức hoạt động dạy học bài tập chƣơng chƣơng "Mắt. Các dụng cụ quang" - Vật lí 11 nhằm bồi dƣỡng năng lực Vật lí cho học sinh lớp 11. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm.
4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DẠY HỌC BÀI TẬP NHẰM BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC VẬT LÍ CỦA HỌC SINH 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu của đề tài 1. Về dạy học bồi dưỡng và phát triển năng lực Vài thập kỉ trƣớc đây, dạy học theo định hƣớng phát triển năng lực học sinh đã đƣợc triển khai trong các nhà trƣờng phổ thông ở những nƣớc có nền giáo dục tiên tiến. Đối với Việt Nam, dạy học (DH) theo định hƣớng phát triển năng lực (NL) học sinh (HS) đang trở thành một yêu cầu cấp thiết để thực hiện mục tiêu đổi mới căn bản, toàn điện giáo dục phổ thông (GDPT) theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa XI.
Từ đó, tổng quan nghiên cứu vấn đề DH theo định hƣớng phát triển NL HS có ý nghĩa rất quan trọng, nhằm đem lại một cái nhìn đầy đủ về vấn đề này trên cả phƣơng diện lí luận và thực tiễn. Phát triển chƣơng trình giáo dục theo hƣớng tiếp cận NL là xu thế toàn cầu và tất yếu trong nhà trƣờng ở mọi cấp học. Triết lí của chƣơng trình giáo dục dựa vào niềm tin rằng, tất cả ngƣời học, kể cả thiểu năng, đều có thể đạt đƣợc trình độ cao hơn và đạt đến mức cao nhất có thể nếu: 1) Chuẩn (các mong đợi ngƣời học đạt) đƣợc xác định rõ ràng; 2) Việc giảng dạy đƣợc thiết kế và đƣợc cung cấp để hỗ trợ cho thành đạt của mọi ngƣời học; 3) Nhà trƣờng tổ chức DH - kiểm tra, đánh giá (Đg) một cách chặt chẽ để ngƣời học đạt và thể hiện NL của mình. Vấn đề NL và tiếp cận NL trong GD cũng đƣợc nhiều tác giả trong nƣớc quan tâm nghiên cứu.
Từ những năm 80 của thế kỉ XX, các nhà Tâm lí học nhƣ Phạm Minh Hạc, Phạm Hoàng Gia, Lê Khanh, Trần Trọng Thủy và sau này là Nguyễn Quang Uẩn, Trần Hữu Luyến, Trần Quốc Thành… đã xem Nl nhƣ là một thuộc tính nhân cách, cùng với xu hƣớng, khí chất và tính cách. Đồng thời, các tác giả này đã đi sâu nghiên cứu và làm rõ những vấn đề chung của NL: từ khái niệm, cấu trúc đến mố quan hệ giữa NL với tƣ chất, tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và xu hƣớng, Theo họ, mỗi hoạt động đòi hỏi ở con ngƣời những thuộc tính tâm lí nhất định. Tổ hợp những thuộc tính tâm lí đó vừa là tiền đề, vừa là kết quả của chính hoạt động tƣơng ứng - đó chính là 5 NL. Vì thế, thông qua hoạt động, có thể chủ động tạo ra NL trong một lĩnh vực hoạt động nào đó.
Các tác giả trên cũng cho rằng, NL ngƣời không ngừng phát triển, đổi mới trên cơ sở phát triển của hoạt động lao động sáng tạo. sự xuất hiện liên tục những hình thức đã là xuất hiện ở con ngƣời những NL mới. Dƣới góc độ này, “NL ngƣời là sản phẩn của lịch sử”. Xây dựng chƣơng trình GDPT theo định hƣớng phát triển NL HS là phƣơng diện thu hút đƣợc sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu.
Có thể kể ra một số nghiên cứu của các tác giả: Đỗ Ngọc Thống, Lƣơng Việt Thái, Nguyễn Công Khanh… Theo các tác giả, CTGD truyền thống đƣợc xem là chƣơng trình định hƣớng nội dung; chú trọng việc truyền thụ cho ngƣờ học hệ thống tri thức khoa gọc về các lĩnh vực khác nhau. Còn CTGD định hƣớng NL ngƣời học. Chất lƣợng đầu ra là “sản phẩm cuối cùng” của quá trình DH. Việc quản lí chất lƣợng DH chuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức là kết quả học tập của HS.
CTGD định hƣớng phát triển NL không quy định những nội dung DH chi tiết mà quy định những kết quả đầu ra mong muốn của quá trình GD; trên cơ sở đó, đƣa ra những hƣớng dẫn chung về việc lựa chọn nộ dung, phƣơng pháp, tổ chức và ĐG kết quả DH nhằm đảm bảo thực hiện đƣợc mục tiêu DH, tức là đạt đƣợc kết quả đầu ra mong muốn. Trong CTGD định hƣớng phát triển NL, mục tiêu học tập (tức là kết quả học tập mong muốn) thƣờng đƣợc mô tả thông qua hệ thống các NL. Kết quả học tập mong muốn đƣợc mô tả chi tiết và có thể quan sát, ĐG đƣợc. HS cần đạt đƣợc những kết quả yêu cầu đã quy định trong chƣơng trình.
Việc đƣa ra các chuẩn đào tạo cũng nhằm đảm bảo quản lí chất lƣợng GD theo định hƣớng kết quả đầu ra. Ƣu điểm của CTGD theo định hƣớng phát triển NL là tạo điều kiện quản lí chất lƣợng theo kết quả đầu ra đã quy định, nhấn mạnh NL vận dụng của HS. Theo Đặng Quốc Bảo và Nguyễn Sỹ Thu, tổ chức DH theo định hƣớng phát triển NL HS là giúp HS thấu hiểu “học để làm gì - học cái gì” để có NL đích thực; đồng thời bồi dƣỡng cho HS cách “học hiệu quả” để có NL bền vững. Bên cạnh đó, các tác giả còn chỉ ra những NL tƣ duy nền tảng cần trang bị cho HS trong quá trình DH, đó là: Tƣ duy nguyên tắc (thông thạo một lĩnh vực chính và ít nhất một lĩnh vực chuyên môn); Tƣ duy tổng hợp (biết hợp nhất các ý kiến chuyển môn khác nhau 6 thành một tổng thể, gắn tổng thể này với tổng thể khác); Tƣ duy sáng tạo (biết khám phá và làm rõ những vấn đề, những đòi hỏi của thực tiễn); Tƣ duy tôn trọng (nhận biết và thấu hiểu sự khác nhau giữa các dòng tƣ tƣởng); Tƣ duy đạo đức (hoàn thành tắc nhiệm của một ngƣời lao động).
Về dạy học bài tập phát triển năng lực vật lí Bài tập có vai trò quan trọng trong dạy học vật lí ở trƣờng phổ thông. Đối với HS, bài tập không những giúp HS việc ôn tập, đào sâu mở rộng kiến thức; rèn kĩ năng, kĩ xảo, vận dụng kiến thức lí thuyết vào thực tiễn; mà còn thông qua việc thực hiện nhiệm vụ giải quyết bài tập học sinh có cơ hội làm việc tự lực, tự chủ, phát triển tƣ duy sáng tạo. Chính vì vậy, dạy học bài tập vật lí theo hƣớng phát triển năng lực nói chung và năng lực vật lí nói riêng của học sinh đã đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Tiêu biểu trong số đó có thể kể tới các nghiên cứu về xây dựng, sử dụng bài tập trong dạy học phát triển năng lực vật lí nhƣ: Nghiên cứu “Xây dựng và sử dụng bài tập gắn với thực tiễn trong dạy học vật lí nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức của học sinh trung học phổ thông” (2017) của tác giả Lê Thị Thu Hiền và Lê Hoàng Phƣớc Hiền.
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã đƣa ra quy trình và một số nguyên tắc khi xây dựng bài tập vật lí gắn với thực tiễn và xây dựng đƣợc một số bài tập gắn với thực tiễn chƣơng “Các định luật bảo toàn” - Vật lí 10, đồng thời sử dụng bài tập đó trong dạy học nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức vật lí. Bài viết sử dụng khung năng lực môn Vật lí đã đƣợc công bố năm 2016 để định hƣớng việc xây dựng hệ thống bài tập của chƣơng từ trƣờng trong chƣơng trình Vật lí trung học phổ thông. Trong đó năng lực vật lí đƣợc hiểu là “khả năng tìm ra quy luật, vận dụng quy luật về sự vận động, sự tƣơng tác, sự bảo toàn trong thế giới tự nhiên để giải quyết những vấn đề trong khoa học và trong đời sống” Nhóm nghiên cứu cũng thử nghiệm và sử dụng kĩ thuật “Guttman scalogram” để đánh giá khả năng phân hoá của hệ thống bài tập đã xây dựng. [2] 7 Với nghiên cứu “Xây dựng hệ thống bài tập bồi dƣỡng năng lực nhận thức vật lí cho học sinh trong dạy học vật lí 10” nhóm tác giả Quách Nguyễn Bảo Nguyên và Thị Maridâm” (2020) đã vận dụng quy trình xây dựng hệ thống bài tập theo định hƣớng bồi dƣỡng năng lực nhận thức vật lí của tác giả Đỗ Hƣơng Trà, Nguyễn Văn Biên và các cộng sự để xây dựng đƣợc hệ thống bài tập vật lí 10 theo các mực độ bài tập có thể sử dụng các cách khác nhau và sử dụng tỏng dạy học nhằm bồi dƣỡng năng lực nhận thức vật lí cho học sinh.
[17] Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu liên quan đến bài tập vật lí phát triển năng lực, tiêu biểu nhƣ nghiên cứu “Xây dựng hệ thống bài tập để sử dụng trong dạy học chƣơng “Các định luật bảo toàn” nhằm phát triển năng lực của học sinh” của nhóm tác giả Nguyễn Văn Biên - Phạm Văn Dinh (2017) hay của tác giả Vũ Thị Lan Hƣơng (2017) với nghiên cứu “Xây dựng hệ thống bài tập chƣơng “Động lực học chất điểm” - Vật lí 10 nhằm phát triển năng lực vật lí cho học sinh”. [3] [11] Trong số những nghiên cứu trên chƣa có nghiên cứu nào đề cập đến việc tổ chức dạy học bài tập chƣơng "Mắt. Các dụng cụ quang" Vật lí 11 nhằm bồi dƣỡng năng lực vật lí của học sinh. Cơ sở lí luận về việc dạy học bài tập nhằm bồi dưỡng năng lực vật lí cho học sinh 1.
Những vấn đề chung về bài tập vật lí 1. Khái niệm bài tập vật lí Bài tập vật lí đƣợc hiểu là những bài luyện tập đƣợc lựa chọn một cách phù hợp với mục đích chủ yếu là nghiên cứu các hiện tƣợng vật lí, hình thành các khái niệm, phát triển tƣ duy vật lí của học sinh và rèn kĩ năng vận dụng kiến thức của học sinh vào thực tiễn. Với định nghĩa trên, cùng với quan điểm của X.Ôrêkhốp thì bài tập vật lí là vận dụng kiến thức và hình thành kiến thức mới đều có mặt. Do đó, bài tập vật lí với tƣ cách là một phƣơng pháp dạy học giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong việc hoàn thành nhiệm vụ dạy học vật lí ở nhà trƣờng phổ thông.
Vai trò của bài tập vật lí Thông qua dạy học về bài tập vật lí, ngƣời học có thể nắm vững một cách chính xác, sâu sắc và toàn diện hơn những qui luật vật lí, những hiện tƣợng vật lí, biết cách 8 phân tích chúng và ứng dụng chúng vào các vấn đề thực tiễn, làm cho kiến thức trở thành vốn riêng của ngƣời học.