Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về stress và trầm cảm 1. Stress Hiện nay stress là một thuật ngữ được dùng rộng rãi, tuy nhiên mỗi tác giả sử dụng với những sắc thái khác nhau. Stress là một thuật ngữ tiếng Anh bắt nguồn từ chữ La tinh “stringi”, có nghĩa là “bị kéo căng ra”, được dùng trong vật lý học để chỉ một sức nén mà vật liệu phải chịu đựng.
Đến thế kỷ thứ 17 từ ý nghĩa sức ép trên vật liệu stress được chuyển sang dùng cho người với ý nghĩa sức ép hay sự xâm phạm nào đó tác động vào con người gây ra một phản ứng căng thẳng. Khi đó cơ thể tạo ra các chất hóa học gọi là cortisol, adrenaline và noradrenaline. Quá nhiều adrenaline và noradrenaline sẽ làm tăng huyết áp, tăng nhịp tim và đổ mồ hôi nhiều hơn. Quá nhiều cortisol ngăn cản sự hoạt động bình thường của hệ thống miễn dịch, và giải phóng mỡ và đường vào máu của cơ thể [12].
- Theo Hans Selye: Stress là một hội chứng bao gồm những đáp ứng không đặc hiệu của cơ thể đối với kích thích từ môi trường bên ngoài [11].Delay: Stress là một trạng thái căng thẳng cấp diễn của cơ thể, buộc cơ thể phải huy động các khả năng phòng vệ để đối phó với một tình huống đang đe doạ[11]. - Theo Đặng Phương Kiệt: Stress là kiểu đáp ứng riêng và chung được sinh vật tạo ra đối với các sự kiện kích thích làm đảo lộn thế cân bằng của sinh vật và vượt quá năng lực ứng phó của nó [10]. Như vậy thì tác nhân gây stress (stressor) là một sự kiện kích thích từ bên ngoài hoặc từ bên trong đặt ra một yêu cầu k hiến sinh vật phải có đáp ứng thích nghi nào đấy. Đáp ứng của một cá nhân đối với nhu cầu được thay đổi là một tổ hợp gồm các phản ứng đa dạng – sinh lý, ứng xử, cảm xúc và nhận thức [2].
Vậy chúng ta có thể hiểu stress là tổng thể đáp ứng của cơ thể con người trước một tình 5 huống đòi hỏi con người phải thích ứng như đáp ứng thể chất, sinh học; đáp ứng tinh thần hoặc nhận thức và đáp ứng hành vi [2]. Stress bình thường là một tình huống stress nhẹ, đối tượng chị u đựng được và có thể thích nghi tốt. Đối tượng điều chỉnh được trạng thái cân bằng mới. Stress trở nên bệnh lý khi tác nhân gây stress xuất hiện bất ngờ và quá mạnh hoặc không mạnh nhưng lặp đi lặp lại nhiều lần vượt quá khả năng chịu đựng của đối tượng , gây ra các rối loạn về thể chất, tâm thần và hành vi/ứng xử [11].
Trầm cảm Trầm cảm là một bệnh của hệ thần kinh trung ư ơng, thường gặp trong chuyên khoa tâm thần và thần kinh [11]. Trầm cảm là một bệnh rối loạn cảm xúc biểu hiện ở khí sắc trầm tức là c ó trạng thái cảm xúc buồn rầu, chán chường, u uất (sad mood), kéo dài ít nhất hai tuần lễ hay lâu hơn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến công việc cũng như cuộc sống thường ngày [9]. Đặc trưng của bệnh là làm thay đổi phương diện tình cảm, tư duy và hành vi , những biểu hiện này liên quan đến chức năng hoạt động não bộ do thiếu chất dẫn truyền thần kinh Serotonin và Norepinephrine [11]. Khi mắc chứng trầm cảm người bệnh suy nhược, mất hứng thú đối với công việc, mất cảm hứng thích thú với các hoạt động vui chơi và mất cảm xúc vui vẻ bình thường của con người , giảm tinh lực, giảm hiệu quả làm việc, giảm chất lượng giấc ngủ, cảm thấy tuyệt vọng, bi quan, cảm thấy tội lỗi, vô tích sự, thiếu tự chủ và đặc biệt là có thể làm cho con người cảm thấy như thể cuộc sống là không đáng sống… Trầm cảm có thể xảy ra với bất kì ai, ở bất kì độ tuổi nào; ở mỗi đối tượng khác nhau có những biểu hiện bệnh khác nhau.
Nhiều triệu chứng trầm cảm nhẹ kéo dài một thời gian sẽ chuyển sang trầm cảm nặng [11]. Biên chế chính thức Biên chế chính th ức là sau thời gian thử việc (đối với bác sĩ là 9 tháng và điều dưỡng là 6 tháng) được hội đồng cơ quan họp xét theo các tiêu chuẩn qui định để xếp vào ngạch lương. Triệu chứng của stress và trầm cảm 1. Triệu chứng của stress 6 Các dấu hiệu của stress bao gồm những bất bình thường về thể chất, thần kinh và quan hệ xã hội.
Có thể là sự kiệt sức, tự dưng thèm ăn hoặc bỏ ăn, đau đầu, khóc, mất ngủ, rối loạn giấc ngủ hoặc là ngủ quên và những biểu hiện khó chịu khác. Stress còn đi kèm với cảm giác b ất an, giận dữ, hoặc sợ hãi. Người bị stress thường có các biểu hiện thực thể là tăng nhịp tim, tăng huyết áp, nhức đầu, mệt mỏi, thở ngắn hơi, ra mồ hôi. Biểu hiện về cả m xúc là cảm thấy khó chịu, dễ cáu gắt, buồn bã, chán nản, thờ ơ, không thân thiện, sa sút tinh thần.
Có những hành vi như lạm dụng chất kích thích (rượu, thuốc lá…), dễ gây hấn, bất cần đời, xáo trộn các sinh hoạt hàng ngày (ăn uống, giấc ngủ), mất tập trung, hay quên, xa lánh mọi người, có vấn đề về tình dục… Stress trầm trọng và kéo dài có thể làm tổn hại hệ miễn dịch và các chức năng sinh lý khác, làm suy yếu khả năng chống lại bệnh tật của cơ thể cũng như sự xâm nhập của vi khuẩn và làm tăng nguy cơ tử vong [2]. Triệu chứng của trầm cảm Các triệu chứng của trầm cảm hết sức đa dạng cả về thực thể, tâm thần và hành vi như: - Những triệu chứng tiềm tàng như đau đầu, choáng váng, hồi hộp, tức ngực, đau lưng… - Những triệu chứng thường gặp ở cả nam và nữ trong độ tuổi từ 45 đến 60 (thời kỳ mãn kinh) như lo lắng căng thẳng không yên, tâm trạng bi quan tiêu cực, tinh thần sa sút, tình cảm u uất , buồn phiền, tính tình nóng nảy kém hưng phấn, rối loạn nhân cách, tư duy và hành vi sai lệch [11]. - Rối loạn chức năng sinh dục: Giảm hoặc mất ham muốn tình dục ở cả hai phái, có thể yếu hoặc mất chức năng cương cứng ở nam giới, lãnh cảm ở phụ nữ. - Các biểu hiện có thể khác của bệnh trầm cảm là cảm giác do dự, không chắc chắn, tiêu chuẩn và đòi hỏi cao, yêu cầu cao với người khác và với chính mình, dễ bị tổn thương, khó thay đổi những thói quen cũ dù không còn phù hợp, luôn ở tình trạng mệt mỏi, ủ rũ và căng thẳng, rất dễ tức giận và nổi nóng, không có hứng thú làm bất cứ chuyện gì.
Luôn có ý nghĩ tiêu cực về bản thân và người khác, cảm giác tuyệt vọng không còn lối thoát, không còn niềm tin vào bản thân và tương lai. Khi 7 bệnh đến độ trầm trọng, người bệnh trở nên chán nản, tuyệt vọng đến nỗi họ dường như muốn chết hơn là muốn sống, thậm chí có ý định hoặc hành vi tự tử [2]. - Ngoài ra còn có các biểu hiện thực thể khác đi kèm như kém ăn, mất cảm giác ngon miệng, mất ngủ , tăng hay giảm cân nặng bất thường. - Đối với những người bệnh nặng hơn biểu hiện cảm xúc là thay đổi dáng điệu, ngôn ngữ, y phục, khóc lóc vô cớ, cáu kỉnh, bực bội.
Hành vi chậm chạp, trì trệ, hay đi tới đi lui, trí nhớ kém, ứng xử lúng túng và không thể đưa ra quyết định được, ảo giác và hoang tưởng [2]. Hậu quả của stress và trầm cảm Tổng hợp từ nhiều nghiên cứu c ho thấy, tình trạng stress, trầm cảm không những tác động xấu cho cá nhân mà còn ảnh hưởng bất lợi cho người xung quanh và xã hội nói chung. Sau đây là những tác độ ng chính mà chúng có thể gây ra: Chúng được xem là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất của nhiều căn bệnh như [2]: - Bệnh tâm thần kinh: Mất ngủ, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồn phiền, cáu gắt, rối loạn trí nhớ,. - Bệnh tim mạch: Tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, loạn nhịp tim, hồi hộp đánh trống ngực.
- Các bệnh về da, ví dụ như mụn sưng đỏ, phồn g rộp hay là bệnh zona. Da dễ bị mẩn ngứa, phát ban, chàm. hay các chứng bệnh về da có tính kinh niên, mãn tính rất khó chữa trị. - Bệnh tiêu hóa: Viêm loét dạ dày- tá tràng, chảy máu tiêu hóa, thủng dạ dày, tiêu chảy, khô miệng, chán ăn, ăn không tiêu, hơi thở hôi, rối loạn chức năng đại tràng.
- Bệnh tình dục: Giảm ham muốn, di tinh, mộ ng tinh, xuất tinh sớ m… - Bệnh phụ khoa: Rối loạn kinh nguyệt, rối loạn nội tiết. - Bệnh cơ khớp: Co cứng cơ, đau lưng, đau khớp, cảm giác kiến bò ở ngón tay, máy mắt, chuột rút, run rẩy. 8 - Toàn thân: Suy sụp, mệt mỏi, dễ mắc các bệnh dị ứng hay truyền nhiễm. Tình trạng stress, trầm cảm còn gây nên các thay đổi về hành vi, mà phổ biến là việc lạm dụng rượu bia, thuốc lá, chất gây nghiện [2].
Nếu không được chữa trị kịp thời thì người bệnh sẽ mất dần sự tự tin, mất khả năng đưa ra các quyết định chính xác và xuất hiện các hành vi bất thường. Từ đó dẫn đến việc bị đồ ng nghiệp, bạn bè và người thân xa lánh, hoặc gây ra các tổn thất về tài chính, vật chất, thậm chí xâm hại đến sức khỏe, tính mạng của bản thân và những người xung quanh. Đối với xã hội, các vấn đề SKTT này g ây nên gánh nặng về kinh tế thông qua chi phí cho việc chữa trị bệnh, thiệt hại do nghỉ việc, bỏ việc, mất việc, giảm năng suất lao động. ; là một trong những nguyên nhân gây gia tăng tỷ lệ ly hôn và tự sát trong cộng đồng.
Ngoài ra, những người có vấn đề về SKTT ở mức độ nặng còn là mối nguy hiểm cho cả cộng đồng bởi với những hành vi bất thường không thể lường trước được. Nguyên nhân của stress và trầm cảm Tất cả chúng ta đều có những mối lo lắng khác nhau. Chẳng hạn như: nghề nghiệp, mối quan tâm tại nơi làm việc, các kỳ thi, bất ổn trong hôn nhân, mất người thân quá đột ngột, nhà ở không ổn định, các vấn đề sức khỏe, có con nhỏ hay phải chăm sóc người già yếu mắc bệnh dài lâu hoặc gánh nặng kinh tế gia đình. Nguyên nhân gây stress được chia th ành các cấp độ cá nhân, gia đình, tổ chức/đơn vị, và môi trường, tuy nhiên việc phân chia các yếu tố gây stress chỉ là tương đối.