ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm gan là tình trạng các tế bào gan bị tổn thương và viêm nhiễm trong mô gan. Bệnh thường diễn ra một cách thầm lặng, không có biểu hiện ở giai đoạn đầu mà chỉ khi bệnh đã nặng người bệnh mới thấy rõ triệu chứng. Bệnh sẽ không nguy hiểm nếu được phát hiện và điều trị dứt điểm ở giai đoạn đầu. Nhưng khi bệnh được phát hiện ở giai đoạn muộn sẽ trở nên nguy hiểm bởi sức khoẻ của người bệnh sẽ giảm sút nghiêm trọng, khó điều trị hơn, thời gian điều trị lâu hơn, tốn nhiều chi phí hơn, có thể đe doạ tính mạng người bệnh do có thể khiến chức năng gan suy giảm nghiêm trọng, hình thành xơ gan, thậm chí là gây ung thư gan dẫn tới tử vong [1].
Hiện tại có khoảng 130 triệu người mắc bệnh viêm gan mạn tính sống ở Khu vực Tây Thái Bình Dương, nhưng chưa tới một phần năm số người mắc bệnh biết được tình trạng của bản thân, và chưa tới một phần hai mươi người mắc bệnh được điều trị. Nếu không được chăm sóc đúng cách, hai loại viêm gan phổ biến nhất là viêm gan B và viêm gan C - sẽ gây ra khoảng 60% các trường hợp ung thư gan. Đây là lý do tại sao ung thư gan là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở khu vực này [2], [3].Tuỳ thuộc vào tình trạng bệnh và phương pháp điều trị mà sự nguy hiểm của viêm gan có mức độ khác nhau. Hiện Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ người nhiễm virus viêm gan B và C cao nhất khu vực với khoảng 10-15% dân số.
Gần 90% người ung thư gan đã hoặc đang nhiễm virus viêm gan B và/hoặc C. Bên cạnh đó, các loại viêm gan khác như viêm gan rượu, viêm gan nhiễm độc, viêm gan A cũng đang gia tăng[4], [5]. Gan là một cơ quan với nhiều chức năng quan trọng của cơ thể, là trung tâm điều hòa và chuyển hóa các chất. Khi bị viêm gan hàng loạt rối loạn về chuyển hóa sẽ xảy ra do tế bào gan bị hoại tử.
Trong giai đoạn điều trị 2 viêm gan chế độ dinh dưỡng và nghỉ ngơi đóng một vai trò rất quan trọng, góp phần cải thiện tình trạng dinh dưỡng của người bệnh, gia tăng hiệu quả điều trị và hạn chế các biến chứng nguy hiểm. Tuy nhiên trên thực tế khẩu phần của người bệnh viêm gan thường không cân đối, còn thiếu hụt rất nhiều không chỉ là tình trạng thiếu hụt protein - năng lượng mà thường thiếu kết hợp nhiều chất dinh dưỡng khác. Suy dinh dưỡng là vấn đề thường gặp ở các bệnh lý mạn tính nói chung và viêm gan nói riêng có ảnh hưởng quan trọng đến việc điều trị, tiên lượng cũng như diễn tiến của bệnh. Xác định tình trạng dinh dưỡng, đánh giá khẩu phần là bước đầu tiên cho tiến trình điều trị dinh dưỡng.
Tuy nhiên vấn đề này còn chưa có nhiều tác giả trong nước nghiên cứu đến, hơn nữa tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình cũng chưa có nghiên cứu nào về tình trạng dinh dưỡng của người bệnh viêm gan. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:"Tình trạng dinh dƣỡng và đặc điểm khẩu phần của ngƣời bệnh viêm gan điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình năm 2020". Đề tài này nghiên cứu nhằm mục tiêu: 1. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh viêm gan điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình năm 2020.
Xác định một số đặc điểm khẩu phần ở người bệnh viêm gan điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình năm 2020. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Viêm gan và tác động của viêm gan tới tình trạng dinh dƣỡng của ngƣời bệnh 1. Một vài đặc điểm chung về bệnh viêm gan 1.
Khái niệm Viêm gan được định nghĩa là tình trạng tổn thương nhu mô gan, đặc trưng bởi sự hiện diện của các tế bào viêm, do nhiều nguyên nhân gây nên [1]. Viêm gan cấp được đặc trưng bởi sự phá huỷ tế bào gan và sự hiện diện tế bào viêm trong mô gan kéo dài dưới 6 tháng. Phần lớn người bị viêm gan cấp tính thường tự phục hồi. Viêm gan mạn tính là bệnh gan có tổn thương hoại tử và viêm diễn ra trong thời gian trên 6 tháng.
Viêm gan mạn tính thường là hậu quả của viêm gan cấp tính. Viêm gan diễn ra một cách thầm lặng, không có biểu hiện ở giai đoạn đầu mà chỉ khi bệnh đã nặng người bệnh mới thấy rõ triệu chứng. Điều đó khiến cho người bệnh khó có thể chủ động trong việc phát hiện và điều trị bệnh.Viêm gan có thể khiến chức năng gan suy giảm nghiêm trọng, hình thành xơ gan, thậm chí là gây ung thư gan dẫn tới tử vong. Nguyên nhân và phân loại viêm gan a.
Dựa vào tác nhân gây bệnh Viêm gan do nhiễm khuẩn: Virus, vi khuẩn, ký sinh trùng. - Viêm gan do nhiễm virus: Hiện có 6 loại virus viêm gan được phát hiện (A, B, C, D, E, G). Ngoài ra các virus CMV, EBV, Rubella cũng có thể gây viêm gan. 4 - Viêm gan do nhiễm vi khuẩn: Leptospira, thương hàn.
- Viêm gan do nhiễm ký sinh trùng: Ký sinh trùng sốt rét, Amip, Sán lá gan. Viêm gan tự miễn: Viêm gan tự miễn là tình trạng viêm ở gan xảy ra khi hệ thống miễn dịch của cơ thể tự tấn công gan [1]. Viêm gan do nhiễm độc: Rượu, thuốc, các chất độc trong môi trường. Dựa theo giai đoạn bệnh - Viêm gan cấp: Được đặc trưng bởi sự phá hủy tế bào gan và sự hiện diện tế bào viêm trong mô gan kéo dài dưới 6 tháng.
Phần lớn người bị viêm gan cấp tính thường tự phục hồi. Viêm gan cấp có thể xảy ra ở các nguyên nhân viêm gan do virus (thường là viêm gan A, B), viêm gan do ký sinh trùng, viêm gan do thuốc (ngộ độc paracetamol liều cao), viêm gan do rượu bia. Viêm gan cấp thường có những triệu chứng như mệt mỏi, ăn không tiêu, buồn nôn, có khi bị nôn, sốt. Sau nhiều ngày có thể xuất hiện vàng da, vàng mắt.
Một số người bệnh bị viêm gan cấp do virus B có thể bị đau khớp, bị lú lẫn và hôn mê. Người bệnh bị viêm gan cấp nếu được chữa trị và chăm sóc tốt sẽ giảm nhẹ dần sau 4-6 tuần và có thể phục hồi sau 3 tháng. Ngược lại, nếu không được quan tâm chăm sóc tốt, một số trường hợp có thể nặng dẫn tới viêm gan mạn tính [1], [9]. - Viêm gan mạn tính: Là bệnh gan có tổn thương hoại tử và viêm diễn ra trong thời gian trên 6 tháng.
Viêm gan mạn tính thường là hậu quả của viêm gan cấp tính. Viêm gan mạn tính có thể xảy ra ở các trường hợp viêm gan virus (thường gặp là viêm gan B, C và phối hợp với D); viêm gan tự miễn, viêm gan do thuốc, viêm gan do rượu bia. Ở viêm gan mạn tính, triệu chứng khởi đầu có thể biểu hiện những đợt rầm rộ như trong viêm gan cấp, phần còn lại thường có những triệu chứng âm thầm như mệt mỏi, cảm giác nặng tức vùng hạ sườn phải, đau cơ, đau khớp hoặc nhiều lúc chỉ có cảm giác nhức mỏi thông thường làm người bệnh không nhận biết được [1], [9]. 5 - Xơ gan: Là một quá trình lan tỏa với xơ hóa, đảo lộn cấu trúc bình thường của gan, dẫn tới hình thành các nhân (nodule) có cấu trúc không bình thường.
Khi đã bước sang giai đoạn xơ gan, các biểu hiện viêm thường giảm dần, thay vào đó là các triệu chứng của tăng áp lực tĩnh mạch cửa và suy tế bào gan là nổi bật. Vai trò chuyển hóa của gan liên quan đến dinh dưỡng trong cơ thể Gan có 4 vai trò chức năng rất quan trọng đó là: Chuyển hóa, bài tiết, khử độc và lưu giữ. Trong đó các chuyển hóa hóa sinh xảy ra ở gan rất mạnh mẽ, phong phú và phức tạp. Vai trò chuyển hóa Glucid Gan đóng vai trò rất quan trọng trong chuyển hóa glucid.
Gan là kho dự trữ glucid của cơ thể dưới dạng glycogen. Khi có nồng độ glucose máu có xu hướng tăng trên mức bình thường (ví dụ ngay sau bữa ăn hoặc sau khi uống đường), lượng glucose từ thức ăn qua thành ruột theo tĩnh mạch cửa về gan một cách ồ ạt, gan sẽ giữ glucose lại và tăng quá trình sinh tổng hợp glycogen nhờ có những enzym cần thiết và hoạt động mạnh[8], [10]. Gan có thể tổng hợp glycogen từ các ose khác như galactose, fructose, và manose nhờ hệ enzym chỉ có ở gan. Gan còn có thể tổng hợp glycogen từ các sản phẩm chuyển hóa trung gian như lactat, pyruvat, acetyl CoA.nhờ hệ thống enzym chỉ có ở gan.
Đây là điểm khác nhau cơ bản giữa gan và cơ. Khi cơ hoạt động mạnh, glycogen hoặc glucose ở cơ sẽ phân hủy mạnh nhằm cung cấp năng lượng nhiều trong một thời gian ngắn; đồng thời quá trình này cũng sinh ra nhiều sản phẩm chuyển hóa trung gian. Các sản phẩm chuyển hóa trung gian ở cơ sẽ được vận chuyển về gan để tân tạo glucose và tổng hợp glycogen vì cơ không có khả năng này. Khi glucose máu có xu hướng giảm dưới mức bình thường, gan sẽ tăng cường phân hủy glycogen tạo glucose cung cấp cho máu.
Mặc dù cơ và một 6 số cơ quan khác cũng chứa glycogen, nhưng glycogen không thể phân ly cung cấp glucose cho máu vì chỉ ở gan có enzym glucose 6-phosphatase. Đây là enzym cần thiết để xúc tác phản ứng chuyển glucose 6- phosphat thành glucose tự do[10]. Glucose sẽ qua màng tế bào gan vào máu và đi đến các cơ quan của cơ thể. Do khả năng tổng hợp glycogen mạnh để dự trữ và phân ly nhiều glucose vào máu mà gan đóng vai trò chủ chốt trong cơ thể trong việc điều hòa đường máu.
Toàn bộ hệ thống điều hòa đường máu bằng hormon hoàn toàn phụ thuộc vào sự toàn vẹn chức năng gan. Ngoài glycogen, gan còn tổng hợp heparin, một chất chống đông máu tự nhiên có bản chất polysacarid. Ở gan, glucose còn được chuyển hóa thành acid glucuronic, một thành phần cần thiết cho chức năng khử độc của gan. Chuyển hóa Lipid Quá trình thoái hóa lipid xảy ra mạnh mẽ ở gan tạo ra các mẫu acetyl CoA.
Một phần nhỏ acetyl CoA được đốt cháy trong chu trình acid citric ở gan đến CO2 và H2O cung cấp năng lượng cho hoạt động của gan, một phần acetyl CoA được gan sử dụng tổng hợp cholesterol, acid mật. Phần lớn acetyl CoA được tế bào gan sử dụng để tổng hợp thể ceton. Thể ceton sau khi tổng hợp ở gan được đưa vào máu và đến các tổ chức khác.