ĐẶT VẤN ĐỀ Năm 2011, trên thế giới có 6,9 triệu trường hợp tử vong trẻ em dưới 5 tuổi, trong đó hơn một phần ba trường hợp tử vong là do các nguyên nhân liên quan đến suy dinh dưỡng (SDD). Theo Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) trung bình mỗi phút có 4 trẻ em trên thế giới chết do SDD[60]. SDD không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển tinh thần, trí tuệ của trẻ, đặc biệt ở lứa tuổi từ lúc sơ sinh cho tới 5 tuổi để lại hậu quả nặng nề cho xã hội. Trẻ em bị SDD phải đối mặt với nguy cơ mắc bệnh cao hơn những đứa trẻ khác [59].
SDD không chỉ là vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tử vong trẻ em, nó cũng ảnh hưởng lâu dài đến giáo dục và tăng trưởng kinh tế quốc gia. Ngân hàng Thế giới ước tính rằng các nước thu nhập thấp có thể giảm từ 2 đến 3% GDP hàng năm của họ vì suy dinh dưỡng trẻ em (SDDTE)[57]. Tại Việt Nam, tỷ lệ SDD thể nhẹ cân của cả nước năm 2012 là 16,2%, trong đó SDD vừa là 14,5%, SDD nặng là 1,6% và SDD rất nặng là 0,1%. 17/63 tỉnh/thành phố có mức SDD trẻ em trên 20%, xếp ở mức cao theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO).
Tỷ lệ trẻ em SDD thể thấp còi là 26,7%, theo phân loại của WHO có đến 20 tỉnh có tỷ lệ trên 30% (mức cao), 1 tỉnh trên 40% (mức rất cao). Tỷ lệ SDD thể gầy còm là 6,7%[37]. Thực trạng SDD ở vùng nông thôn, miền núi, dân tộc ít người vẫn đang còn là một vấn đề nổi cộm, cần được quan tâm và khắc phục. Nếu như tỷ lệ SDD ở một số tỉnh đồng bằng đã giảm xuống mức thấp như thành phố Hồ Chí Minh (5,3%), Hà Nội (8,1%), Đà Nẵng (5,4%).
thì nhiều khu vực miền núi tỷ lệ SDD vẫn ở mức rất cao như Đắc Nông (24,8%), Kon Tum (26,3%), Lai Châu (23,5%). Nghệ An và Hòa Bình nằm trong những tỉnh/thành phố có tỷ lệ SDDTE dưới 5 tuổi khá cao. Hòa Bình xếp thứ 15/63 tỉnh/thành phố trong cả nước về tỷ lệ SDD nhẹ cân (20,6%); còn Nghệ An xếp thứ 17/63 tỉnh/thành phố trong cả nước với tỷ lệ SDD thấp còi (30,8%). Huyện Quỳ Hợp và huyện Tân Lạc là những huyện miền núi khó khăn của hai tỉnh Nghệ An và Hòa Bình.
Người dân của hai huyện trên chủ yếu 2 là đồng bào dân tộc thiểu số. Do đó công tác chăm sóc sức khỏe của người dân và phòng chống SDD cho trẻ gặp nhiều khó khăn. Năm 2012, Viện nghiên cứu Sức khỏe trẻ em – Bệnh viện Nhi TW bắt đầu triển khai dự án “Can thiệp giảm thiểu suy dinh dưỡng trẻ <5 tuổi dân tộc ít người tại một số tỉnh miền núi phía Bắc”. Một trong những mục tiêu của chương trình là (i) Xác định tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi dân tộc ít người, (ii) Mô tả thực hành nuôi con bằng sữa mẹ và cho trẻ dưới 5 tuổi ABS của bà mẹ dân tộc ít người, và (iii) Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi dân tộc ít người; làm cơ sở để tiến hành những can thiệp giảm tỷ lệ SDD cho trẻ em dân tộc ít người.
Luận văn này sử dụng toàn bộ số liệu của nghiên cứu tại hai địa bàn trên để phân tích nhằm đáp ứng những mục tiêu trên. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu chung Xác định tỷ lệ suy dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở trẻ em dưới 5 tuổi dân tộc ít người tại huyện Quỳ Hợp và huyện Tân Lạc năm 2012. Mục tiêu cụ thể 1. Xác định tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi dân tộc ít người tại huyện Quỳ Hợp và huyện Tân Lạc theo chỉ số: cân nặng theo tuổi (CN/CC); chiều cao theo tuổi (CC/T), và cân nặng theo chiều cao (CN/CC).
Mô tả thực hành nuôi con bằng sữa mẹ, cho trẻ dưới 5 tuổi ABS của bà mẹ và tình trạng sức khỏe của trẻ dân tộc ít người tại huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An và huyện Tân Lạc, tỉnh Hoà Bình năm 2012. Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi dân tộc ít người tại huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An và huyện Tân Lạc, tỉnh Hoà Bình năm 2012. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nguyên nhân và hậu quả của suy dinh dưỡng 1.
Định nghĩa suy dinh dưỡng Suy dinh dưỡng(SDD): là sự rối loạn dinh dưỡng dưới mọi hình thức (bao gồm cả sự mất cân bằng năng lượng, chất dinh dưỡng và vi chất dinh dưỡng đặc thù, và chế độ ăn uống). Thông thường, sự nhấn mạnh vào việc thiếu hụt, nhưng suy dinh dưỡng cũng áp dụng cho cả việc sử dụng quá mức và hấp thu mất cân bằng. Nó xảy ra khi lượng chất dinh dưỡng và vi chất dinh dưỡng thiết yếu không đáp ứng hoặc vượt quá nhu cầu trao đổi chất. Nhu cầu trao đổi chất thay đổi theo tuổi và điều kiện sinh lý, chúng cũng bị ảnh hưởng bởi điều kiện môi trường, bao gồm cả vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường kém, dẫn đến tiêu chảy[68].
Do đặc thù của nghiên cứu, tác giả chỉ tập trung vào phân tích SDD ở dạng thiếu hụt. Nguyên nhân của suy dinh dưỡng BiÓu hiÖn Suy dinh d−ìng vµ tö vong Nguyªn nh©n ThiÕu ¨n BÖnh tËt trùc tiÕp Nguyªn nh©n ThiÕu an ninh Ch¨m sãc BM vµ TE ThiÕu DVYT vµ tiÒm tµng LT-TP ch−a tèt VSMT C¸c c¬ quan nhµ n−íc vµ tæ chøc x· héi Th−îng tÇng kiÕn tróc vÒ chÝnh trÞ, t− t−ëng Nguyªn nh©n c¬ b¶n C¬ cÊu kinh tÕ Nguån tiÒm n¨ng Sơ đồ 1. Nguyên nhân SDD và tử vong của trẻ dưới 5 tuổi (UNICEF, 1990). 5 Năm 1990, UNICEF đã xây dựng mô hình nguyên nhân SDD [58].
Mô hình này cho thấy nguyên nhân của SDD là đa ngành, có mối liên quan chặt chẽ với vấn đề thực phẩm, y tế và thực hành chăm sóc tại hộ gia đình. Mô hình nguyên nhân này có thể sử dụng được ở tất cả các cấp, cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã giúp xây dựng kế hoạch hành động nhằm cải thiện vấn đề SDD một cách hiệu quả. Mô hình chỉ ra các nguyên nhân ở các cấp độ khác nhau: nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân tiềm tàng, nguyên nhân cơ bản; các yếu tố ở cấp độ này ảnh hưởng đến cấp độ khác. Nguyên nhân trực tiếp: hai yếu tố phải kể đến là khẩu phần ăn thiếu và mắc các bệnh nhiễm khuẩn.
Khẩu phần ăn thiếu về số lượng hoặc kém về chất lượng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới SDD: Trẻ không được bú sữa mẹ đầy đủ; cho ABS (ABS) quá sớm, hoặc cho trẻ ăn thức ăn đặc quá muộn; số lượng không đủ và năng lượng, protein trong khẩu phần ăn thấp cũng dễ dẫn tới SDD. Các bệnh nhiễm trùng, đặc biệt là tiêu chảy ảnh hưởng rất nhiều đến tình trạng dinh dưỡng (TTDD) của trẻ. Nhiễm trùng dẫn đến các tổn thương đường tiêu hóa do đó làm giảm hấp thu, đặc biệt là các vi chất, làm cho kháng nguyên và các vi khuẩn đi qua nhiều hơn. Nhiễm trùng làm tăng hao hụt các chất dinh dưỡng, trẻ ăn kém hơn do giảm ngon miệng.
Bên cạnh tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp (NKHH) cũng ảnh hưởng đáng kể đến TTDD của trẻ. Nguyên nhân tiềm tàng: đó là sự yếu kém trong dịch vụ chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em; kiến thức của bà mẹ; yếu tố chăm sóc của gia đình; các vấn đề nước sạch, vệ sinh môi trường và tình trạng nhà ở không đảm bảo, mất vệ sinh; tình trạng đói nghèo, lạc hậu về các mặt phát triển nói chung, bao gồm cả mất bình đẳng về kinh tế. Ba yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến SDD là an ninh thực phẩm, thiếu sự chăm sóc và bệnh tật. Các yếu tố này chịu ảnh hưởng lớn của đói nghèo.
Nguyên nhân cơ bản: đó là kiến trúc thượng tầng, chế độ xã hội, chính sách, nguồn tiềm năng. Cấu trúc chính trị - xã hội – kinh tế, môi trường sống (các điều kiện văn hoá - xã hội là những yếu tố ảnh hưởng đến SDDTE ở tầm vĩ mô.Trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay của các nước phát triển, khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng, tác động đến xã hội ngày càng sâu sắc. Đặc biệt, khủng 6 hoảng kinh tế làm cho việc đảm bảo an ninh lương thực và khả năng cung cấp các dịch vụ y tế, dinh dưỡng tại các nước đang phát triển càng trở nên khó khăn. Đây chính là nguyên nhân làm cho SDD là gánh nặng sức khoẻ ở nhiều nước đang phát triển.
Hậu quả của suy dinh dưỡng SDD trẻ em thường để lại những hậu quả nặng nề. SDD ảnh hưởng rõ rệt đến phát triển trí tuệ, khả năng học hành của trẻ, khả năng lao động khi đến tuổi trưởng thành. SDD làm tăng tỷ lệ tử vong và làm tăng gánh nặng cho xã hội. Ước tính riêng trong năm 2011, trong số 6,9 triệu trẻ em dưới 5 tuổi tử vong vì tất cả các nguyên nhân khác nhau thì có 2,3 triệu trường hợp có nguyên nhân liên quan đến SDD [60].
Nhiều bằng chứng cho thấy SDD ở giai đoạn sớm, nhất là trong thời kỳ bào thai có mối liên hệ với mọi thời kỳ của đời người. Hậu quả của thiếu dinh dưỡng có thể kéo dài qua nhiều thế hệ. Phụ nữ đã từng bị SDD trong thời kỳ còn là trẻ em hoặc trong độ tuổi vị thành niên đến khi lớn lên có thể trở thành bà mẹ bị SDD. Bà mẹ bị SDD thường dễ đẻ con nhỏ yếu, cân nặng sơ sinh (CNSS) thấp.
Hầu hết những trẻ có CNSS thấp bị SDD ngay trong năm đầu sau sinh. Những trẻ này có nguy cơ tử vong cao hơn và khó có khả năng phát triển bình thường. Tác giả Barker nêu ra một lý thuyết mới về nguồn gốc bào thai của một số bệnh mạn tính. Theo ông, các bệnh tim mạch, đái đường, rối loạn chuyển hóa ở người trưởng thành có thể có nguồn gốc từ SDD bào thai.
Chính vì thế, phòng chống SDD bào thai hoặc trong những năm đầu tiên sau khi ra đời có một ý nghĩa rất quan trọng trong dinh dưỡng theo chu kỳ vòng đời [41]. Ảnh hưởng đến vóc dáng/chiều cao khi trưởng thành Chiều cao có thể bị ảnh hưởng bởi yếu tố gen và môi trường thông qua các giai đoạn tăng trưởng. Một số nghiên cứu triển khai ở các nước có thu nhập thấp và trung bình cho thấy chiều cao của người trưởng thành có mối quan hệ thuận chiều với cân nặng và chiều cao sơ sinh[63].