phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 2 chƣơng và 4 tiết 9 PHẦN NỘI DUNG hƣơng 1 Ơ SỞ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VỚI TÍNH THỐNG NHẤT VÀ ĐA DẠNG CỦA NÓ 1. NHỮ Đ ỀU KIỆN HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội, ra đời và phản ánh điều kiện sinh hoạt vật chất xã hội nhất định. C Mác đã chỉ rõ: “không có một triết học, trƣờng phái tƣ tƣởng triết học nào nảy sinh trên mảnh đất trống không, mà đều hình thành, phát triển trên những nền tảng, điều kiện kinh tế chính trị, văn hóa nhất định” [44, 15]. Vì vậy, mỗi hệ thống triết học trong khi phản ánh hiện thực xã hội, chúng đồng thời thể hiện đặc điểm của thời đại.
Và do đó, triết học Trung Quốc cổ đại cũng không phải là ngoại lệ. Triết học Trung Quốc thời cổ đại hình thành từ cuối thiên niên kỷ II, đầu thiên niên kỷ I trƣớc công nguyên, phát triển trong giai đoạn Hạ, Thƣơng, Tây Chu và nở rộ ở thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc (770 - 221 trƣớc công nguyên) 1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế Điều kiện tự nhiên: là một hình thái ý thức xã hội, triết học Trung Quốc cổ đại chịu ảnh hƣởng sâu sắc của điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã hội Trung Quốc cổ đại. Lãnh thổ Trung Quốc cổ đại rộng mênh mông, địa hình đa dạng và phức tạp.
Phía Tây là hai dãy núi Tần Lĩnh và Côn Lôn trùng điệp, hiểm trở, chia đất nƣớc Trung Hoa thành hai miền Nam - Bắc. Phía Tây Nam là dãy Hy Mã Lạp Sơn với những núi cao vút, nhƣ bức trƣờng thành muôn vạn. Trung Quốc có những dãy núi lớn trùng điệp chạy từ Bắc đến Nam xen lẫn những dãy núi nhỏ, thấp hơn chạy từ Tây qua Đông, chia Trung Hoa thành nhiều miền cách biệt với nhau. Phía Đông là các bình nguyên châu thổ phì nhiêu, các sông lớn chảy ra Thái Bình Dƣơng.
Với địa hình rộng lớn, bị chia cắt tạo nên thổ nhƣỡng, khí hậu đa dạng, miền Bắc có khí hậu lạnh, đất đai cằn cõi và rất ít sản vật hình thành nên nền văn hóa mang tính du mục. Ngƣợc lại, miền Nam khí hậu ôn hòa, cây cối xanh tƣơi, sản vật phong phú thuận lợi cho canh 10 tác nông nghiệp lúa nƣớc mang tính định canh, định cƣ. Nhƣ vậy, địa hình chạy dài từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam với những điều kiện tự nhiên riêng tạo nên lối sinh hoạt giữa các vùng miền khác nhau đã hình thành nên hai diện mạo văn hóa khác nhau trên lãnh thổ Trung Quốc cổ đại: miền Bắc mang tính du mục (trọng động) với lối tƣ duy phân tích, duy lý, miền Nam mang tính nông nghiệp định canh, định cƣ trọng tĩnh với lối tƣ duy tổng hợp, duy tình. Trung Hoa cổ đại có hàng ngàn con sông lớn nhỏ trong đó có hai sông lớn là Hoàng Hà và Trƣờng Giang Dƣơng Tử) bồi đắp phù sa cho các đồng bằng ven bờ, tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển, mang lại giá trị kinh tế cao.
Từ xa xƣa, hai con sông này là những tuyến giao thông huyết mạch nối liền các vùng trong lãnh thổ Trung Quốc. Các triều đại đã xuất hiện, tồn tại và lớn mạnh trên lƣu vực hai dòng sông này và xây dựng nên nền văn minh đầu tiên của Trung Quốc – văn minh Hoàng Hà (hay còn gọi là văn minh Hoa Hạ). Tuy nhiên, do địa hình hiểm trở cùng với những phƣơng tiện giao thông thô sơ thời cổ đại đã làm cho các nền văn minh này xuất hiện và phát triển một cách độc lập. Sự liên hệ buổi đầu hầu nhƣ không xảy ra, do đó mỗi nền văn minh đã phát triển một cách độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc.
Cả hai con sông đem nguồn phù sa và sự sung túc lại cho cái nôi đầu tiên của văn minh Trung Quốc, nhƣng đồng thời cũng là mối đe dọa kinh niên cho sự tồn vong của con ngƣời nơi đây. Tới mùa mƣa nƣớc lũ tràn bờ biến ruộng đồng thành biển cả, cuốn đi của cải và sinh mạng dân cƣ, trong Kinh Thi viết có đoạn miêu tả “nƣớc lũ cuồn cuộn, mênh mông bọc núi trùm gò, dân gian ngất đi vì ngập lụt” [69, 247]. Trong điều kiện nhƣ thế, ƣu tiên thƣờng trực và trọng yếu của tập thể dân tộc Trung Hoa bấy giờ là tìm cách trị thủy. Các vị quân chủ đầu tiên của Trung Hoa đều là những ngƣời có công lớn trong việc trị thủy.
Vua Thuấn nhƣờng ngôi cho vua Vũ vì ông Vũ có công trong việc đắp đê ngăn nƣớc lụt. Tuy có bờ biển dài nhƣng miền Bắc Trung Quốc có bờ biển thấp và lầy lại thiếu đảo ở gần; còn niềm Nam, bờ biển lại không bằng phẳng, khí hậu thất thƣờng. Cho nên, mặc dù gần biển nhƣng không có nhà tƣ tƣởng Trung Quốc cổ đại nào mạo hiểm ra khơi. Sách Luận Ngữ, Khổng Tử đề cập đến biển có một lần: “Đạo ta không thi hành, ta sẽ cỡi bè lênh đênh ngoài biển” [30, 33].
Do 11 vậy, có thể nói Trung Quốc cổ đại là một khối biệt lập, đƣợc bao bọc bởi núi non trùng điệp, hệ thống sông ngòi chằng chịt và đại dƣơng bao la, cùng với bãi cát sa mạc. Điều kiện tự nhiên phức tạp, đa dạng nơi đây đã góp phần tạo nên lối tƣ duy độc đáo, thâm trầm mà không kém phần sâu sắc. Tƣ tƣởng triết học Trung Quốc cổ đại không chỉ mang đậm dấu ấn của tự nhiên, mà còn phụ thuộc vào đời sống vật chất xã hội, trƣớc hết là vào cơ sở kinh tế, Ph. Ăngghen nhận định “Mọi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội - cơ cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế mà ra, - cả hai cái đó tạo thành cơ sở của lịch sử chính trị và lịch sử tƣ tƣởng của mỗi thời đại” [49, 11].
Điều kiện kinh tế: Sản xuất vật chất vào thời kỳ công xã nguyên thủy ở Trung quốc cổ đại cũng đi lên săn bắt, hái lƣợm. Về sau, con ngƣời biết sử dụng những cành cây có sẵn để kiếm thức ăn, dùng những dụng cụ đƣợc mài để gieo trồng, biết thuần dƣỡng súc vật. Đời sống sinh hoạt của ngƣời Trung Quốc cổ đại đƣợc phản ánh qua các truyền thuyết và thần thoại Bàn Cổ, Tam Hoàng, Ngũ Đế. Trong thần thoại Trung Quốc, Thần Nông là ông tổ nông nghiệp, ngƣời đã dạy dân trồng ngũ cốc và chế tạo ra cày bằng gỗ, ông tổ nghề gốm sứ và nghề y dƣợc.
Phục Hy kết dây, dân lƣới, săn thú, đánh cá dạy cho dân biết nuôi dƣỡng xúc vật, cho nên cũng đƣợc gọi là Bào Hy. Toại Nhân là ngƣời có công đem lửa cho ngƣời Trung Quốc. Trong di chỉ ở Bản Pha thuộc Tây An đã phát hiện nhiều chum vại còn cất giữ hạt giống ngũ cốc. Nhƣ vậy, vào trong thời kỳ này, ngƣời Trung Quốc đã biết chế ra lửa để nấu chín thức ăn, biết cất nhà, làm quần áo, trồng ngũ cốc, chài lƣới, thực hiện lễ nghi, và bắt đầu tạo ra chữ viết.
Chính những phát kiến đó đã thúc đẩy sự phát triển của lực lƣợng sản xuất, đẩy nhanh việc xuất hiện chế độ tƣ hữu về tƣ liệu sản xuất, dẫn đến biến động trong xã hội với sự phân chia giai tầng có lợi ích khác nhau về sau. Tiếp sau thời kỳ Tam Hoàng là thời kỳ văn hóa đồ gốm đen ở Long Sơn, gốm màu ở Ngƣỡng Triều (Hà Nam) với các truyền thuyết về thời kỳ Ngũ Đế. Nền kinh tế của Trung Quốc cổ đại dƣới triều nhà Hạ với việc sử dụng công cụ bằng đồng có những thành tựu mới. Các công cụ bằng đồng bắt đầu xuất hiện và đƣợc đƣa vào sáng chế và sử dụng trong nông nghiệp và khai hoang.
Nghề chăn nuôi và trồng trọt đã có sự phát triển ban đầu. Sự phân công 12 lao động đầu tiên trong lịch sử đã tạo tiền đề quan trọng của nền kinh tế Trung Quốc cổ đại. Bên cạnh đó, trong xã hội bấy giờ bắt đầu xuất hiện một bộ phận ngƣời tách khỏi số đông lao động chân tay để chuyên nghiên cứu về các thuật bói toán, thuật số, xem điều cát hung, dự liệu tƣơng lai. Đó chính là vai trò đầu tiên của tầng lớp trí thức của Trung Hoa cổ đại.
Dƣới triều đại nhà Thƣơng, nền kinh tế đã có sự phân hóa sâu sắc hơn. Sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi có bƣớc phát triển. Việc sử dụng công cụ bằng đồng ngày càng phổ biến góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Thời Thƣơng - Ân sản xuất nông nghiệp trở thành nguồn sản xuất chủ yếu trong xã hội.
Các di chỉ khảo cổ tìm thấy ở Ân Khƣ trên văn giáp cốt cho thấy xuất hiện nhiều chữ khắc nhƣ: nông, thọ, cƣơng, điền, xuyên, tĩnh, phố,. nói về việc cày cấy và nhiều đồ đồng thau nhƣ binh khí, dụng cụ để ăn uống, đồ cúng nhƣ đỉnh, vại. Trao đổi buôn bán chủ yếu với hình thức hàng hóa đổi hàng hóa. Công cụ và vật dụng làm bằng đồng tuy còn ở trình độ thấp nhƣng sử dụng khá phổ biến, đã góp phần phát triển sản xuất, tăng nguồn lƣơng thực.
Việc khai hoang ở hạ lƣu sông Hoàng Hà, hệ thống mƣơng rạch, trồng dâu nuôi tằm, ƣơm tơ, dệt lụa; nghề đúc đồng thau đạt tới trình độ khá cao. Ngoài ra, nghề thủ công mỹ nghệ ở thời kỳ này cũng khá phong phú về chất liệu nhƣ đá, ngọc bích, bằng xƣơng, bằng gỗ và đồ gốm tráng men. Nghề chăn nuôi thời kỳ này cũng có nhiều thành tựu. Theo tài liệu trên văn giáp cốt, hàng trăm con trâu bò bị giết trong nhiều lần cúng bái quỷ thần tổ tiên của vua chúa.
Đến thời Tây Chu, lực lƣợng sản xuất xã hội có bƣớc phát triển. Kim loại sắt xuất hiện và đƣợc đƣa vào chế tạo ra công cụ sản xuất nông nghiệp, từ đó làm cho kỹ thuật canh tác đƣợc cải tiến, hệ thống thủy nông hoàn thiện, qui mô sử dụng sức lao động đƣợc mở rộng. Vấn đề phân chia ruộng đất đƣợc các vua chúa Trung Quốc cổ đại đặc biệt quan tâm. Chế độ ruộng đất bấy giờ vẫn là chế độ “tỉnh điền”, ngƣời ta chia ruộng đất thành chín mảnh vuông, hình chữ tỉnh.
Trong đó, có tám mảnh đất do các hộ gia đình tự do canh tác, còn mảnh thứ chín đƣợc các gia đình hợp lại, cùng nhau canh tác và sản phẩm thu hoạt đƣợc trên mảnh đất ấy đƣợc nộp lại cho nhà vua.