Nghiên cứu tình hình dịch cúm gia cầm và đáp ứng miễn dịch vaccine H5N1 tại Bình Định (2011-2015)

Luận văn thạc sĩ nông nghiệp nghiên cứu nông nghiệp tình hình dịch cúm gia cầm trên địa bàn tỉnh bình định giai đoạn 20112015 và đáp ứng, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên

Chuyên ngành

Chăn nuôi Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2016

95
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tình hình dịch cúm gia cầm tại Bình Định 2011 2015

Trong giai đoạn 2011-2015, tình hình dịch cúm gia cầm tại tỉnh Bình Định diễn biến phức tạp. Dịch cúm gia cầm H5N1 đã xảy ra rải rác tại tất cả các huyện, thị xã và thành phố. Theo thống kê, có ba năm ghi nhận dịch (2011, 2013, 2014), trong đó năm 2014 là năm có số ổ dịch cao nhất. Đối tượng mắc bệnh chủ yếu là vịt, và dịch thường xảy ra vào tháng 2 và tháng 3 hàng năm. Số liệu cho thấy, từ năm 2004 đến nay, dịch cúm gia cầm đã gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi, ảnh hưởng đến thu nhập của người chăn nuôi và sức khỏe cộng đồng. Việc theo dõi và giám sát dịch tễ học là rất cần thiết để có biện pháp phòng ngừa kịp thời.

1.1. Diễn biến dịch bệnh

Dịch cúm gia cầm H5N1 lần đầu tiên xuất hiện tại Bình Định vào ngày 20 tháng 1 năm 2004. Từ đó, dịch bệnh đã tái phát nhiều lần, với tổng số gia cầm tiêu hủy lên đến hàng trăm ngàn con. Trong giai đoạn 2011-2015, dịch bệnh đã gây thiệt hại nặng nề cho người chăn nuôi, đặc biệt là ở các huyện có tỷ lệ tiêm phòng thấp. Các yếu tố như nuôi thả rông, không tiêm vaccine phòng bệnh đã làm gia tăng nguy cơ lây lan dịch bệnh. Theo báo cáo, tỷ lệ tiêm vaccine phòng bệnh cúm gia cầm H5N1 tại Bình Định đạt trên 80%, tuy nhiên vẫn còn một số huyện có tỷ lệ tiêm phòng không đạt yêu cầu.

II. Hiệu quả tiêm phòng vaccine H5N1

Việc tiêm phòng vaccine H5N1 cho đàn gia cầm tại Bình Định đã cho thấy hiệu quả rõ rệt. Tỷ lệ bảo hộ và đáp ứng miễn dịch sau tiêm phòng trên đàn gia cầm đạt khá cao, với gà thả vườn, gà nuôi nhốt và vịt đều có tỷ lệ bảo hộ trên 88%. Kết quả nghiên cứu cho thấy, vaccine NAVET-VIFLUVAC NIBRG-14 có hiệu giá kháng thể cao hơn so với vaccine H5N1Re-6. Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê. Điều này cho thấy, việc lựa chọn vaccine phù hợp và kỹ thuật tiêm phòng là rất quan trọng để đảm bảo hiệu quả phòng bệnh.

2.1. Đánh giá hiệu quả vaccine

Kết quả kiểm tra hiệu giá kháng thể cho thấy, đàn gia cầm được tiêm phòng có khả năng miễn dịch tốt, giúp giảm thiểu nguy cơ lây lan dịch bệnh. Các yếu tố như kỹ thuật tiêm phòng, giống gia cầm, và điều kiện vệ sinh thú y đều ảnh hưởng đến hiệu quả của vaccine. Việc nâng cao nhận thức của người chăn nuôi về tầm quan trọng của tiêm phòng là cần thiết để đảm bảo an toàn cho đàn gia cầm và sức khỏe cộng đồng.

III. Các yếu tố nguy cơ lây lan dịch bệnh

Nghiên cứu đã chỉ ra nhiều yếu tố nguy cơ làm phát sinh và lây lan dịch cúm gia cầm H5N1 tại Bình Định. Các yếu tố này bao gồm không tiêm vaccine phòng bệnh, vệ sinh phòng bệnh kém, nuôi thả rông gia cầm, và sử dụng thức ăn tận dụng cho đàn gia cầm. Tỷ lệ nguy cơ lây lan dịch bệnh cao nhất được ghi nhận ở những hộ chăn nuôi không thực hiện tiêm phòng. Việc nhận diện và quản lý các yếu tố nguy cơ này là rất quan trọng trong công tác phòng chống dịch bệnh.

3.1. Đề xuất biện pháp khống chế dịch bệnh

Để khống chế dịch cúm gia cầm, cần thực hiện các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi, tăng cường công tác quản lý nhà nước về thú y, và đẩy mạnh công tác tuyên truyền về tiêm phòng vaccine. Việc giám sát dịch tễ và thực hiện các biện pháp vệ sinh thú y tổng hợp cũng cần được chú trọng để giảm thiểu nguy cơ lây lan dịch bệnh trong cộng đồng.

09/02/2025
Luận văn thạc sĩ nông nghiệp tình hình dịch cúm gia cầm trên địa bàn tỉnh bình định giai đoạn 20112015 và đáp ứng miễn dịch sau tiêm phòng vaccine h5n1

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu chung về bệnh cúm gia cầm Bệnh Cúm gia cầm Avian influenza là một loại bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus cúm type A thuộc họ Orthomyxovirideae gây ra cho gà, vịt, ngan, ngỗng, gà tây, chim cút, đà điểu, các loài chim cảnh và chim hoang dã; và nguy hiểm hơn bệnh có thể lây sang người và một số loài thú khác. Virus được phân chia thành nhiều subtype khác nhau dựa trên kháng nguyên HA và NA có trên bề mặt capsid của hạt virus.

Nhóm virus cúm A có 16 subtype HA (từ H1 đến H16) và 9 phân type NA (từ N1 đến N9). Sự tái tổ hợp (reassortment) giữa các subtype HA và NA, về mặt lý thuyết sẽ tạo ra nhiều subtype khác nhau về độc tính và khả năng gây bệnh. Trước đây bệnh được gọi là dịch tả gà (Fowl Plague), nhưng từ hội nghị lần thứ nhất về dịch cúm gia cầm tại Beltsville, Mỹ năm 1981 đã thay thế tên này bằng tên bệnh cúm truyền nhiễm cao ở gia cầm (HPAI) để chỉ virus type A có độc lực mạnh, lây lan nhanh, tỷ lệ tử vong cao (Trần Hữu Cổn, Bùi Quang Anh, 2004). Dịch cúm gia cầm do virus cúm A subtype H5N1 thể độc lực cao xuất hiện ở vùng Quảng Đông, Trung Quốc năm 1996 và đã lan ra hơn 60 nước trên thế giới ở châu Á, châu Âu và châu Phi, gây nhiều thiệt hại về kinh tế do gia cầm bị chết hoặc tiêu huỷ nhằm kiểm soát dịch, được chứng minh là có khả năng lây nhiễm từ động vật sang người, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.

Bệnh cúm gia cầm H5N1 lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam vào cuối năm 2003, từ đó đến nay dịch bệnh xảy ra liên tục, đang là vấn đề dịch tễ phức tạp do xuất hiện nhiều phân dòng virus mới và là dịch bệnh cần phải giải quyết tại nước ta. Virus cúm A/H5N1 đang lưu hành ở nhiều nước, thường xuyên gây bệnh cho gia cầm và người, là nguy cơ gây đại dịch trên toàn thế giới. Lịch sử bệnh cúm gia cầm trên thế giới Năm 412 trước công nguyên, Hippocrate đã mô tả về bệnh cúm gia cầm. Sau đó vào năm 1680 một vụ đại dịch cúm đã được mô tả kỹ và từ đó đến nay đã xảy ra 31 vụ đại dịch.

Trong hơn 100 năm qua đã xảy ra 4 vụ đại dịch cúm vào các năm 1889, 1918, 1957, 1968 (Capua I. Năm 1918, đại dịch cúm xảy ra ở châu Âu do virus cúm type A/H1N1 gây ra, gọi là dịch cúm Tây Ban Nha, làm khoảng 20 - 40 triệu người chết. Năm 1957, virus cúm type A/H2N2 xuất hiện ở miền Nam Trung Quốc, gây ra bệnh cúm châu Á. Năm 1968, virus cúm type A/H3N2 gây bệnh cúm ở Hồng Kông.

Bệnh cúm gia cầm đầu tiên được mô tả như bệnh dịch tả gia cầm được Perroncito báo cáo vào năm 1878 ở Ý, đầu tiên bệnh bị nhầm lẫn với dạng nhiễm trùng PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 huyết cấp tính của bệnh tụ huyết trùng gia cầm; cho đến năm 1880, Rivolto và Delprato đã phân biệt hai bệnh này dựa vào đặc điểm lâm sàng và bệnh lý học; đến năm 1901, Centanni và Savonuzzi đã chứng minh bệnh là do “virus có thể qua lọc” (filterable agent) gây ra, nhưng virus không được định danh là virus cúm.; phải đến năm 1995 Schafet mới xác định được virus đó chính là virus thuộc type A thông qua kháng nguyên bề mặt H7N1 và H7N7 gây chết nhiều gà, gà tây và chim hoang ở Bắc Mỹ, Châu Phi, Trung Cận Đông (Trần Hữu Cổn, Bùi Quang Anh, 2004). Đầu thế kỷ 20, bệnh cúm gia cầm độc lực cao được báo cáo ở Thụy Sĩ, Nga, Hà Lan, Hungary, Anh, Ai Cập, Trung Quốc, Nhật, Brazin và Argentina. Năm 1963, virus cúm type A được phân lập từ gà tây ở Bắc Mỹ do loài thuỷ cầm di trú dẫn nhập vào đàn gà. Cuối thập kỷ 60 phân type H1N1 thấy ở lợn và có liên quan đến những ổ dịch gà tây với những biểu hiện đặc trưng là triệu trứng ở đường hô hấp và giảm đẻ.

Mối liên hệ giữa lợn - gà tây là những dấu hiệu đầu tiên về virus cúm ở động vật có vú có thể lây nhiễm và gây bệnh cho gia cầm. Những nghiên cứu về phân type H1N1 đều cho rằng virus cúm type A đã ở lợn và đã truyền lây cho gà tây. Ngoài ra phân type H1N1 ở vịt còn truyền cho lợn. Một số chủng virus cúm type A điển hình gây bệnh ở gia cầm đã được phát hiện trong những ổ dịch ở động vật có vú (CDC, 2004).

Việc lây nhiễm từ chim hoang dã sang gia cầm đã có bằng chứng từ trước năm 1970 nhưng chỉ được công nhận khi xác định được tỷ lệ nhiễm virus cúm cao ở một số loài thủy cầm di trú (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005). Năm 1971, Bệnh cũng được Beard.W mô tả tương đối kỹ qua đợt dịch cúm khá lớn trên gà tây ở Mỹ (Biswas. Những năm tiếp theo dịch cúm gia cầm xẩy ra ở nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới như: Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Nam Phi, Viễn Đông, Trung Đông, Châu Âu, Anh và Liên Xô cũ. Những công trình nghiên cứu về bệnh cúm gia cầm lần lượt được công bố tại các nước: ở Úc năm 1975, ở Anh năm 1979, ở Mỹ năm 1983-1984.

Từ khi phát hiện ra virus cúm type A, các nhà khoa học đã tăng cường nghiên cứu và thấy virus cúm có ở nhiều loài chim hoang dã và gia cầm nuôi trên thế giới và thấy bệnh dịch nghiêm trọng nhất xảy ra đối với gia cầm là những chủng gây bệnh thể độc lực cao thuộc phân type H5 và H7, như ở Scotland năm 1959 là H5N1, ở Mỹ năm 1983-1984 là H5N2 (Capua I. Sự lây nhiễm từ chim hoang dã sang gia cầm đã có bằng chứng từ trước năm 1970 nhưng chỉ được công nhận khi xác định được tỷ lệ nhiễm virus cúm cao ở một số loài thủy cầm di trú (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005c). Dịch cúm gia cầm bùng nổ liên tục khắp các châu lục trên thế giới đã thúc đẩy các hiệp hội chăn nuôi gia cầm và các nhà khoa học tổ chức nhiều Hội thảo chuyên đề PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 về bệnh. Từ đó đến nay, trong các Hội thảo về dịch tễ, bệnh cúm gia cầm luôn là một trong những nội dung được coi trọng.

Điều này cho thấy bệnh cúm gia cầm ngày càng trở nên nguy hiểm, gây nhiều thiệt hại về kinh tế cho ngành chăn nuôi gia cầm trên toàn cầu. Càng đặc biệt nguy hiểm hơn khi virus cúm gia cầm “vượt hàng rào về loài”, thích nghi gây bệnh ở người với tỷ lệ tử vong rất cao (Mary J. Pantin Jack Wood 2008). * Từ năm 2003 đến năm 2005: có 10 quốc gia và vùng lãnh thổ xuất hiện dịch cúm gia cầm H5N1 gồm Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Campuchia, Lào, Indonesia, Trung Quốc, Malaysia, Hồng Kông, Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005a).

- Hàn Quốc: dịch cúm gia cầm H5N1 xảy ra từ 12/12/2003 đến 24/3/2004 với gần 400 nghìn gia cầm tiêu hủy và một ổ dịch cúm gia cầm H5N2 kết thúc ngày 10/12/2004. - Nhật Bản: dịch cúm gia cầm H5N1 xảy ra từ 12/01/2004, đã tiêu hủy hơn 275 nghìn con gà, ổ dịch cuối cùng xảy ra ngày 05/5/2004. - Thái Lan: ổ dịch cúm gia cầm H5N1 đầu tiên được xác định vào ngày 23/01/2004 ở tỉnh Chiang Mai. Đợt thứ nhất có 190 ổ dịch ở 89 huyện thuộc 42 tỉnh; tiêu hủy khoảng 30 triệu gia cầm.

Đợt dịch thứ 2 phát lại từ 03/7/2004 đến 14/02/2005 có 1.552 điểm phát dịch tại 777 xã của 264 huyện thuộc 51 tỉnh. Số gia cầm tiêu hủy là hơn 850 nghìn con gà, hơn 687 nghìn con vịt và khoảng 274 nghìn gia cầm khác. - Campuchia: dịch cúm gia cầm H5N1 xảy ra từ ngày 24/01/2004. - Lào: dịch cúm gia cầm H5N1 xảy ra từ ngày 27/01/2004 đến ngày 13/02/2004 ở 3 tỉnh, đã tiêu hủy hơn 155 nghìn con gà.

- Indonesia: dịch cúm gia cầm H5N1 xuất hiện vào tháng 01/2004, đến tháng 11/2004 đã có 101 huyện thuộc 16 tỉnh có dịch. Ngày 23/3/2005 dịch tiếp tục lây lan ở nam đảo Sulawesi làm khoảng 128 ngàn con gà ở 4 tỉnh mắc bệnh, trong đó ổ dịch lớn nhất ở tỉnh Sidrap làm 101.400 con gà mắc bệnh. Tính từ khi có dịch đến nay đã có 16,23 triệu gia cầm bị chết, trong đó có 8,17 triệu con ở trung tâm đảo Java (Indonesia không thực hiện chính sách tiêu hủy đàn mắc bệnh). - Trung Quốc: ổ dịch cúm gia cầm H5N1 đầu tiên được phát hiện vào ngày 27/01/2004 ở tỉnh Quảng Tây, sau đó lan ra 15 tỉnh khác đặc biệt các tỉnh có biên giới với Việt Nam đều có dịch.

Từ ngày 28/7/2004, Trung Quốc không phát hiện thêm ổ dịch mới. Số gia cầm tiêu hủy là hơn 5,6 triệu con gà; hơn 1,7 triệu con vịt, 16 nghìn chim cút và các loại chim khác. - Malaysia: dịch cúm gia cầm H5N1 xảy ra từ ngày 19/8/2004 đến ngày 22/11/2004 ở tỉnh Kalantan, số gia cầm tiêu hủy hơn 18 nghìn con. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 - Hồng Kông: dịch cúm gia cầm H5N1 xảy ra từ ngày 26/01/2004 đến ngày 10/02/2005.

Ngoài các ổ dịch do virus cúm A/H5N1 nêu trên, còn có 7 nước và vùng lãnh thổ khác có dịch cúm gia cầm do các chủng virus cúm khác là: Đài Loan xảy ra dịch cúm gia cầm H5N2 từ 20/01/2004 đến 05/3/2004. Pakistanxảy ra dịch cúm do H7N3 và H9N2 trên gà tây từ tháng 11/2003 đến tháng 3/2004, số gia cầm chết và tiêu hủy là 1,7 triệu con. Canada xảy ra 2 ổ dịch cúm gia cầm H7N3 (LPAI) trên gà vào các ngày 19/02/2004 và 09/3/2004, ca bệnh cuối cùng được ghi nhận vào ngày 20/4/2004. Hoa Kỳ xảy ra 01 ổ dịch cúm gia cầm H7N2 (LPAI) duy nhất trên gà vào ngày 11/02/2004 tại bang Delaware.

Nam Phi xảy ra 01 ổ dịch cúm H6 trên gà công nghiệp, kết thúc ngày 25/3/2004; 01 ổ dịch do H5N2 ngày 06/8/2004 trên đà điểu, kết thúc vào đầu tháng 12/2004. Ai cập đã phát hiện 01 ổ dịch H1N7 trên vịt hoang dã trong năm 2004. Triều Tiênxảy ra dịch cúm gia cầm H7N3 ở Bình Nhưỡng từ ngày 25/02 đến ngày 26/3/2005, đã tiêu hủy khoảng 219 nghìn gà ở 3 trại trong vòng bán kính 5km. Bên cạnh đó, vào cuối tháng 3/2005 tại Myanmar đã phát hiện hàng nghìn gà chết nghi bệnh cúm gia cầm, tuy nhiên không có báo cáo xác định bệnh cúm xảy ra.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Tình hình dịch cúm gia cầm tại Bình Định (2011-2015) và hiệu quả tiêm phòng vaccine H5N1" cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình dịch cúm gia cầm trong giai đoạn 2011-2015 tại tỉnh Bình Định, cùng với những phân tích về hiệu quả của việc tiêm phòng vaccine H5N1. Tài liệu nêu bật những thách thức mà ngành chăn nuôi phải đối mặt do dịch bệnh, cũng như những biện pháp đã được thực hiện để kiểm soát và ngăn chặn sự lây lan của virus. Đặc biệt, thông tin về hiệu quả của vaccine H5N1 giúp người đọc hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc tiêm phòng trong việc bảo vệ sức khỏe gia cầm và an toàn thực phẩm.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ nông nghiệp tình hình dịch cúm gia cầm trên địa bàn tỉnh Bình Định giai đoạn 2011 2015 và đáp ứng miễn dịch sau tiêm phòng vaccine H5N1. Tài liệu này sẽ cung cấp thêm thông tin chi tiết và phân tích sâu hơn về tình hình dịch bệnh và các biện pháp phòng ngừa, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này.