Nghiên Cứu Tình Hình Dịch Cúm Gia Cầm Tại Bình Định Giai Đoạn 2011-2015

Luận văn thạc sĩ nông nghiệp nghiên cứu nông nghiệp tình hình dịch cúm gia cầm trên địa bàn tỉnh bình định giai đoạn 2011 2015 và đáp ứng, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên

Chuyên ngành

Chăn nuôi Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2016

95
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Dịch Cúm Gia Cầm Bình Định Thách Thức Cơ Hội

Bệnh cúm gia cầm (Avian influenza) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus cúm type A thuộc họ Orthomyxoviridae gây ra cho gia cầm. Bệnh có thể lây sang người và một số loài thú khác, gây thiệt hại kinh tế lớn và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Virus cúm A được phân chia thành nhiều subtype khác nhau dựa trên kháng nguyên HA và NA. Sự tái tổ hợp giữa các subtype HA và NA có thể tạo ra nhiều subtype khác nhau về độc tính và khả năng gây bệnh. Theo Tổ chức Y tế Thế giới - WHO, từ năm 2003 đến nay đã có 450 người tử vong do cúm gia cầm trong số 851 ca nhiễm H5N1 tại 16 nước. Tại Bình Định, dịch cúm gia cầm xảy ra từ ngày 20 tháng 01 năm 2004, và tiếp tục diễn biến phức tạp trong giai đoạn 2011-2015.

1.1. Lịch Sử Phát Triển Dịch Bệnh Cúm Gia Cầm Trên Thế Giới

Bệnh cúm gia cầm đã được ghi nhận từ rất sớm trong lịch sử. Năm 412 trước công nguyên, Hippocrate đã mô tả về bệnh cúm gia cầm. Sau đó vào năm 1680 một vụ đại dịch cúm đã được mô tả kỹ và từ đó đến nay đã xảy ra 31 vụ đại dịch. Trong hơn 100 năm qua đã xảy ra 4 vụ đại dịch cúm vào các năm 1889, 1918, 1957, 1968. Đại dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918 (A/H1N1) làm khoảng 20 - 40 triệu người chết. Năm 1957, bệnh cúm châu Á (A/H2N2) xuất hiện. Năm 1968, bệnh cúm Hồng Kông (A/H3N2) xảy ra. Điều này cho thấy tính chất nguy hiểm và khả năng biến đổi liên tục của virus cúm.

1.2. Tình Hình Dịch Cúm Gia Cầm Ở Việt Nam Tác Động Kinh Tế

Bệnh cúm gia cầm H5N1 lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam vào cuối năm 2003, từ đó đến nay dịch bệnh xảy ra liên tục. Theo báo cáo của USAID, từ 2003 đến nay đã có hơn 300 dịch cúm gia cầm tại Việt Nam. USAID đã hỗ trợ cho Việt Nam trên 52 triệu USD cho công tác phòng chống dịch cúm gia cầm. Điều này cho thấy tác động kinh tế và xã hội to lớn của dịch bệnh, đòi hỏi các biện pháp phòng chống hiệu quả và bền vững. Thực trạng chăn nuôi gia cầm Bình Định cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ.

II. Phân Tích Dịch Tễ Học Cúm Gia Cầm H5N1 Bình Định 2011 2015

Giai đoạn 2011-2015, tình hình dịch cúm gia cầm H5N1 Bình Định diễn biến phức tạp với các đợt bùng phát dịch rải rác tại nhiều địa phương. Năm 2014 là năm có số ổ dịch cao nhất, đối tượng mắc bệnh chủ yếu là vịt. Dịch thường xảy ra vào khoảng tháng 2 và tháng 3 trong năm. Các yếu tố như phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ, thả rông, và việc chấp hành tiêm phòng vaccine cúm gia cầm chưa triệt để, đặc biệt ở các huyện vùng sâu vùng xa, là những thách thức lớn trong công tác phòng chống dịch. Cần có các biện pháp kiểm soát dịch tễ học chặt chẽ hơn để ngăn chặn sự lây lan của bệnh.

2.1. Thống Kê Chi Tiết Ổ Dịch Cúm Gia Cầm H5N1 Tại Bình Định 2011 2015

Dịch cúm gia cầm H5N1 xảy ra lần đầu tiên tại tỉnh Bình Định vào ngày 20 tháng 01 năm 2004 và từ đó đến nay dịch vẫn xảy ra rải rác tại tất cả các huyện, thị xã và thành phố. Trong giai đoạn 2011 - 2015 có 3 năm xảy ra dịch (năm 2011, 2013 và 2014), năm có số ổ dịch cao nhất là năm 2014, đối tượng mắc bệnh chủ yếu là vịt. Dịch thường xảy ra vào khoảng tháng 2 và tháng 3 trong năm.

2.2. Phân Tích Nguy Cơ Lây Lan Cúm Gia Cầm Yếu Tố Ảnh Hưởng

Các yếu tố nguy cơ làm phát sinh và lây lan dịch cúm gia cầm H5N1 gồm: không tiêm vaccine phòng bệnh cho đàn gia cầm (OR = 20,9); vệ sinh phòng bệnh và sử dụng hóa chất tiêu độc khử trùng (OR = 20); nuôi thả rông gia cầm (OR = 12,1); sử dụng thức ăn tận dụng cho đàn gia cầm (OR = 7,3). Điều này cho thấy vai trò quan trọng của việc tiêm phòng đầy đủ, vệ sinh chuồng trại và quản lý chăn nuôi hiệu quả trong việc kiểm soát dịch bệnh.

2.3. Thống Kê Tiêm Phòng Cúm Gia Cầm và Vùng Nguy Cơ Cao Bình Định

Tỷ lệ tiêm vaccine phòng bệnh cúm gia cầm H5N1 tại Bình Định đảm bảo yêu cầu (trên 80% so với tổng đàn trong diện tiêm phòng), tuy nhiên 2 huyện Vân Canh và Vĩnh Thạnh có tỷ lệ tiêm phòng không đạt do người dân ở các địa bàn này chủ yếu chăn nuôi theo phương thức nhỏ lẻ, chăn nuôi tận dụng thả rông không có chuồng trại để nhốt, không chấp hành tiêm phòng bắt buộc đối với vaccine cúm gia cầm H5N1.

III. Cách Đánh Giá Hiệu Quả Vaccine Cúm Gia Cầm H5N1 Ở Bình Định

Nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng miễn dịch của đàn gia cầm sau tiêm phòng 2 loại vaccine cúm gia cầm tái tổ hợp H5N1chủng Re-6 và vaccine cúm gia cầm NAVET – VIFLUVAC chủng NIBRG-14. 540 mẫu huyết thanh sau tiêm phòng và 90 mẫu huyết thanh không tiêm phòng trên đàn gà thả vườn, gà nuôi nhốt và vịt tại thị xã An Nhơn, huyện Tây Sơn và Hoài Nhơn, sau đó tiến hành xét nghiệm xác định hàm lượng kháng thể bằng phương pháp ngăn trở ngưng kết hồng cầu (HI).

3.1. Quy Trình Thu Thập Xét Nghiệm Mẫu Huyết Thanh Đánh Giá Miễn Dịch

Chúng tôi đã tiến hành lấy 540 mẫu huyết thanh sau tiêm phòng và 90 mẫu huyết thanh không tiêm phòng trên đàn gà thả vườn, gà nuôi nhốt và vịt tại thị xã An Nhơn, huyện Tây Sơn và Hoài Nhơn, sau đó tiến hành xét nghiệm xác định hàm lượng kháng thể bằng phương pháp ngăn trở ngưng kết hồng cầu (HI). Đây là phương pháp tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả vaccine cúm gia cầm.

3.2. Phương Pháp Phân Tích Số Liệu Đánh Giá Hiệu Quả Tiêm Phòng Cúm

Các số liệu thu được từ kết quả điều tra và nghiên cứu được xử lý bằng phương pháp phân tích dịch tễ và thống kê sinh học trên chương trình Microsoft Office Excel, Minitab 14 và Epicalc 2000. Phương pháp này cho phép xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tiêm phòng và đánh giá sự khác biệt giữa các loại vaccine.

IV. So Sánh Hiệu Quả Vaccine NAVET VIFLUVAC So Với H5N1Re 6

Hiệu giá kháng thể sau tiêm phòng của vaccine NAVET-VIFLUVAC NIBRG-14 cao hơn so với vaccine H5N1Re-6 trên đàn gia cầm của tỉnh. Tuy nhiên sự sai khác về tỷ lệ bảo hộ và đáp ứng miễn dịch của 2 loại vaccine trên là không có ý nghĩa về mặt thống kê. Tỷ lệ bảo hộ và đáp ứng miễn dịch sau tiêm phòng trên đàn gia cầm của tỉnh Bình Định khá cao đối với cả 3 loại gia cầm là gà thả vườn (88,3%), gà nuôi nhốt (88,3%) và vịt (88,9)% trong đợt tiêm phòng thứ 2 của năm 2015.

4.1. Phân Tích Chi Tiết Hiệu Giá Kháng Thể Sau Tiêm Hai Loại Vaccine

Hiệu giá kháng thể sau tiêm phòng của vaccine NAVET-VIFLUVAC NIBRG- 14 cao hơn so với vaccine H5N1Re-6 trên đàn gia cầm của tỉnh. Tuy nhiên, sự sai khác về tỷ lệ bảo hộ và đáp ứng miễn dịch của 2 loại vaccine trên là không có ý nghĩa về mặt thống kê.

4.2. So Sánh Tỷ Lệ Bảo Hộ Giữa Vaccine Cúm Re 6 và NAVET VIFLUVAC

Tỷ lệ bảo hộ và đáp ứng miễn dịch sau tiêm phòng trên đàn gia cầm của tỉnh Bình Định khá cao đối với cả 3 loại gia cầm là gà thả vườn (88,3%), gà nuôi nhốt (88,3%) và vịt (88,9)% trong đợt tiêm phòng thứ 2 của năm 2015. Điều này cho thấy hiệu quả chung của chương trình tiêm phòng cúm gia cầm tại Bình Định.

V. Giải Pháp Phòng Chống Dịch Cúm Gia Cầm Hiệu Quả tại Bình Định

Để khống chế tái xuất hiện cúm gia cầm cần tăng cường giám sát dịch tễ, thực hiện các biện pháp an toàn sinh học, thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về công tác thú y và đặc biệt chú trọng đến công tác tiêm phòng. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và người chăn nuôi là yếu tố then chốt để kiểm soát dịch bệnh.

5.1. Tăng Cường Giám Sát Dịch Tễ Chủ Động và Báo Cáo Kịp Thời

Giám sát dịch tễ đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện sớm các ổ dịch và ngăn chặn sự lây lan. Cần xây dựng hệ thống giám sát chủ động, kết hợp với việc khuyến khích người chăn nuôi báo cáo kịp thời các dấu hiệu bất thường trên đàn gia cầm.

5.2. Áp Dụng An Toàn Sinh Học Toàn Diện Trong Chăn Nuôi Gia Cầm

Các biện pháp an toàn sinh học bao gồm: vệ sinh chuồng trại, kiểm soát ra vào, sử dụng thức ăn và nước uống sạch, và tiêu độc khử trùng thường xuyên. Việc áp dụng an toàn sinh học là biện pháp phòng bệnh hiệu quả và bền vững.

5.3. Tối Ưu Chính Sách và Quản Lý Nhà Nước về Thú Y

Cần có các chính sách hỗ trợ người chăn nuôi trong việc phòng chống dịch bệnh, đồng thời tăng cường quản lý nhà nước về thú y, kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển và buôn bán gia cầm.

VI. Kết Luận Đề Xuất Kiểm Soát Cúm Gia Cầm ở Bình Định

Nghiên cứu đã đánh giá tình hình dịch cúm gia cầm tại Bình Định giai đoạn 2011-2015, xác định các yếu tố nguy cơ và đánh giá hiệu quả vaccine. Kết quả cho thấy cần tăng cường các biện pháp phòng chống dịch tổng hợp để bảo vệ ngành chăn nuôi và sức khỏe cộng đồng. Đặc biệt, cần nâng cao ý thức và trách nhiệm của người chăn nuôi trong việc thực hiện các biện pháp phòng bệnh.

6.1. Tổng Kết Các Phát Hiện Quan Trọng Về Dịch Cúm tại Bình Định

Dịch cúm gia cầm H5N1 vẫn là một thách thức lớn đối với ngành chăn nuôi gia cầm tại Bình Định. Các yếu tố như phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ, thả rông và việc chấp hành tiêm phòng chưa triệt để là những nguyên nhân chính dẫn đến dịch bệnh.

6.2. Đề Xuất Giải Pháp Cụ Thể Để Kiểm Soát Cúm Gia Cầm H5N1

Cần có các giải pháp đồng bộ và bền vững để kiểm soát cúm gia cầm, bao gồm: tăng cường giám sát dịch tễ, áp dụng an toàn sinh học, tiêm phòng đầy đủ và nâng cao nhận thức của người chăn nuôi. Việc hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và cộng đồng là yếu tố then chốt để đạt được hiệu quả cao nhất.

23/05/2025
Luận văn thạc sĩ nông nghiệp tình hình dịch cúm gia cầm trên địa bàn tỉnh bình định giai đoạn 2011 2015 và đáp ứng miễn dịch sau tiêm phòng vaccine h5n1

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu chung về bệnh cúm gia cầm Bệnh Cúm gia cầm Avian influenza là một loại bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus cúm type A thuộc họ Orthomyxovirideae gây ra cho gà, vịt, ngan, ngỗng, gà tây, chim cút, đà điểu, các loài chim cảnh và chim hoang dã; và nguy hiểm hơn bệnh có thể lây sang người và một số loài thú khác. Virus được phân chia thành nhiều subtype khác nhau dựa trên kháng nguyên HA và NA có trên bề mặt capsid của hạt virus.

Nhóm virus cúm A có 16 subtype HA (từ H1 đến H16) và 9 phân type NA (từ N1 đến N9). Sự tái tổ hợp (reassortment) giữa các subtype HA và NA, về mặt lý thuyết sẽ tạo ra nhiều subtype khác nhau về độc tính và khả năng gây bệnh. Trước đây bệnh được gọi là dịch tả gà (Fowl Plague), nhưng từ hội nghị lần thứ nhất về dịch cúm gia cầm tại Beltsville, Mỹ năm 1981 đã thay thế tên này bằng tên bệnh cúm truyền nhiễm cao ở gia cầm (HPAI) để chỉ virus type A có độc lực mạnh, lây lan nhanh, tỷ lệ tử vong cao (Trần Hữu Cổn, Bùi Quang Anh, 2004). Dịch cúm gia cầm do virus cúm A subtype H5N1 thể độc lực cao xuất hiện ở vùng Quảng Đông, Trung Quốc năm 1996 và đã lan ra hơn 60 nước trên thế giới ở châu Á, châu Âu và châu Phi, gây nhiều thiệt hại về kinh tế do gia cầm bị chết hoặc tiêu huỷ nhằm kiểm soát dịch, được chứng minh là có khả năng lây nhiễm từ động vật sang người, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.

Bệnh cúm gia cầm H5N1 lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam vào cuối năm 2003, từ đó đến nay dịch bệnh xảy ra liên tục, đang là vấn đề dịch tễ phức tạp do xuất hiện nhiều phân dòng virus mới và là dịch bệnh cần phải giải quyết tại nước ta. Virus cúm A/H5N1 đang lưu hành ở nhiều nước, thường xuyên gây bệnh cho gia cầm và người, là nguy cơ gây đại dịch trên toàn thế giới. Lịch sử bệnh cúm gia cầm trên thế giới Năm 412 trước công nguyên, Hippocrate đã mô tả về bệnh cúm gia cầm. Sau đó vào năm 1680 một vụ đại dịch cúm đã được mô tả kỹ và từ đó đến nay đã xảy ra 31 vụ đại dịch.

Trong hơn 100 năm qua đã xảy ra 4 vụ đại dịch cúm vào các năm 1889, 1918, 1957, 1968 (Capua I. Năm 1918, đại dịch cúm xảy ra ở châu Âu do virus cúm type A/H1N1 gây ra, gọi là dịch cúm Tây Ban Nha, làm khoảng 20 - 40 triệu người chết. Năm 1957, virus cúm type A/H2N2 xuất hiện ở miền Nam Trung Quốc, gây ra bệnh cúm châu Á. Năm 1968, virus cúm type A/H3N2 gây bệnh cúm ở Hồng Kông.

Bệnh cúm gia cầm đầu tiên được mô tả như bệnh dịch tả gia cầm được Perroncito báo cáo vào năm 1878 ở Ý, đầu tiên bệnh bị nhầm lẫn với dạng nhiễm trùng PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 huyết cấp tính của bệnh tụ huyết trùng gia cầm; cho đến năm 1880, Rivolto và Delprato đã phân biệt hai bệnh này dựa vào đặc điểm lâm sàng và bệnh lý học; đến năm 1901, Centanni và Savonuzzi đã chứng minh bệnh là do “virus có thể qua lọc” (filterable agent) gây ra, nhưng virus không được định danh là virus cúm.; phải đến năm 1995 Schafet mới xác định được virus đó chính là virus thuộc type A thông qua kháng nguyên bề mặt H7N1 và H7N7 gây chết nhiều gà, gà tây và chim hoang ở Bắc Mỹ, Châu Phi, Trung Cận Đông (Trần Hữu Cổn, Bùi Quang Anh, 2004). Đầu thế kỷ 20, bệnh cúm gia cầm độc lực cao được báo cáo ở Thụy Sĩ, Nga, Hà Lan, Hungary, Anh, Ai Cập, Trung Quốc, Nhật, Brazin và Argentina. Năm 1963, virus cúm type A được phân lập từ gà tây ở Bắc Mỹ do loài thuỷ cầm di trú dẫn nhập vào đàn gà. Cuối thập kỷ 60 phân type H1N1 thấy ở lợn và có liên quan đến những ổ dịch gà tây với những biểu hiện đặc trưng là triệu trứng ở đường hô hấp và giảm đẻ.

Mối liên hệ giữa lợn - gà tây là những dấu hiệu đầu tiên về virus cúm ở động vật có vú có thể lây nhiễm và gây bệnh cho gia cầm. Những nghiên cứu về phân type H1N1 đều cho rằng virus cúm type A đã ở lợn và đã truyền lây cho gà tây. Ngoài ra phân type H1N1 ở vịt còn truyền cho lợn. Một số chủng virus cúm type A điển hình gây bệnh ở gia cầm đã được phát hiện trong những ổ dịch ở động vật có vú (CDC, 2004).

Việc lây nhiễm từ chim hoang dã sang gia cầm đã có bằng chứng từ trước năm 1970 nhưng chỉ được công nhận khi xác định được tỷ lệ nhiễm virus cúm cao ở một số loài thủy cầm di trú (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005). Năm 1971, Bệnh cũng được Beard.W mô tả tương đối kỹ qua đợt dịch cúm khá lớn trên gà tây ở Mỹ (Biswas. Những năm tiếp theo dịch cúm gia cầm xẩy ra ở nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới như: Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Nam Phi, Viễn Đông, Trung Đông, Châu Âu, Anh và Liên Xô cũ. Những công trình nghiên cứu về bệnh cúm gia cầm lần lượt được công bố tại các nước: ở Úc năm 1975, ở Anh năm 1979, ở Mỹ năm 1983-1984.

Từ khi phát hiện ra virus cúm type A, các nhà khoa học đã tăng cường nghiên cứu và thấy virus cúm có ở nhiều loài chim hoang dã và gia cầm nuôi trên thế giới và thấy bệnh dịch nghiêm trọng nhất xảy ra đối với gia cầm là những chủng gây bệnh thể độc lực cao thuộc phân type H5 và H7, như ở Scotland năm 1959 là H5N1, ở Mỹ năm 1983-1984 là H5N2 (Capua I. Sự lây nhiễm từ chim hoang dã sang gia cầm đã có bằng chứng từ trước năm 1970 nhưng chỉ được công nhận khi xác định được tỷ lệ nhiễm virus cúm cao ở một số loài thủy cầm di trú (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005c). Dịch cúm gia cầm bùng nổ liên tục khắp các châu lục trên thế giới đã thúc đẩy các hiệp hội chăn nuôi gia cầm và các nhà khoa học tổ chức nhiều Hội thảo chuyên đề PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 về bệnh. Từ đó đến nay, trong các Hội thảo về dịch tễ, bệnh cúm gia cầm luôn là một trong những nội dung được coi trọng.

Điều này cho thấy bệnh cúm gia cầm ngày càng trở nên nguy hiểm, gây nhiều thiệt hại về kinh tế cho ngành chăn nuôi gia cầm trên toàn cầu. Càng đặc biệt nguy hiểm hơn khi virus cúm gia cầm “vượt hàng rào về loài”, thích nghi gây bệnh ở người với tỷ lệ tử vong rất cao (Mary J. Pantin Jack Wood 2008). * Từ năm 2003 đến năm 2005: có 10 quốc gia và vùng lãnh thổ xuất hiện dịch cúm gia cầm H5N1 gồm Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Campuchia, Lào, Indonesia, Trung Quốc, Malaysia, Hồng Kông, Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005a).

- Hàn Quốc: dịch cúm gia cầm H5N1 xảy ra từ 12/12/2003 đến 24/3/2004 với gần 400 nghìn gia cầm tiêu hủy và một ổ dịch cúm gia cầm H5N2 kết thúc ngày 10/12/2004. - Nhật Bản: dịch cúm gia cầm H5N1 xảy ra từ 12/01/2004, đã tiêu hủy hơn 275 nghìn con gà, ổ dịch cuối cùng xảy ra ngày 05/5/2004. - Thái Lan: ổ dịch cúm gia cầm H5N1 đầu tiên được xác định vào ngày 23/01/2004 ở tỉnh Chiang Mai. Đợt thứ nhất có 190 ổ dịch ở 89 huyện thuộc 42 tỉnh; tiêu hủy khoảng 30 triệu gia cầm.

Đợt dịch thứ 2 phát lại từ 03/7/2004 đến 14/02/2005 có 1.552 điểm phát dịch tại 777 xã của 264 huyện thuộc 51 tỉnh. Số gia cầm tiêu hủy là hơn 850 nghìn con gà, hơn 687 nghìn con vịt và khoảng 274 nghìn gia cầm khác. - Campuchia: dịch cúm gia cầm H5N1 xảy ra từ ngày 24/01/2004. - Lào: dịch cúm gia cầm H5N1 xảy ra từ ngày 27/01/2004 đến ngày 13/02/2004 ở 3 tỉnh, đã tiêu hủy hơn 155 nghìn con gà.

- Indonesia: dịch cúm gia cầm H5N1 xuất hiện vào tháng 01/2004, đến tháng 11/2004 đã có 101 huyện thuộc 16 tỉnh có dịch. Ngày 23/3/2005 dịch tiếp tục lây lan ở nam đảo Sulawesi làm khoảng 128 ngàn con gà ở 4 tỉnh mắc bệnh, trong đó ổ dịch lớn nhất ở tỉnh Sidrap làm 101.400 con gà mắc bệnh. Tính từ khi có dịch đến nay đã có 16,23 triệu gia cầm bị chết, trong đó có 8,17 triệu con ở trung tâm đảo Java (Indonesia không thực hiện chính sách tiêu hủy đàn mắc bệnh). - Trung Quốc: ổ dịch cúm gia cầm H5N1 đầu tiên được phát hiện vào ngày 27/01/2004 ở tỉnh Quảng Tây, sau đó lan ra 15 tỉnh khác đặc biệt các tỉnh có biên giới với Việt Nam đều có dịch.

Từ ngày 28/7/2004, Trung Quốc không phát hiện thêm ổ dịch mới. Số gia cầm tiêu hủy là hơn 5,6 triệu con gà; hơn 1,7 triệu con vịt, 16 nghìn chim cút và các loại chim khác. - Malaysia: dịch cúm gia cầm H5N1 xảy ra từ ngày 19/8/2004 đến ngày 22/11/2004 ở tỉnh Kalantan, số gia cầm tiêu hủy hơn 18 nghìn con. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 - Hồng Kông: dịch cúm gia cầm H5N1 xảy ra từ ngày 26/01/2004 đến ngày 10/02/2005.

Ngoài các ổ dịch do virus cúm A/H5N1 nêu trên, còn có 7 nước và vùng lãnh thổ khác có dịch cúm gia cầm do các chủng virus cúm khác là: Đài Loan xảy ra dịch cúm gia cầm H5N2 từ 20/01/2004 đến 05/3/2004. Pakistanxảy ra dịch cúm do H7N3 và H9N2 trên gà tây từ tháng 11/2003 đến tháng 3/2004, số gia cầm chết và tiêu hủy là 1,7 triệu con. Canada xảy ra 2 ổ dịch cúm gia cầm H7N3 (LPAI) trên gà vào các ngày 19/02/2004 và 09/3/2004, ca bệnh cuối cùng được ghi nhận vào ngày 20/4/2004. Hoa Kỳ xảy ra 01 ổ dịch cúm gia cầm H7N2 (LPAI) duy nhất trên gà vào ngày 11/02/2004 tại bang Delaware.

Nam Phi xảy ra 01 ổ dịch cúm H6 trên gà công nghiệp, kết thúc ngày 25/3/2004; 01 ổ dịch do H5N2 ngày 06/8/2004 trên đà điểu, kết thúc vào đầu tháng 12/2004. Ai cập đã phát hiện 01 ổ dịch H1N7 trên vịt hoang dã trong năm 2004. Triều Tiênxảy ra dịch cúm gia cầm H7N3 ở Bình Nhưỡng từ ngày 25/02 đến ngày 26/3/2005, đã tiêu hủy khoảng 219 nghìn gà ở 3 trại trong vòng bán kính 5km. Bên cạnh đó, vào cuối tháng 3/2005 tại Myanmar đã phát hiện hàng nghìn gà chết nghi bệnh cúm gia cầm, tuy nhiên không có báo cáo xác định bệnh cúm xảy ra.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Tình Hình Dịch Cúm Gia Cầm Tại Bình Định Giai Đoạn 2011-2015" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển và diễn biến của dịch cúm gia cầm tại tỉnh Bình Định trong khoảng thời gian từ 2011 đến 2015. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự lây lan của dịch bệnh mà còn đề xuất các biện pháp phòng ngừa hiệu quả. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin quý giá về tình hình dịch bệnh, các biện pháp ứng phó và tầm quan trọng của việc tiêm phòng vaccine.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ nông nghiệp tình hình dịch cúm gia cầm trên địa bàn tỉnh bình định giai đoạn 20112015 và đáp ứng miễn dịch sau tiêm phòng vaccine h5n1. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các khía cạnh liên quan đến dịch cúm gia cầm và các biện pháp tiêm phòng hiệu quả.