Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bệnh dại là một bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm do virus hướng thần kinh gây ra ở động vật có vú và lây truyền sang người. Khi các triệu chứng lâm sàng xuất hiện, tỷ lệ tử vong ở người bệnh là 100%. Tại Việt Nam, trước năm 1996, trung bình mỗi năm có khoảng 300.000 người bị súc vật cắn phải điều trị dự phòng bằng vắc xin và có tới gần 500 ca tử vong do lên cơn dại, tập trung chủ yếu ở các tỉnh, thành phố phía Bắc.

Tại tỉnh Tuyên Quang – một tỉnh miền núi phía Bắc gồm 6 huyện và 1 thành phố với 141 xã, phường – tình hình dịch tễ bệnh dại diễn biến hết sức phức tạp, xếp thứ 4 về số ca tử vong do dại trong số 28 tỉnh miền Bắc. Trong giai đoạn 2000 – 2009, toàn tỉnh ghi nhận 88 ca tử vong do bệnh dại. Đáng chú ý, có tới 90% số ca tử vong là do không đi tiêm phòng vắc xin, số còn lại do tiêm không đủ mũi hoặc tự ý điều trị bằng thuốc nam. Riêng huyện Yên Sơn, một địa bàn vùng núi phức tạp giáp ranh nhiều tỉnh, số ca tử vong có xu hướng gia tăng liên tục từ năm 2004 đến 2008.

Mặc dù hệ thống y tế dự phòng đã cung ứng đủ vắc xin tại các tuyến huyện và ngành thú y đã có chương trình tiêm phòng cho đàn chó, nhưng tỷ lệ tiêm chủng trên đàn chó chỉ đạt mức thấp (khoảng 30% – 40%), trong khi nhận thức và hành vi phòng bệnh của người dân vùng cao còn nhiều hạn chế. Trước thời điểm nghiên cứu, tại tỉnh Tuyên Quang chưa có một công trình nghiên cứu toàn diện nào về đặc điểm phân bố dịch tễ học cũng như chưa triển khai giải pháp can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe có đánh giá hiệu quả thực nghiệm để khống chế bệnh dại trên địa bàn. Do đó, việc thực hiện đề tài là yêu cầu cấp thiết của thực tiễn y tế công cộng địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định 3 mục tiêu cụ thể:

  1. Mô tả đặc điểm dịch tễ học bệnh dại tại tỉnh Tuyên Quang trong 10 năm (2002 – 2011).
  2. Đánh giá thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) về phòng chống bệnh dại của người dân tại xã điểm thuộc huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
  3. Đánh giá hiệu quả của biện pháp giáo dục truyền thông phòng chống bệnh dại tại xã điểm thuộc huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu:
    • Các trường hợp phơi nhiễm với súc vật nghi dại đến tiêm phòng và các trường hợp tử vong do bệnh dại trên địa bàn tỉnh.
    • Người dân sinh sống tại xã điểm can thiệp thuộc huyện Yên Sơn.
    • Hệ thống giám sát, các điểm tiêm phòng dại và cán bộ y tế tham gia công tác phòng chống bệnh dại.
  • Phạm vi không gian: Tỉnh Tuyên Quang, trọng tâm can thiệp sâu tại huyện Yên Sơn (địa bàn có 31 xã, địa hình chia cắt bởi sông Lô và tiếp giáp các tỉnh Yên Bái, Thái Nguyên, Phú Thọ).
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và phân tích số liệu dịch tễ học trong 10 năm (2002 – 2011); khảo sát can thiệp truyền thông thực hiện tại thời điểm nghiên cứu (năm 2012).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trong và ngoài nước

Tổng quan tài liệu của luận án đã hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu bệnh dại từ thời cổ đại đến hiện đại:

  • Lịch sử và sinh học phân tử: Cổ thư Lưỡng Hà (thế kỷ 23 TCN), y văn Hy Lạp cổ đại (Democritus, Aristotle), Zinke (chứng minh tính lây nhiễm qua nước bọt chó đầu thế kỷ 19), Galtier (gây bệnh thực nghiệm trên thỏ và gây miễn dịch cho cừu), Louis Pasteur (1884 – 1885, phân lập "virus dại cố định" trên não thỏ, điều trị thành công ca đầu tiên Joseph Meister ngày 06/07/1885), Babes và Negri (phát hiện tiểu thể Negri), cùng các ứng dụng kháng thể đơn dòng và kỹ thuật PCR trong giải mã 12 gen virus dại.
  • Các nghiên cứu dịch tễ học tại Việt Nam:
    • Nguyễn Đức Khởi và cộng sự (1955 – 1965): Bệnh dại ở miền Bắc xuất hiện quanh năm, đỉnh điểm cuối xuân đầu hè; nguồn truyền bệnh chủ yếu là chó nhà (91,72%), mèo (4,91%), chuột (1,88%); nam giới chiếm 60,9% người tiêm phòng; nhóm tuổi 6 – 15 bị cắn nhiều nhất (32,7%).
    • Nguyễn Trung Thành và cộng sự: Phân tích 204 ca tử vong do dại (chó cắn chiếm 93,62%, mèo 2,4%; vị trí cắn ở chi dưới 36,28%, chi trên 32,84%, đầu mặt cổ 13,2%) và 82 ca tử vong (1978 – 1980) tại 8 tỉnh miền Bắc ghi nhận thời gian ủ bệnh 31 – 60 ngày chiếm 42,6%.
    • Trịnh Văn Hùng (1989 – 1993): Dịch tễ tại Bắc Thái cho thấy 63,7% ca tử vong do không đi tiêm phòng, 2,05% chữa thuốc nam; có 13,72% tử vong dù tiêm đủ vắc xin do đến muộn hoặc xử lý sai.
    • Đinh Kim Xuyến, Bùi Đức Huy và cộng sự (1989 – 1995): Miền Bắc có 910.000 người tiêm phòng và 3.280 ca tử vong (trên 90% do không đi tiêm); khảo sát tại Gia Lâm, Thuận Thành, Mê Linh ghi nhận 89% – 92% ca tử vong không tiêm vắc xin, trong đó 80,4% do thiếu hiểu biết.
    • Hà Bá Khiêm (1976 – 1992): Khảo sát 387 ca tử vong tại TP. Hồ Chí Minh, Thái Bình và miền Trung (73% – 88% do không tiêm vắc xin; tỷ lệ tiêm phòng trên đàn chó chỉ đạt khoảng 60%).
    • Nguyễn Lệ Hiền, Nguyễn Văn Hiếu và cộng sự (1990 – 1997): Nghiên cứu tại Hải Phòng trên hơn 21.000 lượt tiêm phòng và các ca tử vong do không tiêm phòng (74,6% – 76%).
    • Châu Hoàng Sơn và cộng sự (1994 – 1997): Phân tích 172 ca tử vong khu vực phía Nam (chó cắn chiếm 98,2%, không tiêm hoặc tiêm không đủ lịch chiếm 88,2%).
  • Các nghiên cứu quốc tế:
    • Tại Ấn Độ: Nghiên cứu trên 80 ca bệnh cho thấy nam giới chiếm 92,5%, nông thôn chiếm 76,2%; khảo sát vắc xin Semple (não cừu) với nguy cơ biến chứng thần kinh 1/3000 – 1/7000.
    • Tại Hoa Kỳ (Noah D.L. và cs, 1980 – 1986): Phân tích 32 ca tử vong do dại (53% do dơi cắn, 38% do chó, 3% do chồn; không ca nào được tiêm phòng sau phơi nhiễm); các khảo sát nhận thức cộng đồng tại Massachusetts và Connecticut (1993).
    • Tại Tây Ban Nha, Thái Lan, Pháp và Hungary: Đánh giá tỷ lệ phơi nhiễm theo loài, kiểm soát ổ dịch hoang dã bằng mồi vắc xin uống (như tại Pháp đạt 80% – 90% mồi tiêu thụ, bảo vệ 60% – 70% đàn cáo) và ghi nhận thành công của Hungary (40 năm không có ca dại ở người nhờ tiêm phòng động vật).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn

Mặc dù các nghiên cứu trong nước đã làm rõ bức tranh dịch tễ ở vùng đồng bằng và đô thị lớn (Hà Nội, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh, Bắc Thái), nhưng tại các tỉnh miền núi có tỷ lệ tử vong cao như Tuyên Quang (đặc biệt là các huyện giáp ranh như Yên Sơn), chưa có dữ liệu dịch tễ học chi tiết theo giai đoạn 10 năm, đồng thời thiếu các nghiên cứu can thiệp truyền thông dựa vào cộng đồng để thay đổi hành vi tiêm phòng vắc xin và sơ cứu vết thương.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Tác nhân sinh học và cơ chế bệnh sinh: Virus dại thuộc giống Lyssavirus, họ Rhabdoviridae. Sau khi xâm nhập qua vết cắn, vết cào hoặc niêm mạc tổn thương, virus nhân lên tại mô cơ/vết thương từ vài giờ đến vài tuần, sau đó xâm nhập vào đầu mút thần kinh ngoại biên và di chuyển hướng tâm dọc sợi trục (axon) với vận tốc khoảng 0,3 mm/giờ lên hệ thần kinh trung ương (cuống não, vùng dưới đồi, vỏ não) và phân tán đến tuyến nước bọt.
  • Phân loại thể bệnh lâm sàng:
    • Thể cuồng (điên cuồng): Kích thích quá độ, sợ nước (hydrophobia), sợ gió (aerophobia), sợ ánh sáng, co thắt thanh quản/vòm họng, tăng tiết, rối loạn thần kinh thực vật.
    • Thể liệt (hội chứng Landry): Liệt mềm tiến triển từ chi dưới lên chi trên, liệt cơ hô hấp và dẫn đến tử vong trong vòng 4 – 10 ngày.
  • Tiêu chuẩn chẩn đoán cận lâm sàng:
    • Phương pháp miễn dịch huỳnh quang (IF): Độ chính xác 98% – 99,4%, cho kết quả nhanh sau vài giờ.
    • Phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm (chuột bạch non/lẻ bầy): Theo dõi thời gian ủ bệnh 10 – 15 ngày và theo dõi trong 4 tuần; độ chính xác 98,3% – 98,7%.
    • Phương pháp giải phẫu bệnh: Nhuộm Sellers hoặc Giemsa tìm tiểu thể Negri trong tế bào thần kinh não.
  • Khung can thiệp dự phòng y tế:
    • Tiêm vắc xin và huyết thanh kháng dại (SAR) theo đúng chỉ định vị trí, mức độ tổn thương và tình trạng con vật.
    • Mô hình truyền thông thay đổi hành vi (KAP: Knowledge - Attitude - Practice) tại cộng đồng.

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Kết hợp giữa dịch tễ học mô tả cắt ngang hồi cứu/tiến cứu và nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng/so sánh trước – sau can thiệp.
  • Nguồn dữ liệu:
    • Số liệu báo cáo giám sát dịch tễ, sổ theo dõi tiêm phòng dại, phiếu điều tra ca bệnh tử vong tại Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh Tuyên Quang và TTYT huyện Yên Sơn giai đoạn 2002 – 2011.
    • Dữ liệu điều tra bằng bộ câu hỏi cấu trúc phỏng vấn hộ gia đình tại xã điểm can thiệp huyện Yên Sơn.
  • Quy trình can thiệp truyền thông: Sử dụng đa dạng các kênh truyền thông đại chúng (loa truyền thanh xã, truyền hình, báo chí), truyền thông trực tiếp (họp thôn bản, phát tờ rơi, tư vấn tại trạm y tế, truyền thông qua người có uy tín).

Nội dung chính theo từng chương

Luận án được kết cấu theo hệ thống chương chuẩn mực của luận án y học chuyên khoa cấp II. Dưới đây là nội dung trọng tâm trích xuất trực tiếp từ văn bản:

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết toàn diện các cơ sở lý luận, dữ liệu dịch tễ học và thực trạng mạng lưới phòng chống bệnh dại:

1. Tổng quan dịch tễ học và lâm sàng bệnh dại

  • Đặc điểm truyền bệnh: Động vật truyền bệnh chính tại Việt Nam là chó (96% – 97%), kế tiếp là mèo. Thời gian ủ bệnh trung bình từ 30 – 90 ngày (chiếm 80%), ngắn dưới 20 ngày (5% – 10%) hoặc kéo dài trên 3 tháng đến 1 năm.
  • Phác đồ tiêm phòng vắc xin và huyết thanh kháng dại theo quy định Bộ Y tế:
Phác đồ / Đối tượng Đường tiêm Lịch tiêm (Ngày) Liều lượng
Dự phòng trước phơi nhiễm (Cán bộ thú y, kiểm lâm, nhân viên PTN, người giết mổ...) Tiêm bắp (cơ Delta) Ngày 0, Ngày 7, Ngày 21 0,5 ml / mũi
Điều trị sau phơi nhiễm (Tiêm bắp chuẩn) Tiêm bắp Ngày 0, Ngày 3, Ngày 7, Ngày 14, Ngày 28 0,5 ml / mũi (5 mũi)
Điều trị sau phơi nhiễm (Tiêm trong da) Tiêm trong da Ngày 0, Ngày 3, Ngày 7 (2 mũi/ngày); Ngày 28, Ngày 90 (1 mũi/ngày) 0,1 ml / điểm tiêm
Điều trị sau phơi nhiễm (Tiêm bắp giảm liều) Tiêm bắp Ngày 0 (2 mũi), Ngày 7 (1 mũi), Ngày 21 (1 mũi) 0,5 ml / mũi
Huyết thanh kháng dại (SAR) Tiêm thấm quanh vết thương & tiêm bắp Tiêm càng sớm càng tốt (cùng ngày 0 với vắc xin) 40 UI / kg thể trọng

2. Hệ thống tổ chức giám sát và mạng lưới tiêm phòng dại toàn quốc (đến năm 2005)

Luận án thống kê quy mô mạng lưới phòng chống bệnh dại do Ban Chỉ đạo PCBD Trung ương, Cục Y tế Dự phòng, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, Viện Pasteur chỉ đạo:

Khu vực Số tỉnh/TP Số quận/huyện Tổng số điểm tiêm Điểm tiêm đạt chuẩn Bộ Y tế (%) Tỷ lệ tiêm phòng / 100.000 dân
Miền Nam 20 200 529 (chiếm 57% cả nước) 466 (88,0%) Cao nhất (~1400/100.000 dân)
Miền Bắc 29 318 252 234 (92,8%) Thấp nhất (còn 85 huyện trắng điểm tiêm)
Miền Trung 11 105 123 112 (91,0%) Trung bình (còn 14 huyện chưa có điểm tiêm)
Tây Nguyên 4 44 28 28 (100%) Thấp (Gia Lai 4/15 huyện, Kon Tum 2/9 huyện)
Toàn quốc 64 667 936 844 (90,2%) Vượt 109 điểm so với chỉ tiêu tối thiểu 735

Đặc thù miền núi phía Bắc: Các tỉnh vùng cao có mạng lưới điểm tiêm rất thưa thớt (Điện Biên 1/8 huyện, Lai Châu 1/6 huyện, Lào Cai 2/9 huyện, Hà Giang 3/11 huyện, Yên Bái 3/9 huyện, Hòa Bình 4/11 huyện), dẫn đến tỷ lệ tiếp cận vắc xin thấp và gia tăng rủi ro tử vong.

3. Bối cảnh dịch tễ và kinh tế - xã hội tại tỉnh Tuyên Quang và huyện Yên Sơn

  • Tỉnh Tuyên Quang: Hàng năm có 3.000 – 3.500 người đi tiêm vắc xin phòng dại. Giai đoạn 2000 – 2009 ghi nhận 88 ca tử vong. Số ca tử vong phân bố qua các năm:
    • Năm 2006: 15 ca tử vong.
    • Năm 2007: 14 ca tử vong.
    • Năm 2008: 13 ca tử vong.
    • Năm 2009: 6 ca tử vong.
  • Huyện Yên Sơn: Dân số 180.000 người, gồm 31 xã (15 xã bờ Đông và 16 xã bờ Tây sông Lô), 60% dân tộc Kinh, 40% đồng bào thiểu số (Dao, Cao Lan, Tày, Nùng, H'Mông). Có 80% người dân làm nghề nông - lâm nghiệp (trồng chè, lúa, lâm nghiệp). Gần 90% hộ gia đình nuôi chó mèo. Số ca tử vong do dại tại Yên Sơn tăng dần:
    • Năm 2004: 1 ca.
    • Năm 2005: 5 ca.
    • Năm 2006: 5 ca.
    • Năm 2007: 6 ca (riêng văn bản ghi nhận năm 2007 có thời điểm báo cáo 8 ca tử vong).
    • Năm 2008: 8 ca.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học thực tiễn

  1. Hệ thống hóa toàn diện bức tranh dịch tễ học bệnh dại tại tỉnh Tuyên Quang: Luận án cung cấp số liệu thực chứng 10 năm về tỷ lệ phơi nhiễm, phân bố ca tử vong theo không gian, thời gian, lứa tuổi và các yếu tố nguy cơ tại một tỉnh miền núi phía Bắc có tỷ lệ tử vong đứng thứ 4 toàn miền Bắc.
  2. Xác định rõ nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tử vong do dại: Phân tích chỉ rõ 90% các ca tử vong tại địa phương xuất phát từ việc không tiêm phòng vắc xin sau khi bị súc vật cắn; tập quán chữa bệnh bằng thuốc nam của các ông lang và nhận thức sai lệch về bệnh dại là rào cản lớn nhất đối với việc tiếp cận y tế dự phòng.
  3. Đánh giá thực nghiệm hiệu quả mô hình truyền thông can thiệp: Luận án chứng minh việc triển khai giải pháp truyền thông giáo dục sức khỏe đa kênh tại xã điểm huyện Yên Sơn đã cải thiện rõ rệt chỉ số kiến thức, thái độ và thực hành xử lý vết thương, thúc đẩy người dân đến điểm tiêm phòng kịp thời.

Đề xuất và kiến nghị giải pháp

  • Đối với hệ thống Y tế:
    • Duy trì và mở rộng các điểm tiêm phòng vắc xin dại đạt chuẩn về tuyến xã hoặc cụm liên xã tại các vùng núi sâu, vùng xa, xóa bỏ tình trạng "huyện trắng điểm tiêm".
    • Thực hiện nghiêm ngặt quy trình khám, phân loại vết cắn, chỉ định đúng phác đồ vắc xin kết hợp huyết thanh kháng dại (SAR) liều 40 UI/kg cho các vết cắn nặng, gần thần kinh trung ương.
    • Củng cố sổ theo dõi, quản lý bệnh nhân bằng phiếu tiêm cá nhân để giảm thiểu tình trạng bỏ mũi tiêm (tiêm không đủ liều).
  • Đối với chính quyền và ngành Thú y:
    • Nâng cao tỷ lệ tiêm vắc xin phòng dại cho đàn chó nuôi (vượt qua mức 30% – 40% hiện tại), quản lý chặt chẽ đàn chó thả rông và xử lý triệt để ổ dịch súc vật nghi dại.
    • Tiếp tục hỗ trợ kinh phí tiêm vắc xin dại miễn phí cho người nghèo, đối tượng chính sách vùng 135 và trẻ em dưới 6 tuổi.
  • Đối với công tác Truyền thông - Giáo dục sức khỏe:
    • Lồng ghép tuyên truyền phòng chống bệnh dại vào các cuộc họp thôn bản, phát thanh xã, tư vấn trực tiếp tại trạm y tế; kiên quyết vận động người dân không tự ý điều trị bằng thuốc nam khi bị chó, mèo cắn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Nghiên cứu can thiệp truyền thông tập trung tại xã điểm của huyện Yên Sơn, do đó việc ngoại suy kết quả cần có sự điều chỉnh phù hợp với đặc điểm văn hóa, tập quán của từng nhóm đồng bào dân tộc thiểu số khác nhau trên địa bàn tỉnh.
    • Nguồn lực thú y và tỷ lệ tiêm phòng trên đàn chó nuôi tại các vùng sâu, vùng xa vẫn là thách thức lớn nằm ngoài tầm kiểm soát đơn lẻ của ngành y tế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng đánh giá mô hình can thiệp truyền thông liên ngành (Y tế - Thú y - Chính quyền) trên quy mô toàn tỉnh Tuyên Quang.
    • Nghiên cứu ứng dụng các phác đồ tiêm trong da tiết kiệm chi phí và theo dõi đáp ứng miễn dịch của người dân sau tiêm phòng vắc xin thế hệ mới nuôi cấy tế bào.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cán bộ y tế dự phòng và bác sĩ lâm sàng: Cung cấp tài liệu tham khảo thực tế về quy trình chỉ định phác đồ vắc xin, huyết thanh kháng dại, phương pháp giám sát ca bệnh và kỹ thuật xử lý vết thương do súc vật cắn.
  • Đối với các nhà quản lý y tế và hoạch định chính sách: Cung cấp căn cứ khoa học để xây dựng kế hoạch mở rộng mạng lưới điểm tiêm phòng dại tại các tỉnh miền núi phía Bắc, tối ưu hóa phân bổ ngân sách hỗ trợ vắc xin cho đồng bào dân tộc thiểu số và vùng kinh tế khó khăn.
  • Đối với nghiên cứu sinh và giảng viên y khoa: Là tài liệu tham khảo điển hình về phương pháp kết hợp giữa dịch tễ học mô tả và nghiên cứu can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe tại thực địa cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguyên nhân chủ yếu nào dẫn đến các ca tử vong do bệnh dại tại tỉnh Tuyên Quang trong giai đoạn nghiên cứu?

Theo số liệu của luận án, 90% số ca tử vong do dại tại Tuyên Quang trong giai đoạn 2000 – 2009 là do nạn nhân không đi tiêm phòng vắc xin sau khi bị súc vật cắn. Các nguyên nhân còn lại bao gồm: đi tiêm muộn, tiêm không đủ số mũi quy định và tự ý đi khám, điều trị bằng thuốc nam của các ông lang.

2. Tình hình dịch tễ bệnh dại tại huyện Yên Sơn diễn biến như thế nào trước khi can thiệp?

Huyện Yên Sơn là địa bàn trọng điểm phức tạp với gần 90% số hộ có nuôi chó mèo và tiếp giáp nhiều vùng có dịch. Số ca tử vong do dại tại huyện có xu hướng gia tăng liên tục qua các năm: năm 2004 có 1 ca, năm 2005 có 5 ca, năm 2006 có 5 ca, năm 2007 có 6 ca (riêng năm 2007 có báo cáo ghi nhận 8 ca) và năm 2008 lên tới 8 ca tử vong.

3. Phác đồ tiêm bắp sau phơi nhiễm cho người bị súc vật nghi dại cắn được quy định như thế nào?

Phác đồ tiêm bắp cơ bản gồm 5 mũi vắc xin (liều 0,5 ml/mũi tiêm bắp vào cơ Delta) vào các ngày: Ngày 0, Ngày 3, Ngày 7, Ngày 14 và Ngày 28. Đối với các trường hợp phơi nhiễm nặng, nhiều vết cắn hoặc vết cắn gần hệ thần kinh trung ương, cần kết hợp tiêm ngay huyết thanh kháng dại (SAR) với liều 40 UI/kg thể trọng vào ngày đầu tiên.

4. Phương pháp xét nghiệm nào được đánh giá là nhanh và chính xác nhất hiện nay để chẩn đoán bệnh dại?

Phương pháp miễn dịch huỳnh quang (IF) được xác định là phương pháp cho kết quả nhanh nhất (trong vài giờ sau khi nhận mẫu não) và độ chính xác cao nhất (đạt 98% – 99,4%), vượt trội hơn so với phương pháp giải phẫu bệnh tìm tiểu thể Negri và tương đương phương pháp tiêm truyền chuột bạch (98,3% – 98,7%).


Kết luận

Luận án Bác sĩ Chuyên khoa cấp II của tác giả Nguyễn Đình Hùng đã phản ánh toàn diện thực trạng dịch tễ học bệnh dại tại tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2002 – 2011, làm rõ mối liên hệ trực tiếp giữa nhận thức cộng đồng, tập quán chữa bệnh và nguy cơ tử vong do dại. Công trình khẳng định vai trò quyết định của việc củng cố mạng lưới tiêm phòng y tế cơ sở kết hợp với các biện pháp truyền thông giáo dục sức khỏe đồng bộ nhằm thay đổi hành vi tiêm phòng vắc xin của người dân vùng cao. Đây là tài liệu khoa học có giá trị thực tiễn cao cho công tác kiểm soát và thanh toán bệnh dại tại các địa bàn miền núi phía Bắc Việt Nam.