chương 1. Phương pháp lịch sử được sử dụng chủ yếu ở chương 2, khi phân tích thực trạng tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm ở nước ta. Thực tế của hoạt động này chính là những minh chứng cho các lập luận, nhận xét, đánh giá. *Phương pháp trừu tượng hóa khoa học Thực tiễn liên quan đến tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm ở Việt Nam rất phong phú, đa 6 z dạng.
Để làm rõ bản chất của hoạt động này ở nước ta, những ưu nhược điểm của nó, phương pháp trừu tượng hóa khoa học được sử dụng để loại bỏ những hiện tượng bề ngoài, những yếu tố ngẫu nhiên không bản chất để nghiên cứu. *Các phương pháp khác Trong quá trình phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng này, luận án đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như so sánh, thống kê, mô tả, nghiên cứu tình huống, tham khảo… để chỉ ra những kết quả, đánh giá những thành công, hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế đó trong hoạt động cho vay tín dụng đầu tư phát triển vào các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm ở Việt Nam thời gian qua và đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng này trong thời gian tới. Nguồn số liệu, dữ liệu được sử dụng trong luận án là từ các báo cáo hoạt động hàng năm của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, báo cáo đánh giá 3 năm, 5 năm hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, một số bài báo về hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam. Ngoài ra, luận án cũng sử dụng một số số liệu từ Báo cáo của Thanh tra Nhà nước về hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam công bố năm 2012; các chỉ tiêu, số liệu trong các quyết định của Thủ tướng Chính phủ có liên quan đến một số chương trình kinh tế lớn thực hiện bằng nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển; một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô trong các báo cáo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội hàng năm tại các kỳ họp Quốc hội… Trong khuôn khổ một luận án tiến sĩ, luận án chưa có điều kiện để tiếp cận số liệu cũng như đưa ra được một khung phân tích đánh giá, đo lường hiệu quả kinh tế - xã hội một cách đầy đủ về các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm đã thực hiện ở Việt Nam thời gian qua – vốn có bản chất là một công việc vô cùng khó khăn, phức tạp, đòi hỏi công sức, trí tuệ, thời gian và kinh phí khổng lồ, cần thiết được thực hiện bởi các cơ quan liên ngành của nhà nước.
Điều này đặc biệt càng đúng trong bối cảnh các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm thường có quy mô đầu tư lớn, địa bàn thực hiện rộng, phạm vi tác động, ảnh hưởng trên một vùng dân cư, lãnh thổ rộng lớn hoặc có tác động, ảnh hưởng, lan tỏa đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác chịu ảnh hưởng, tác động của dự án kinh tế trọng điểm đóng vai trò nền tảng, tạo ra các yếu tố đầu vào cho việc 7 z hình thành, phát triển của các ngành, lĩnh vực ấy. Ngoài ra, một đặc trưng lớn khác cần xem xét là thời gian thực hiện các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm thường kéo dài (từ 5-10 năm đến 15 năm) và có độ trễ lớn trong hiệu quả, tác động kinh tế - xã hội. Đây cũng là một rào cản trong nghiên cứu, đánh giá hiệu quả về hoạt động tín dụng đầu tư phát triển cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm. Mặt khác, để đánh giá tương đối chính xác hiệu quả cũng như sự đóng góp, tác động kinh tế - xã hội của các dự án, chương trình kinh tế này, rất cần xây dựng được các tiêu chí đánh giá, thẩm tra, các tiêu chí đánh giá kết quả “đầu ra” trong quá trình hình thành, xây dựng, quyết định chủ trương đầu tư, chuẩn bị đầu tư, thẩm định, phê duyệt các chương trình, dự án này cũng như đòi hỏi xây dựng một hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật do nhà nước ban hành chính thức, thống nhất, rõ ràng, khoa học, hợp lý, tiên tiến về hiệu quả, tác động kinh tế - xã hội khi thực hiện các chương trình, dự án kinh tế trọng điểm.
Sau đó, sau khi các chương trình, dự án được thực hiện xong, cần thực hiện các cuộc điều tra, khảo sát, đánh giá công phu, với chi phí thực hiện hết sức tốn kém, huy động nhiều nguồn lực để xác định, đánh giá hiệu quả của các chương trình, dự án này. Chưa kể, trong nhiều trường hợp, kết quả của việc điều tra, khảo sát, đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của các chương trình, dự án còn chịu sự tác động, chi phối của các cá nhân và các cấp quản lý vì những lý do khác nhau… Chính vì vậy, trong phạm vi nguồn số liệu, tài liệu thu thập được, luận án đã sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học để rút ra các kết luận nghiên cứu khoa học của luận án. Đồng thời, các nghiên cứu tình huống, phụ lục về kết quả thực hiện một số chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm được sử dụng trong việc minh chứng cho các đánh giá về thành công, hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế đó trong hoạt động cho vay tín dụng đầu tư phát triển vào các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm ở Việt Nam thời gian qua. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng này trong thời gian tới.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 8 z Đề tài nghiên cứu "Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn và các dự án kinh tế trọng điểm ở Việt Nam" có một số điểm mới và đóng góp mới như sau: - Nếu các nghiên cứu từ trước đến nay mới chỉ bàn đến tín dụng nhà nước hoặc tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển nói chung thì Luận án đã lần đầu tiên đề cập đến tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm ở Việt Nam thời gian qua. - Luận án đã hệ thống hóa, bổ sung và làm sáng tỏ hơn về mặt lý luận về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước nói chung, xây dựng mới khung khổ lý luận về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn và dự án kinh tế trọng điểm, bao gồm: khái niệm, đặc điểm và sự cần thiết của các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm; khái niệm, đặc điểm và vai trò của tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm. Đồng thời, Luận án đã làm rõ quan điểm về hiệu quả kinh tế - xã hội đối với hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các chương trình kinh tế lớn và dự án kinh tế trọng điểm, đưa ra một số chỉ tiêu cơ bản nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng này. - Luận án đã đánh giá một cách đầy đủ về đặc điểm, tính chất, ưu nhược điểm, mặt mạnh và hạn chế của hoạt động tín dụng đầu tư phát triển cho các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm.
Luận án đã chỉ ra rằng, tính chất cho vay theo chỉ đạo là lợi thế để tín dụng đầu tư phát triển đóng vai trò công cụ của Nhà nước trong thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội quốc gia trong từng thời kỳ, song cũng chính tính chất này tiềm ẩn và là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những sai lầm mang tính chủ quan đưa đến những thất bại của các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm thời gian qua. - Bằng kết quả nghiên cứu của luận án, Luận án đã trả lời câu hỏi nghiên cứu được đưa ra và khẳng định rằng: mặc dù còn một số dự án, chương trình chưa hiệu quả, song thông qua các chương trình kinh tế lớn, dự án kinh tế trọng điểm, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước đã đóng vai trò là một công cụ đắc lực để Nhà nước định hướng thị trường, góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH đất nước, phát triển nông nghiệp, nông thôn, hỗ trợ các địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, 9 z vùng sâu, vùng xa, đảm bảo an sinh xã hội, cải thiện và nâng cao mức sống của người dân, qua đó góp phần thực hiện các mục tiêu Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tình hình nghiên cứu trong nước 2.
Nghiên cứu về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước Các công trình nghiên cứu về tài chính, tín dụng ngân hàng và hoạt động của các ngân hàng thương mại đã được công bố tương đối nhiều. Tuy nhiên, do tính đặc thù về mục đích, đối tượng, phạm vi, phương thức hoạt động mà lĩnh vực tín dụng nhà nước không có nhiều nghiên cứu, trong đó công trình nghiên cứu về tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển có số lượng khá khiêm tốn, biệt là các luận án tiến sĩ. Để làm rõ những đóng góp của các công trình đã công bố về tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển cũng như vạch ra những khoảng trống nghiên cứu trong lĩnh vực này, có thể khái quát lại các kết quả nghiên cứu đi trước theo một số nhóm vấn đề như sau: *Khái niệm, nội dung hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước - Đề tài khoa học cấp bộ “Hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển ở Việt Nam” của nhóm tác giả TS.Thái Bá Cẩn – TS.