Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài “Tính biểu cảm trong ngôn ngữ truyện và thơ Việt Nam hiện đại”, chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh (mã số 50427), do nghiên cứu sinh Trần Thị Hoa thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Hồ Lê tại Viện Khoa học xã hội vùng Nam bộ (hoàn thành chỉnh sửa theo góp ý của Hội đồng chấm luận án cấp cơ sở vào tháng 04 năm 2004, Chủ tịch Hội đồng: PGS. Nguyễn Công Đức).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Theo tác giả luận án, cảm xúc của con người khi nảy sinh thường được xử lý theo hai hướng: hoặc nén giữ lại trong lòng, hoặc giãi bày ra để chia sẻ với người đồng cảm. Hành động giãi bày cảm xúc ra bên ngoài chính là “biểu cảm”. Nhà văn và nhà thơ thực hiện việc biểu cảm thông qua văn và thơ, giúp người đọc cảm nhận được tình cảm gửi gắm trong tác phẩm. Tuy nhiên, tính khách quan của sự hàm chứa cảm xúc chỉ có thể định vị trong chuỗi từ với các kết cấu ngữ pháp và ngữ âm của câu, trong mối liên hệ ngữ cảnh đồng văn bản hoặc liên văn bản. Trong thực tế tiếp nhận, biên độ hiểu và cảm của độc giả ở các thời đại và hoàn cảnh khác nhau có sự chênh lệch đáng kể.

Vấn đề tính biểu cảm trong ngôn ngữ truyện và thơ Việt Nam hiện đại — một bộ phận cấu thành của tính biểu cảm trong ngôn ngữ văn chương — từng được đề cập ở một số phương diện cục bộ trong các công trình trước đây, nhưng chưa từng được khảo cứu toàn diện với tư cách là một đối tượng nghiên cứu mang tính tổng thể. Các công trình ngữ pháp và tu từ học trước đó chủ yếu tập trung vào “nội dung biểu cảm trong câu” ở cấp độ vi mô (như từ cảm, trợ từ, từ láy, hư từ phụ cho vị từ, trật tự từ, ngữ điệu) dẫn đến sự giao thoa chưa được phân định rõ ràng giữa nội dung biểu cảm và tình thái. Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa tính biểu cảm với các thuộc tính văn chương khác như tính sinh động, tính mạch lạc, tính hàm súc vẫn còn bỏ ngỏ. Về mặt thực tiễn, sự phát triển phong phú của tác phẩm văn xuôi và thơ ca hiện đại đòi hỏi một hệ thống tiêu chí khoa học nhằm hỗ trợ việc giảng dạy văn học trong nhà trường cũng như hoạt động thụ hưởng văn hóa của xã hội.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định 4 mục đích nghiên cứu cụ thể như sau:

  1. Xác định nội dung biểu cảm, hình thức biểu cảm và các biện pháp sử dụng ngôn từ để làm hình thành nên tính biểu cảm trong ngôn ngữ văn chương.
  2. Từ mô hình tính biểu cảm trong ngôn ngữ “truyện”, nghiên cứu những điều kiện hình thành các biến thể của nó trong từng truyện, hoặc trong những câu trong truyện.
  3. Khái quát mô hình chung về tính biểu cảm của ngôn ngữ “thơ cảm tác” (vốn có tính biểu cảm đậm đặc và nhiều tầng bậc sâu - cạn), từ đó nghiên cứu các điều kiện hình thành biến thể của mô hình này trong các bài thơ và câu thơ cụ thể.
  4. So sánh tính biểu cảm của ngôn ngữ truyện và tính biểu cảm của ngôn ngữ thơ cảm tác nhằm rút ra những điểm tương đồng và dị biệt giữa chúng; từ đó xác lập những định hướng về cách thức sáng tạo tính biểu cảm cho người sáng tác và định hướng phân tích tính biểu cảm cho người thẩm ngôn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tất cả các yếu tố và phương thức ngôn ngữ thể hiện tính biểu cảm trong truyện và trong thơ cảm tác thuộc phạm vi khảo sát.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn văn học Việt Nam hiện đại, tính từ đầu thế kỷ XX đến nay — thời kỳ diễn ra sự biến đổi mạnh mẽ của tiếng Việt và sự cách tân sâu rộng trong các thể loại Thơ mới, tiểu thuyết và báo chí.
  • Phạm vi thể loại:
    • Văn xuôi: Giới hạn khảo sát trong thể loại truyện ngắn và truyện vừa; không mở rộng sang thể loại truyện dài.
    • Thơ ca: Giới hạn trong loại hình “thơ cảm tác” thuộc thơ trữ tình (bao gồm thơ cảm hoài, thơ cảm khái, thơ vịnh cảnh, vịnh người, vịnh tình). Luận án không khảo sát truyện thơ (như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên), truyện lịch sử (như Đại Nam quốc sử diễn ca) và thơ tuyên truyền.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Luận án tiến hành điểm lại lịch sử nghiên cứu về nghệ thuật diễn cảm và ngôn ngữ văn chương từ thời cổ đại đến hiện đại:

  • Thời kỳ cổ đại phương Tây và phương Đông: Aristote trong Nghệ thuật thi ca [1] đã phân biệt ngôn ngữ thường ngày với ngôn ngữ trong đời sống văn hóa, bàn về thuật hùng biện và thuật diễn cảm sinh động. Tại Trung Quốc thời Xuân Thu Chiến Quốc, trào lưu du thuyết của Bách gia Chư tử đã sử dụng thuật hùng biện; Kinh Thi nhấn mạnh thơ ca bộc lộ tiếng lòng quần chúng; Lưu Hiệp trong Văn tâm điêu long khẳng định nguyên lý “Văn dĩ tải đạo”, xem văn chương là sự diễn đạt cái chân - thiện - mỹ tích tụ từ nội tâm.
  • Tiến trình văn chương Việt Nam: Từ văn chương chữ Nôm thời Lê với Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, Hồng Đức quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông, Bạch Vân am thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm, đến đỉnh cao thế kỷ XVIII - đầu XIX (Truyện Kiều, Cung oán ngâm khúc, Chinh phụ ngâm diễn ca), tiếng Việt văn chương đã tích lũy khả năng biểu cảm phong phú.
  • Giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX: Hai công trình phê bình tiêu biểu là Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh - Hoài Chân [78] và Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan [62] đã có những cảm nhận tinh tế về việc sử dụng ngôn từ nhưng chưa vận dụng hệ thống tri thức ngôn ngữ học (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, phong cách, tu từ).
  • Giai đoạn từ sau năm 1966: Cuộc vận động “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” do Thủ tướng Phạm Văn Đồng khởi xướng (qua bài nói ngày 7 và 10/2/1966 tại Viện Văn học ở Hà Nội [25]) đã thúc đẩy việc nghiên cứu gắn kết ngôn ngữ văn chương với đời sống tư tưởng, tình cảm của dân tộc.
  • Các công trình ngôn ngữ học chuyên ngành: Luận án thống kê các nhóm nghiên cứu trong hơn 40 năm qua tại Việt Nam:
    • Từ vựng học: các công trình mang số thứ tự tài liệu [8, 9, 10, 27, 31, 42, 43, 55, 73...].
    • Logic ngữ nghĩa: [12, 13...].
    • Phong cách học và tu từ học: [20, 39, 40, 41, 57, 75, 80, 83, 96, 98, 101, 102, 103...].
    • Tiếp cận văn học từ ngôn ngữ học: [8, 10, 35, 36, 37, 58...].
    • Ngữ nghĩa - ngữ dụng: các nghiên cứu về hiển ngôn/hàm ngôn, tình thái, cấu trúc so sánh và cấu trúc ngữ nghĩa [24, 44, 46, 47, 48, 72, 81, 84, 85, 86, 89...].
    • Thi pháp học: [1, 19, 33, 52, 68, 94, 95...].
    • Nghiên cứu văn xuôi và thơ: các bài phân tích bút pháp của Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân, Tô Hoài [23, 26, 28, 32, 51...]; các chuyên luận và bài viết về ngôn ngữ thơ, âm điệu, vần, nhịp điệu, biểu tượng, chi tiết, ẩn dụ, tính đa nghĩa và ngữ pháp thơ [5, 6, 7, 11, 14, 15, 16, 33, 34, 49, 50, 54, 64, 65, 66, 77, 90, 91, 97, 100...].

Luận án phân tích sâu hai công trình nền tảng có liên quan trực tiếp:

  1. Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Phan Cảnh [7]: Luận án tiếp thu các luận điểm về việc thông tin trong văn bản nghệ thuật được tạo ra nhờ sự liên tưởng ngôn từ vào các quan hệ tương đương ngoài văn bản; sự đan xen giữa nghệ thuật tạo hình và biểu hiện tình cảm; thủ pháp của thơ dựa trên các yếu tố lặp và chuỗi ngữ lưu không phân lập hóa; cùng vai trò của “nhạc thơ” như một cơ chế hãm/chặn chống lại các hợp thành thi pháp không chương trình hóa.
  2. Thi pháp thơ Tố Hữu của Trần Đình Sử [68]: Luận án tiếp nhận quan điểm nghiên cứu văn học từ bản thân văn học, xem thi pháp học là bộ môn khoa học nghiên cứu phương thức và phương tiện thể hiện nghệ thuật trong tính hệ thống, gắn kết với lịch sử và lý luận văn học.

Khoảng trống luận án giải quyết

Mặc dù các nghiên cứu trước đã đi sâu vào nhiều khía cạnh kỹ thuật cụ thể của từ vựng, ngữ pháp hay phong cách của từng tác giả, song chưa có một công trình nào định nghĩa tường minh khái niệm “tính biểu cảm trong ngôn ngữ văn chương”, chưa phân lập quy trình hình thành tính biểu cảm, chưa thiết lập mô hình hóa các thông số biểu cảm chuyên biệt cho ngôn ngữ truyện và ngôn ngữ thơ, cũng như chưa thực hiện so sánh đối chiếu hệ thống giữa hai loại hình này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ

  1. Tình cảm, cảm xúc và cảm xúc văn chương:
    • Tình cảm: Hiện tượng tâm lý thuần túy tinh thần thuộc về cơ chế tâm lý phổ quát của con người. Tình cảm bắt nguồn từ sự phản ứng trước hoàn cảnh sống (tìm kiếm thức ăn, tự vệ, truyền giống và lao động sáng tạo). Luận án sắp xếp 7 cung bậc tình cảm (thất tình) theo một chuỗi vòng tròn chuyển tiếp: $$\text{Hỉ (mừng)} \rightarrow \text{Ái (yêu)} \rightarrow \text{Ai (xót thương)} \rightarrow \text{Ưu (lo lắng)} \rightarrow \text{Ố (ghét)} \rightarrow \text{Cụ (sợ)} \rightarrow \text{Nộ (giận)} \rightarrow \text{Hỉ}$$ Trong đó, tình cảm tích cực chiếm 2 cung bậc (hỉ, ái), còn tình cảm tiêu cực chiếm 5 cung bậc (ai, ưu, ố, cụ, nộ).
    • Cảm xúc: Trường hợp cụ thể của một loại tình cảm nảy sinh trước các sự kiện nhất định, mang đậm dấu ấn cá nhân, phụ thuộc vào tố chất, trải nghiệm, văn hóa và nhận thức của từng cá thể.
    • Cảm xúc văn chương: Cảm xúc thẩm mỹ trước đời sống xã hội và nhân tình thế thái, thúc đẩy tác giả giải bày thành tác phẩm. Cảm xúc nghệ thuật bắt nguồn từ ba nguyên nhân cơ bản: cái Chân, cái Thiện và cái Mỹ.
Nhóm tình cảm Cung bậc thể hiện Thống kê vần "A" (Từ điển tiếng Việt, 2000)
Tình cảm tích cực Hỉ (mừng), Ái (yêu) 29 từ ngữ (aha, ái ân, ái mộ, an cư lạc nghiệp, anh dũng, anh hùng, ánh sáng...)
Tình cảm tiêu cực Ai (xót thương), Ưu (lo), Ố (ghét), Cụ (sợ), Nộ (giận) 49 từ ngữ (ác cảm, ác độc, ai oán, ám ảnh, áp bức, áy náy, ảm đạm, ác ý...)
  1. Thi chất và Thi pháp:

    • Thi chất: Cảm xúc văn chương của người sáng tác (bao gồm thi chất có ích phục vụ nhân sinh theo mô hình “Văn dĩ tải đạo”, “Văn dĩ ngôn chí”, hoặc tinh thần “thép”/“xung phong” trong thơ Hồ Chí Minh; đối lập với thi chất có hại gây bi lụy, tha hóa).
    • Thi pháp: Nghệ thuật, kỹ thuật sử dụng và sắp xếp ngôn từ để thể hiện thi chất. Luận án vận dụng quan điểm của Roman Jakobson về “chức năng tạo thi pháp thực hiện nguyên tắc cân bằng hóa trục chọn lựa (đối vị) trên trục tổ hợp (đoạn tính)”: người viết chọn từ lần thứ nhất trên trục tổ hợp để thành lập phát ngôn, sau đó thực hiện lựa chọn lần thứ hai (thử đi thử lại nhiều lần) trên trục chọn lựa để tìm từ thay thế có sức biểu cảm tối ưu.
  2. Quan hệ giữa Câu và Tác phẩm:

    • Câu (Phát ngôn): Đơn vị lời cơ bản nhỏ nhất mang kết cấu “cú đoạn + cú điệu”, biểu đạt “sự kiện + tình thái”, phục vụ 4 định hướng giao tiếp: thuật, thán, hỏi, cầu khiến.
    • Tác phẩm văn chương: Chỉnh thể văn bản biểu đạt một chủ đề cảm xúc hoặc chủ đề tư tưởng. Chức năng giao tiếp và chức năng biểu cảm của tác phẩm văn chương hoàn toàn trùng nhau.
    • Định luật tương quan: Tác phẩm càng gồm nhiều câu thì quan hệ về ý giữa tác phẩm và câu càng lỏng lẻo; tác phẩm càng ít câu thì quan hệ về ý giữa tác phẩm và câu càng chặt chẽ; tác phẩm chỉ có một câu (như câu đối đơn) thì quan hệ về ý giữa tác phẩm và câu nói chung là trùng nhau.
  3. Hai hướng tiếp cận ngôn ngữ văn chương:

    • Hướng của người sáng tác (Logic sáng tạo): Sự kiện nguyên mẫu $\rightarrow$ Cảm xúc sáng tạo $\rightarrow$ Thiết kế hình tượng nghệ thuật $\rightarrow$ Ngôn ngữ văn chương.
    • Hướng của người thưởng thức (Logic giải mã): Ngôn ngữ văn chương $\rightarrow$ Thiết kế hình tượng nghệ thuật $\rightarrow$ Cảm xúc sáng tạo $\rightarrow$ Sự kiện nguyên mẫu.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng 3 phương pháp nghiên cứu chủ yếu:

  • Phương pháp miêu tả so sánh: Nhằm nhận diện, đối chiếu các điểm tương đồng và dị biệt trong từng loại tính biểu cảm giữa văn xuôi và thơ ca.
  • Phương pháp phân loại thống kê: Nhằm khảo sát, định lượng các cứ liệu ngôn ngữ mang tính biểu cảm trong văn bản truyện và thơ.
  • Phương pháp mô hình hóa: Nhằm hệ thống hóa và xây dựng các mô hình lý thuyết về tính biểu cảm trong ngôn ngữ truyện và ngôn ngữ thơ cảm tác.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Ngữ liệu văn học: Các tác phẩm văn xuôi và thơ hiện đại Việt Nam từ đầu thế kỷ XX: văn xuôi của Nam Cao (Nghèo), Ngô Tất Tố (Tắt đèn), Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Nguyễn Công Hoan (Oẳn tà roàn)...; thơ ca của Hồ Chí Minh (Cảnh khuya, Gửi Bộ Chính trị, thơ Pác Bó), Huy Cận (Tràng giang, Chiều xưa), Tản Đà (Thề non nước, Vịnh Thúy Kiều), Nguyễn Khuyến (Ông Phỗng đá, thơ vịnh Kiều), Lương An (Cô lái đò), Anh Ngọc (Cây xấu hổ), Lâm Huy Nhuận (Mùa thu), Xuân Diệu (Tương tư chiều), Hoàng Lộc (Viếng bạn), Vũ Cao (Núi đôi), Xuân Quỳnh (Thuyền và biển), Đoàn Phú Tứ (Màu thời gian)...
  • Tư liệu từ điển: Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (Nxb Đà Nẵng, 2000).

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Nhận chân tính biểu cảm trong ngôn ngữ văn chương (Trang 17 – 68)

Chương I tập trung giải quyết các vấn đề lý luận nền tảng về bản chất của tính biểu cảm:

  • Khái niệm và nguồn gốc: Phân tích bản chất của cảm xúc và sự biểu đạt cảm xúc qua hành động, lời nói và tác phẩm nghệ thuật. Luận chứng về sự thống nhất biện chứng giữa tính hữu hạn của hệ thống ngôn ngữ (các đơn vị từ loại, âm hưởng bằng/trắc, phép điệp/đối) và tính vô hạn của các kết cấu ngữ nghĩa trong việc truyền tải cảm xúc.
  • Phân biệt thi chất và thi pháp: Khẳng định thi chất là cái có trước thuộc phạm trù tâm lý, nhưng tính biểu cảm chỉ thực sự hiển hiện qua thi pháp — tức kỹ thuật tổ chức chất liệu ngôn từ (phối hợp thanh điệu, nhịp điệu, cấu trúc đối vị và đoạn tính).
  • Phân định ranh giới giữa Câu và Tác phẩm: Luận giải sự khác biệt giữa nội dung biểu cảm của câu (thể hiện qua thán từ, ngữ điệu, tình thái phụ trợ) với tính biểu cảm của tác phẩm (thể hiện qua hệ thống hình tượng nghệ thuật toàn vẹn).
  • Cơ chế biểu hiện cảm xúc gián tiếp: Phân tích sự vượt trội của phương thức biểu cảm nghệ thuật gián tiếp (xây dựng hình tượng) so với việc gọi tên trực tiếp cảm xúc bằng thán từ (dẫn chứng bài Tương tư chiều của Xuân Diệu khi lặp lại dày đặc từ "nhớ" một cách trực tiếp làm giảm hiệu quả nghệ thuật).
  • Sự kiện nguyên mẫu và sự kiện được phản ánh: Khảo sát quy trình xử lý sự kiện của người sáng tác qua 3 khâu: (1) Bố trí các chi tiết của sự kiện; (2) Phối hợp yếu tố nội tâm lý và ngoại tâm lý; (3) Sử dụng và sắp xếp ngôn từ theo trật tự cú pháp và âm hưởng tối ưu. Minh họa qua các cách tiếp cận khác nhau trước cùng một đối tượng (như các bài thơ vịnh Kiều của Phạm Quý Thích, Nguyễn Công Trứ, Tản Đà, Nguyễn Khuyến).
  • Cơ chế tiếp nhận và giải mã: Phân tích tính đa dạng của hoạt động thẩm bình ngôn ngữ văn chương dựa trên sự khác biệt về vốn sống, trình độ và thời đại của người đọc (minh họa qua các cách hiểu bài thơ về hang Pác Bó của Hồ Chí Minh theo trọng âm của từ láy "xa xa").

Chương II: Tính biểu cảm trong ngôn ngữ truyện (Trang 69 – 106)

Chương II đi sâu khảo sát ngữ liệu văn xuôi nghệ thuật nhằm xây dựng mô hình tính biểu cảm của truyện:

  • Phân tích mẫu ngôn ngữ truyện: Khảo sát các trích đoạn văn xuôi hiện đại (tiêu biểu như bút pháp miêu tả hành động của Xuân Tóc Đỏ trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng: "Rút ở túi quần sau một cái mùi soa, cởi một nút buộc như cái tai lợn, Xuân Tóc Đỏ đập đồng hào ván xuống thềm gạch xi măng đánh keng một cái rất oanh liệt"). Qua đó, chỉ ra cách thức nhà văn gửi gắm thái độ phê phán xã hội thông qua việc lựa chọn chuỗi từ ngữ tạo hình ảnh và ngữ điệu mang tính trào phúng.
  • Rút ra các quy luật biểu cảm trong văn xuôi: Tính biểu cảm trong truyện không nằm đơn lẻ ở từng từ cảm thán mà được tổ chức thông qua cấu trúc trần thuật, sự phân tuyến ngôn ngữ, sự luân chuyển giữa điểm nhìn trần thuật và giọng điệu nhân vật.
  • Mô hình hóa tính biểu cảm trong ngôn ngữ truyện: Luận án khái quát tính biểu cảm của ngôn ngữ truyện qua hệ thống 6 thông số cấu thành:
Ký hiệu Thông số trong ngôn ngữ truyện Nội dung bản chất
a Sự kiện – đối tượng phản ánh Hiện thực đời sống được lựa chọn làm chất liệu phản ánh
b Sự kiện điển hình Các tình huống, biến cố mang tính tập trung cao độ của hiện thực
c Ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ phi nhân vật Sự phân lập và tương tác giữa lời thoại nhân vật và lời người kể chuyện
d Các hình tượng nhân vật Hệ thống tính cách, tâm lý, hành động được khắc họa qua ngôn từ
đ Lôgích của truyện Sự vận động hợp lý của cốt truyện, tình tiết và tư tưởng chủ đề
e Bố cục phân đoạn ngôn từ Cấu trúc phân đoạn văn bản từ cấp vĩ mô (phần, chương) đến vi mô (đoạn, câu)

Chương III: Tính biểu cảm trong ngôn ngữ thơ cảm tác (Trang 107 – 170)

Chương III tập trung phân tích đặc trưng loại hình và mô hình hóa tính biểu cảm trong thơ:

  • Đặc trưng của thơ cảm tác: Xác định thơ cảm tác là loại hình tiêu biểu cho tính biểu cảm của thơ ca Việt Nam, nơi cảm xúc được cô đọng cao độ và bộc lộ chỉ qua một vài câu, thậm chí một cụm từ. Thơ cảm tác bao gồm các tiểu loại: cảm hoài (Chiều xưa của Huy Cận), cảm khái (Cô lái đò của Lương An), vịnh cảnh (Cảnh khuya của Hồ Chí Minh), vịnh người (Ông Phỗng đá của Nguyễn Khuyến), vịnh tình (Thề non nước của Tản Đà).
  • Phân tích mẫu ngôn ngữ thơ cảm tác (Trang 114): Khảo sát cấu trúc ngữ âm, nhịp điệu, hình ảnh trong các bài thơ ngắn (như bài thơ 4 câu Gửi Bộ Chính trị của Hồ Chí Minh: phân tích sự kết hợp giữa 24 từ và 19 "ngôn" để làm nổi bật tâm trạng một mình lo tính việc nước; bài Mùa thu của Lâm Huy Nhuận; bài Cây xấu hổ của Anh Ngọc).
  • Phân loại và nguyên tắc tổ chức thơ cảm tác: Làm rõ cơ chế mã hóa thông tin nghệ thuật, cấu trúc liên tưởng ngầm và vai trò của nhạc tính trong việc liên kết các đơn vị ngữ lưu không phân lập.
  • Mô hình hóa tính biểu cảm trong ngôn ngữ thơ cảm tác (Trang 170): Khái quát 6 thông số đặc thù cấu thành tính biểu cảm của thơ cảm tác:
Ký hiệu Thông số trong ngôn ngữ thơ cảm tác Nội dung bản chất
a Đối tượng biểu cảm Sự vật, hiện tượng, cảnh ngộ khơi gợi nguồn cảm xúc
b Mục đích biểu cảm Ý đồ giãi bày, chia sẻ hoặc định hướng tư tưởng của nhà thơ
c Tứ thơ Ý niệm cốt lõi, trục vận động nghệ thuật chi phối toàn bài thơ
d Hình tượng thơ Các biểu tượng, hình ảnh nghệ thuật trực quan được kiến tạo bằng từ ngữ
đ Cách thức biểu cảm Phương thức bộc lộ (trực tiếp, gián tiếp, ẩn dụ, tượng trưng, đối lập)
e Phương tiện biểu cảm Chất liệu ngôn ngữ cụ thể (vần, thanh điệu, nhịp điệu, cú pháp thơ, từ láy)

Chương IV: So sánh tính biểu cảm ở ngôn ngữ truyện và ngôn ngữ thơ cảm tác và cách thức thể hiện hai loại tính biểu cảm này (Trang 171 – 189)

Chương IV thực hiện việc đối chiếu toàn diện giữa hai mô hình biểu cảm:

  • Điểm tương đồng trội nhất: Cả hai loại hình đều sử dụng ngôn từ nghệ thuật để xây dựng hình tượng nhằm phản ánh đời sống và chuyển tải cảm xúc của tác giả đến người tiếp nhận; đều đòi hỏi sự gia công thi pháp nghiêm ngặt để chuyển hóa thi chất thành chuỗi tín hiệu thẩm mỹ.
  • Điểm dị biệt trội nhất:
    • Về phương thức: Ngôn ngữ truyện biểu cảm gián tiếp thông qua sự kiện, tình huống điển hình, hệ thống nhân vật và tính logic của cốt truyện; ngôn ngữ thơ cảm tác biểu cảm trực tiếp và cô đọng thông qua tứ thơ, hình tượng thơ và sự tổ chức ngữ âm, nhịp điệu.
    • Về cấp độ tổ chức: Truyện tổ chức phân đoạn ngôn từ từ cấp vĩ mô đến vi mô với mối liên hệ câu - chỉnh thể lỏng lẻo hơn; thơ cảm tác tổ chức chuỗi ngôn từ nén chặt, quan hệ giữa câu thơ và toàn bài mang tính hữu cơ, chặt chẽ cao độ.
  • Các yếu tố tạo ra cách thức thể hiện tính biểu cảm: Sự chi phối của thể loại, tư duy hình tượng, mục đích giao tiếp nghệ thuật và các chuẩn mực thi pháp tương ứng.
  • So sánh cụ thể trên bình diện vi mô và vĩ mô (Trang 178): Phân tích chi tiết các điểm tương đồng và dị biệt trong việc sử dụng từ ngữ, cú pháp, thanh điệu và ngữ điệu giữa hai loại hình văn bản.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Xác lập định nghĩa khoa học về tính biểu cảm trong ngôn ngữ văn chương: Sau khi phân biệt thi chất và thi pháp, đồng thời xác định mối quan hệ tương tác giữa người sáng tác và người tiếp nhận, luận án khẳng định:
    • Xét từ phía người sáng tác: Tính biểu cảm trong ngôn ngữ văn chương là đặc tính thể hiện những cảm xúc thông qua những hình tượng nghệ thuật được tạo ra bằng chuỗi ngôn từ của tác phẩm văn chương.
    • Xét từ phía người thưởng thức: Tính biểu cảm là đặc tính gây kích thích của chuỗi ngôn từ có khả năng khắc họa những hình tượng nghệ thuật, làm dấy lên những cảm xúc ở người thưởng thức, giúp họ có được những tri nhận, cảm nhận và thức nhận văn chương.
  2. Xây dựng hai mô hình lý thuyết về tính biểu cảm:
    • Mô hình tính biểu cảm trong ngôn ngữ truyện gồm 6 thông số: (a) sự kiện – đối tượng phản ánh; (b) sự kiện điển hình; (c) ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ phi nhân vật; (d) các hình tượng nhân vật; (đ) lôgích của truyện; (e) bố cục phân đoạn ngôn từ từ cấp vĩ mô đến cấp vi mô.
    • Mô hình tính biểu cảm trong ngôn ngữ thơ cảm tác gồm 6 thông số: (a) đối tượng biểu cảm; (b) mục đích biểu cảm; (c) tứ thơ; (d) hình tượng thơ; (đ) cách thức biểu cảm; (e) phương tiện biểu cảm.
  3. Phát hiện định luật tương quan giữa câu và tác phẩm: Làm rõ quy luật liên kết ngữ nghĩa giữa số lượng câu và độ chặt chẽ của ý đối với chỉnh thể tác phẩm, phân định ranh giới giữa chức năng biểu cảm của câu và tính biểu cảm của tác phẩm.

Giá trị thực tiễn và giải pháp đề xuất

  • Ứng dụng trong giảng dạy: Kết quả nghiên cứu cung cấp khung lý thuyết và phương pháp tiếp cận khách quan giúp giáo viên và học sinh, sinh viên phân tích chính xác cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ văn chương trong nhà trường.
  • Định hướng sáng tác và thẩm bình: Xác lập hệ thống định hướng thao tác cho người sáng tác trong việc xử lý ngôn từ để tạo sức biểu cảm, đồng thời cung cấp công cụ thẩm định khoa học cho giới phê bình và độc giả tiếp nhận văn học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Về phạm vi thể loại văn xuôi, luận án mới chỉ khảo sát truyện ngắn và truyện vừa, chưa mở rộng phạm vi khảo sát sang thể loại tiểu thuyết (truyện dài).
  • Về phạm vi thể loại thơ, luận án giới hạn trong loại hình thơ cảm tác, chưa bao quát toàn bộ các dạng thức khác của thơ trữ tình như truyện thơ, thơ lịch sử hay thơ tuyên truyền.
  • Về phạm vi ngữ liệu, luận án tập trung chủ yếu vào các tác phẩm tiêu biểu trong giai đoạn văn học Việt Nam hiện đại từ đầu thế kỷ XX.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Ứng dụng và kiểm chứng mô hình tính biểu cảm trên các thể loại văn học quy mô lớn hơn như tiểu thuyết trường thiên hoặc kịch bản văn học.
  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các thể loại thơ trữ tình khác và thơ ca của các thời kỳ lịch sử trước thế kỷ XX (văn học trung đại).
  • Khảo sát sự thể hiện tính biểu cảm trong các phong cách chức năng ngôn ngữ khác như ngôn ngữ chính luận hoặc văn bản báo chí hiện đại.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các đối tượng chuyên môn:

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Ngôn ngữ học: Tham khảo khung lý thuyết tiếp cận văn bản nghệ thuật từ góc độ ngôn ngữ học so sánh, phong cách học, ngữ dụng học và phương pháp mô hình hóa các hiện tượng ngữ nghĩa - cảm xúc.
  • Nhà nghiên cứu Lý luận văn học và Thi pháp học: Tham khảo cách phân định ranh giới giữa thi chất và thi pháp, cơ chế tương tác giữa người lập ngôn và người tiếp nhận, cũng như định luật tương quan ngữ nghĩa giữa câu và tác phẩm.
  • Giảng viên và giáo viên Ngữ văn: Tham khảo hệ thống 6 thông số của truyện và 6 thông số của thơ cảm tác để ứng dụng vào việc thiết kế bài giảng phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường, giúp học sinh nắm bắt giá trị biểu cảm một cách có căn cứ ngôn ngữ học rõ ràng.
  • Người sáng tác và nhà phê bình văn học: Tham khảo quy trình lựa chọn ngôn từ hai bậc (trên trục tổ hợp và trục đối vị) và các phương thức chuyển hóa sự kiện đời sống thành hình tượng biểu cảm.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa "tính biểu cảm trong ngôn ngữ văn chương" như thế nào?

Tính biểu cảm trong ngôn ngữ văn chương được luận án định nghĩa từ hai góc độ: xét từ phía người sáng tác, đó là đặc tính thể hiện cảm xúc thông qua các hình tượng nghệ thuật được tạo ra bằng chuỗi ngôn từ của tác phẩm; xét từ phía người thưởng thức, đó là đặc tính gây kích thích của chuỗi ngôn từ có khả năng khắc họa hình tượng nghệ thuật, làm dấy lên cảm xúc, giúp người đọc có được tri nhận, cảm nhận và thức nhận văn chương.

2. Mô hình tính biểu cảm trong ngôn ngữ truyện gồm những thông số nào?

Mô hình tính biểu cảm trong ngôn ngữ truyện được xây dựng trên 6 thông số:

  • a) Sự kiện – đối tượng phản ánh;
  • b) Sự kiện điển hình;
  • c) Ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ phi nhân vật;
  • d) Các hình tượng nhân vật;
  • đ) Lôgích của truyện;
  • e) Bố cục phân đoạn ngôn từ từ cấp vĩ mô đến cấp vi mô.

3. Mô hình tính biểu cảm trong ngôn ngữ thơ cảm tác gồm những thông số nào?

Mô hình tính biểu cảm trong ngôn ngữ thơ cảm tác được xây dựng trên 6 thông số:

  • a) Đối tượng biểu cảm;
  • b) Mục đích biểu cảm;
  • c) Tứ thơ;
  • d) Hình tượng thơ;
  • đ) Cách thức biểu cảm;
  • e) Phương tiện biểu cảm.

4. Mối quan hệ giữa "thi chất" và "thi pháp" được phân định ra sao trong luận án?

Theo luận án, thi chất là cảm xúc văn chương của tác giả trước đời sống (có thể là thi chất có ích hoặc có hại). Thi pháp là nghệ thuật, kỹ thuật sử dụng và sắp xếp ngôn từ để thể hiện thi chất đó. Có thi chất thì mới có thi pháp, nhưng thi chất có ích không nhất thiết tự động dẫn đến thi pháp hoàn hảo nếu người viết thiếu kỹ thuật tổ chức ngôn từ. Tính biểu cảm trong văn chương chính là tính biểu cảm do thi pháp thể hiện.

5. Vì sao luận án giới hạn phạm vi khảo sát thơ trong loại hình "thơ cảm tác"?

Luận án giới hạn phạm vi trong "thơ cảm tác" vì đây là thể loại chiếm số lượng lớn trong thơ trữ tình Việt Nam, có đặc tính trữ tình xuyên suốt toàn bài và có khả năng bộc lộ tập trung cảm xúc của nhà thơ chỉ trong một vài câu hoặc một đoạn câu, do đó mang tính đại diện tiêu biểu nhất cho tính biểu cảm của ngôn ngữ thơ nói chung.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Trần Thị Hoa đã giải quyết một vấn đề lý luận và thực tiễn còn để ngỏ trong ngôn ngữ học so sánh và nghiên cứu văn học Việt Nam. Bằng việc phân lập ranh giới giữa thi chất và thi pháp, luận án đã xây dựng thành công định nghĩa khoa học cùng hai mô hình lý thuyết gồm 6 thông số đặc trưng cho tính biểu cảm trong ngôn ngữ truyện và ngôn ngữ thơ cảm tác. Công trình cung cấp hệ thống luận cứ và phương pháp phân tích cụ thể, phục vụ thiết thực cho hoạt động giảng dạy văn học trong nhà trường và nâng cao hiệu quả cảm thụ văn hóa trong xã hội.