Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Luật học của tác giả Đỗ Thùy Dung, sinh viên khóa QH-2012_L, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Trần Công Thịnh với đề tài: "Pháp luật Việt Nam về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động – những vấn đề lý luận và thực tiễn".

Bối cảnh thực tiễn được tác giả nêu rõ: Hợp đồng lao động (HĐLĐ) là hình thức pháp lý chủ yếu nhằm thiết lập quan hệ lao động giữa người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ), đóng vai trò là cơ sở ràng buộc các bên thực hiện các cam kết đã thỏa thuận, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể. Trong bối cảnh kinh tế thị trường phát triển, số lượng doanh nghiệp ngày càng gia tăng, nhu cầu sử dụng lao động ngày một lớn và yêu cầu chất lượng lao động ngày càng cao. Kéo theo đó, tình trạng một trong các bên vì chạy theo lợi ích kinh tế hoặc vì những lý do khách quan, chủ quan dẫn đến hành vi đơn phương chấm dứt HĐLĐ diễn ra hết sức phổ biến. Thực tiễn xét xử cho thấy phần lớn các vụ án tranh chấp lao động tại Việt Nam đều bắt nguồn từ hành vi đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Mặc dù quyền này đã được pháp luật Việt Nam ghi nhận từ Sắc lệnh 29/SL năm 1947, Bộ luật Dân sự 1994, Bộ luật Lao động (BLLĐ) 1994 (sửa đổi, bổ sung các năm 2002, 2006, 2007) và tiếp tục được điều chỉnh tại BLLĐ năm 2012, các quy phạm vẫn bộc lộ nhiều điểm chưa cụ thể, thiếu tính khả thi, gây lúng túng cho các bên trong quan hệ lao động và cơ quan có thẩm quyền áp dụng.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về đơn phương chấm dứt HĐLĐ; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật lao động Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

Nhiệm vụ nghiên cứu của tác giả được xác định cụ thể gồm 4 nội dung:

  1. Nghiên cứu một số vấn đề lý luận như khái niệm, đặc điểm của HĐLĐ, đơn phương chấm dứt HĐLĐ, ý nghĩa và hệ quả pháp lý của việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ đối với các bên trong quan hệ lao động;
  2. Nghiên cứu sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật và nội dung điều chỉnh bằng pháp luật đối với việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ để làm cơ sở đánh giá tính hợp lý của pháp luật hiện hành về đơn phương chấm dứt HĐLĐ;
  3. Nghiên cứu thực trạng pháp luật nước ta về đơn phương chấm dứt HĐLĐ và thực tiễn thực hiện các quy định này nhằm tìm ra những điểm bất cập, chưa hợp lý của các quy định hiện hành về đơn phương chấm dứt HĐLĐ, tạo tiền đề cho việc đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đơn phương chấm dứt HĐLĐ;
  4. Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đơn phương chấm dứt HĐLĐ ở Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật về HĐLĐ nói chung, chấm dứt HĐLĐ và đơn phương chấm dứt HĐLĐ nói riêng, cùng thực trạng thực hiện các quy định này tại Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu: Về nội dung, khóa luận tập trung nghiên cứu khía cạnh pháp lý của đơn phương chấm dứt HĐLĐ với tư cách là một bộ phận của chế định HĐLĐ trong pháp luật lao động. Về không gian và thời gian, khóa luận khảo sát hệ thống pháp luật lao động Việt Nam hiện hành, trọng tâm là BLLĐ 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành, có sự so sánh với các văn bản pháp luật thời kỳ trước đó.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên nền tảng cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế thị trường, bảo vệ quyền con người, quyền tự do kinh doanh và quyền lao động.

Về mặt khái niệm và khung lý thuyết pháp lý, tác giả sử dụng các định nghĩa và cơ sở pháp lý sau:

  • Khái niệm hợp đồng theo Điều 388 Bộ luật Dân sự năm 2005; khái niệm sự kiện bất khả kháng theo Điều 161 Bộ luật Dân sự năm 2005.
  • Định nghĩa HĐLĐ theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và các quy định của BLLĐ 1994, BLLĐ 2012.
  • Các quan niệm pháp lý về hành vi đơn phương chấm dứt HĐLĐ từ Báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án năm 1999, quan điểm của TS. Nguyễn Hữu Chí, TS. Nguyễn Thị Hoa Tâm, cùng định nghĩa pháp lý về đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật tại Điều 41 BLLĐ 2012.
  • Các văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp gồm: BLLĐ 2012 (các Điều 31, 32, 33, 37, 38, 39, 41, 43, 96, 98, 100, 101, 129, 130, 155, 156, 192, 242); Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/05/2003 và Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của BLLĐ.

Phương pháp nghiên cứu được vận dụng xuyên suốt bao gồm:

  • Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin.
  • Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật và phân tích tài liệu lý luận.
  • Phương pháp tổng hợp, thống kê tài liệu thực tiễn và sách chuyên khảo, bài báo khoa học.
  • Phương pháp so sánh pháp luật (đối chiếu các quy định của BLLĐ 2012 với BLLĐ 1994, các luật sửa đổi năm 2002, 2006, 2007; so sánh đối chiếu giữa quy định lý thuyết với thực tiễn thực hiện).
  • Phương pháp đánh giá thực trạng pháp luật.

Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và Chính phủ; báo cáo tổng kết thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân; giáo trình Luật Lao động của Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Luật TP.HCM, Trường Đại học Lao động – Xã hội, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN); các đề tài, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và bài báo chuyên ngành đăng tải trên Tạp chí Luật học, Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Những vấn đề lý luận về HĐLĐ và đơn phương chấm dứt HĐLĐ

Chương I tập trung làm rõ bản chất pháp lý của HĐLĐ và hành vi đơn phương chấm dứt HĐLĐ qua các phân mục:

  • Khái niệm và đặc điểm của HĐLĐ: HĐLĐ có nguồn gốc từ hợp đồng dịch vụ dân sự sau cuộc cách mạng công nghiệp cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19. Tác giả phân tích 5 đặc trưng cơ bản: (1) Có sự phụ thuộc pháp lý của NLĐ vào NSDLĐ; (2) Đối tượng của hợp đồng là việc làm có trả công (sức lao động là hàng hóa đặc biệt gắn liền với nhân thân); (3) HĐLĐ do đích danh NLĐ thực hiện mà không thể dịch chuyển cho người khác; (4) Sự thỏa thuận bị chi phối bởi các giới hạn pháp lý nhất định theo nguyên tắc "quyền lợi của NLĐ là tối đa, nghĩa vụ là tối thiểu"; (5) HĐLĐ được thực hiện liên tục trong một thời hạn nhất định hoặc vô hạn định.
  • Khái niệm và đặc điểm của đơn phương chấm dứt HĐLĐ: Phân biệt giữa "đương nhiên chấm dứt HĐLĐ" (dựa trên thỏa thuận, ý chí cơ quan có thẩm quyền hoặc sự kiện khách quan) và "đơn phương chấm dứt HĐLĐ" (hành vi pháp lý thể hiện ý chí của một bên nhằm kết thúc quan hệ lao động trước thời hạn mà không phụ thuộc vào ý chí bên kia). Hành vi này mang 4 đặc điểm: là quyền của một chủ thể; làm chấm dứt hiệu lực hợp đồng trước thời hạn; tạo hệ quả pháp lý đa dạng; giải phóng các bên khỏi nghĩa vụ ràng buộc nếu thực hiện đúng pháp luật.
  • Phân loại đơn phương chấm dứt HĐLĐ: Dựa theo chủ thể (từ phía NLĐ hoặc NSDLĐ) và tính chất pháp lý (đúng pháp luật hoặc trái pháp luật). Đơn phương chấm dứt trái pháp luật được chia thành: vi phạm về nội dung (không có căn cứ hợp pháp); vi phạm về thủ tục (báo trước, lấy ý kiến công đoàn); hoặc vi phạm đồng thời cả nội dung và thủ tục.
  • Tác động của đơn phương chấm dứt HĐLĐ: Tác giả luận giải tác động hai mặt (hợp pháp và trái pháp luật) đối với NLĐ, NSDLĐ, Nhà nước và xã hội. Đơn phương chấm dứt trái luật gây ảnh hưởng nặng nề đến đời sống, việc làm của NLĐ, đẩy người yếu thế vào nguy cơ mất thu nhập; làm đình trệ sản xuất, phát sinh chi phí bồi thường và rủi ro kiện tụng cho NSDLĐ; gây bất ổn trật tự xã hội và gia tăng thất nghiệp.
  • Điều chỉnh pháp luật về đơn phương chấm dứt HĐLĐ: Khẳng định sự cần thiết khách quan của việc can thiệp pháp luật nhằm bảo vệ bên yếu thế, bình ổn quan hệ lao động; nêu 4 nhóm nội dung điều chỉnh: điều chỉnh quyền của NLĐ, quyền của NSDLĐ, giải quyết hậu quả pháp lý và giải quyết tranh chấp (qua thương lượng, hòa giải, trọng tài hoặc tòa án).

Chương II: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về đơn phương chấm dứt HĐLĐ

Chương II đi sâu phân tích hệ thống quy phạm BLLĐ 2012 và thực tiễn thi hành qua các nhóm quy định cụ thể:

  • Quy định về đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ:
    • Căn cứ chấm dứt đối với HĐLĐ xác định thời hạn và hợp đồng theo mùa vụ/công việc dưới 12 tháng (Khoản 1 Điều 37 BLLĐ 2012) gồm 7 nhóm trường hợp: (a) không được bố trí đúng công việc, địa điểm hoặc điều kiện làm việc; (b) không được trả lương đầy đủ hoặc đúng hạn; (c) bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động; (d) hoàn cảnh khó khăn theo Khoản 2 Điều 11 Nghị định 05/2015/NĐ-CP; (đ) được bầu/bổ nhiệm chức vụ chuyên trách; (e) lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định y tế; (g) điều trị ốm đau, tai nạn liên tục 90 ngày (hoặc 1/4 thời hạn hợp đồng).
    • Đối với HĐLĐ không xác định thời hạn (Khoản 3 Điều 37 BLLĐ 2012), NLĐ có quyền đơn phương chấm dứt mà không cần chứng minh lý do, chỉ cần tuân thủ thời hạn báo trước ít nhất 45 ngày.
    • Tác giả chỉ ra bất cập: Điểm c Khoản 1 Điều 37 bổ sung căn cứ "quấy rối tình dục" nhưng thiếu quy định hướng dẫn chi tiết về hành vi và tiêu chuẩn chứng cứ, gây khó khăn cho NLĐ khi bảo vệ quyền lợi; việc NLĐ giữ HĐLĐ không xác định thời hạn dễ dàng đơn phương chấm dứt chỉ với 45 ngày báo trước tạo nguy cơ rò rỉ bí mật công nghệ, bí mật kinh doanh và cạnh tranh không lành mạnh cho doanh nghiệp.
  • Quy định về đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NSDLĐ:
    • NSDLĐ ở cả hai loại hợp đồng (xác định và không xác định thời hạn) đều bắt buộc phải chứng minh căn cứ hợp pháp theo Khoản 1 Điều 38 BLLĐ 2012: (a) NLĐ thường xuyên không hoàn thành công việc; (b) ốm đau, tai nạn điều trị kéo dài (12 tháng đối với hợp đồng không xác định thời hạn, 06 tháng đối với hợp đồng xác định thời hạn, quá nửa thời hạn đối với hợp đồng dưới 12 tháng); (c) lý do bất khả kháng buộc thu hẹp sản xuất theo Khoản 2 Điều 12 Nghị định 05/2015/NĐ-CP; (d) NLĐ vắng mặt sau 15 ngày hết hạn tạm hoãn HĐLĐ.
    • Bất cập được chỉ ra: Tiêu chí "thường xuyên không hoàn thành công việc" trước đây được định lượng cứng nhắc tại Nghị định 44/2003/NĐ-CP (nhắc nhở bằng văn bản 2 lần trong 1 tháng), nay Nghị định 05/2015/NĐ-CP chuyển giao quyền tự quy định tiêu chí trong quy chế nội bộ doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp không ban hành quy chế sau khi lấy ý kiến công đoàn thì không thể áp dụng căn cứ này.
    • Bất cập về kỹ thuật lập pháp tại Điều 39 BLLĐ 2012: Điều 39 quy định các trường hợp cấm NSDLĐ đơn phương chấm dứt, trong đó viện dẫn trường hợp lao động nữ kết hôn, mang thai, nuôi con dưới 12 tháng tuổi (Khoản 3 Điều 155) và trường hợp NSDLĐ là cá nhân chết hoặc tổ chức chấm dứt hoạt động. Tác giả phân tích đây là sự trùng lặp thiếu logic, bởi các trường hợp trên vốn không phải là căn cứ hợp pháp của Điều 38 hoặc thuộc nhóm đương nhiên chấm dứt, việc đưa vào Điều 39 gây rườm rà không cần thiết.
Tiêu chí so sánh Quyền của Người lao động (Điều 37) Quyền của Người sử dụng lao động (Điều 38, 39)
HĐLĐ không xác định thời hạn - Không cần lý do/căn cứ pháp lý.
- Báo trước ít nhất 45 ngày (trừ trường hợp thai sản theo Điều 156).
- Bắt buộc phải có 1 trong 4 căn cứ tại Khoản 1 Điều 38.
- Báo trước ít nhất 45 ngày.
- Không được chấm dứt trong các trường hợp cấm tại Điều 39.
HĐLĐ xác định thời hạn (12-36 tháng) - Bắt buộc có căn cứ tại Khoản 1 Điều 37.
- Báo trước ít nhất 3 ngày làm việc (điểm a, b, c, g) hoặc 30 ngày (điểm d, đ).
- Bắt buộc có 1 trong 4 căn cứ tại Khoản 1 Điều 38.
- Báo trước ít nhất 30 ngày (trừ trường hợp ốm đau điểm b báo trước ít nhất 3 ngày làm việc).
HĐLĐ theo mùa vụ / dưới 12 tháng - Bắt buộc có căn cứ tại Khoản 1 Điều 37.
- Báo trước ít nhất 3 ngày làm việc.
- Bắt buộc có 1 trong 4 căn cứ tại Khoản 1 Điều 38.
- Báo trước ít nhất 3 ngày làm việc.
Thủ tục với tổ chức Công đoàn Không yêu cầu. Đã bỏ thủ tục trao đổi, nhất trí với Ban chấp hành công đoàn cơ sở (trừ trường hợp chấm dứt đối với cán bộ công đoàn không chuyên trách theo Khoản 7 Điều 192).
  • Giải quyết quyền lợi, nghĩa vụ và tranh chấp: Trình bày quy định về trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trách nhiệm bồi thường chi phí đào tạo, khôi phục quan hệ lao động khi chấm dứt trái luật; cơ chế giải quyết tranh chấp qua thủ tục khiếu nại và tố tụng tại Tòa án.

Chương III: Hoàn thiện pháp luật về đơn phương chấm dứt HĐLĐ ở Việt Nam

Chương III luận giải các giải pháp lập pháp và thực tiễn thi hành:

  • Khẳng định tính cấp thiết khách quan của việc hoàn thiện pháp luật nhằm đáp ứng yêu cầu cân bằng thị trường lao động, hạn chế tranh chấp kéo dài và bảo đảm quyền con người trong hội nhập quốc tế.
  • Các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật:
    • Sửa đổi, hoàn thiện các quy định về căn cứ chấm dứt: Cụ thể hóa định nghĩa và cơ chế xác lập chứng cứ đối với hành vi "quấy rối tình dục tại nơi làm việc"; ban hành hướng dẫn khung rõ ràng về tiêu chí đánh giá NLĐ không hoàn thành công việc để tránh sự tùy tiện từ phía NSDLĐ.
    • Sửa đổi kỹ thuật lập pháp tại Điều 39 BLLĐ 2012: Bãi bỏ việc dẫn chiếu các trường hợp bảo vệ lao động nữ (vốn đã thuộc Điều 155) và trường hợp NSDLĐ giải thể, phá sản, cá nhân chết ra khỏi phạm vi cấm đơn phương chấm dứt HĐLĐ.
    • Hoàn thiện chế tài xử lý và cơ chế bồi thường thiệt hại khi chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật nhằm bảo đảm quyền lợi chính đáng cho cả NLĐ và NSDLĐ.
  • Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi:
    • Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật lao động nhằm nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật của NLĐ và hạn chế sự lạm quyền của NSDLĐ.
    • Nâng cao vai trò giám sát của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở (Công đoàn).
    • Tăng cường hiệu lực công tác thanh tra lao động và nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân trong quá trình giải quyết các vụ án lao động tại Tòa án.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu và đóng góp chuyên môn cụ thể sau:

  • Về kết quả cụ thể:
    • Hệ thống hóa toàn diện 5 đặc trưng bản chất của HĐLĐ và 4 đặc trưng của hành vi đơn phương chấm dứt HĐLĐ, phân định ranh giới giữa đương nhiên chấm dứt và đơn phương chấm dứt HĐLĐ.
    • Phân tích chi tiết sự bất đối xứng về mặt điều kiện thực hiện quyền giữa hai chủ thể trong BLLĐ 2012: NLĐ với HĐLĐ không xác định thời hạn chỉ cần tuân thủ thời hạn báo trước 45 ngày mà không cần lý do, trong khi NSDLĐ luôn phải có căn cứ hợp pháp theo luật định.
    • Làm rõ sự chuyển đổi kỹ thuật lập pháp từ việc quản lý định lượng cứng nhắc theo Nghị định 44/2003/NĐ-CP sang trao quyền chủ động ban hành quy chế cho doanh nghiệp theo Nghị định 05/2015/NĐ-CP đối với tiêu chí "không hoàn thành công việc".
    • Phát hiện các điểm nghẽn thực tiễn: Khó khăn trong việc thu thập chứng cứ chứng minh hành vi "quấy rối tình dục" theo Điểm c Khoản 1 Điều 37 do thiếu vắng văn bản giải thích chi tiết theo Điều 242 BLLĐ 2012; phát hiện lỗi logic kỹ thuật lập pháp tại Điều 39 BLLĐ 2012.
  • Đóng góp khoa học và thực tiễn do tác giả tự nêu:
    • Nghiên cứu một cách toàn diện cơ sở lý luận về đơn phương chấm dứt HĐLĐ và pháp luật điều chỉnh quan hệ này tại Việt Nam.
    • Làm rõ sự cần thiết điều chỉnh pháp luật trên cả phương diện kinh tế, xã hội và pháp lý nhằm giữ vững kỷ cương thị trường lao động.
    • Phân tích, đánh giá khách quan thực trạng các quy phạm hiện hành, chỉ rõ tính khả thi cùng những bất cập tồn tại trong BLLĐ 2012.
    • Đưa ra hệ thống kiến nghị sửa đổi luật thực chất và các giải pháp thực thi đồng bộ, góp phần ổn định và tăng tính an toàn pháp lý cho quan hệ lao động tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận ghi nhận một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện nghiên cứu:

  • Hạn chế về phạm vi và dữ liệu: Tác giả tự đánh giá các tài liệu giáo trình và nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở mức độ phân tích chế định chấm dứt HĐLĐ nói chung, chưa có nhiều công trình phân tích chuyên sâu thực tiễn áp dụng BLLĐ 2012 ngay sau khi luật có hiệu lực. Văn bản hướng dẫn thi hành thời điểm đó chưa giải thích toàn diện từng căn cứ cụ thể (do giới hạn thẩm quyền tại Điều 242 BLLĐ 2012). Đề tài chỉ tiếp cận trong phạm vi pháp luật lao động nội địa Việt Nam, chưa mở rộng nghiên cứu so sánh chuyên sâu với pháp luật lao động của các quốc gia khác ngoài các định nghĩa cơ bản của ILO.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi thực tiễn áp dụng BLLĐ 2012 và các văn bản hướng dẫn giai đoạn tiếp theo; mở rộng nghiên cứu thực tiễn xét xử các bản án lao động cụ thể của Tòa án các cấp; nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về quyền sa thải và bảo vệ việc làm để chuẩn bị luận cứ khoa học cho các lần sửa đổi BLLĐ trong tương lai.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên ngành Luật học: Sử dụng làm tài liệu tham khảo trực tiếp cho các học phần Luật Lao động, chuyên đề về Hợp đồng lao động và Kỹ năng giải quyết tranh chấp lao động.
  • Cán bộ nhân sự (HR) và pháp chế doanh nghiệp: Nắm vững hệ thống căn cứ chấm dứt hợp pháp tại Điều 38, quy trình ban hành quy chế đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ theo Nghị định 05/2015/NĐ-CP và thời hạn báo trước bắt buộc để hạn chế rủi ro pháp lý và trách nhiệm bồi thường khi chấm dứt HĐLĐ.
  • Người lao động và cán bộ công đoàn: Hiểu rõ quyền đơn phương chấm dứt hợp pháp theo Điều 37, nhận diện các trường hợp bị vi phạm quyền lợi hoặc bị sa thải trái luật để thực hiện quyền khiếu nại, khởi kiện.
  • Thẩm phán, Kiểm sát viên, Hòa giải viên lao động: Tham khảo các phân tích lý luận về phân loại đơn phương chấm dứt trái luật (vi phạm nội dung, vi phạm thủ tục) phục vụ công tác xét xử, hòa giải tranh chấp lao động.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống phân tích 5 đặc trưng của HĐLĐ tại Chương I và bài bình luận chi tiết về các điểm bất cập của Điều 37, Điều 38, Điều 39 BLLĐ 2012 tại Chương II.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo BLLĐ 2012, sự khác biệt căn bản nhất về điều kiện đơn phương chấm dứt HĐLĐ không xác định thời hạn giữa NLĐ và NSDLĐ là gì?
Trả lời: Theo Khoản 3 Điều 37 BLLĐ 2012, NLĐ có HĐLĐ không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt mà không cần đưa ra bất kỳ căn cứ hay lý do nào, chỉ cần báo trước cho NSDLĐ ít nhất 45 ngày. Ngược lại, NSDLĐ khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ không xác định thời hạn bắt buộc phải có một trong các căn cứ luật định tại Khoản 1 Điều 38 (như không hoàn thành nhiệm vụ, ốm đau 12 tháng liên tục, bất khả kháng...) và phải báo trước ít nhất 45 ngày, đồng thời không rơi vào các trường hợp bị cấm tại Điều 39.

2. Quy định về căn cứ "NLĐ thường xuyên không hoàn thành công việc" đã thay đổi như thế nào từ Nghị định 44/2003/NĐ-CP sang Nghị định 05/2015/NĐ-CP?
Trả lời: Trước đây, Khoản 1 Điều 12 Nghị định 44/2003/NĐ-CP quy định định lượng cứng nhắc: NLĐ bị coi là thường xuyên không hoàn thành công việc khi không đạt định mức/nhiệm vụ do yếu tố chủ quan và bị lập biên bản hoặc nhắc nhở bằng văn bản ít nhất 2 lần trong 1 tháng mà không khắc phục. Đến Nghị định 05/2015/NĐ-CP (Khoản 1 Điều 12), quy định này được chuyển sang hướng linh hoạt: NSDLĐ tự quy định cụ thể tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của doanh nghiệp sau khi lấy ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở. Nếu không có quy chế này, NSDLĐ không được áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 38 BLLĐ 2012.

3. Tại sao tác giả cho rằng việc đưa trường hợp bảo vệ lao động nữ mang thai và NSDLĐ chết/chấm dứt hoạt động vào Điều 39 BLLĐ 2012 là thiếu logic về kỹ thuật lập pháp?
Trả lời: Tác giả lập luận rằng: Thứ nhất, các lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi vốn không nằm trong các căn cứ chấm dứt hợp pháp của Điều 38, nếu NSDLĐ chấm dứt vì các lý do này thì đương nhiên là trái luật theo Điều 41, do đó chỉ cần quy định tại Điều 155 nhằm phòng ngừa vi phạm là đủ. Thứ hai, trường hợp NSDLĐ là cá nhân chết hoặc tổ chức chấm dứt hoạt động thuộc nhóm đương nhiên chấm dứt HĐLĐ chứ không mang bản chất đơn phương chấm dứt. Do đó, quy định tại Điều 39 tạo ra sự trùng lặp và rườm rà không cần thiết.

4. Khóa luận chỉ ra vướng mắc thực tế nào đối với quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ khi bị quấy rối tình dục?
Trả lời: Mặc dù Điểm c Khoản 1 Điều 37 BLLĐ 2012 đã bổ sung hành vi bị "quấy rối tình dục" là căn cứ để NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ (chỉ cần báo trước 03 ngày làm việc), nhưng trên thực tế NLĐ rất khó áp dụng do pháp luật thời điểm đó chưa có định nghĩa và tiêu chí cụ thể thế nào là quấy rối tình dục tại nơi làm việc, dẫn đến việc thu thập chứng cứ chứng minh hành vi này của NSDLĐ hoặc đồng nghiệp gặp nhiều trở ngại.

5. BLLĐ 2012 đã bãi bỏ thủ tục nào đối với NSDLĐ khi thực hiện đơn phương chấm dứt HĐLĐ so với BLLĐ 1994?
Trả lời: BLLĐ 2012 đã bãi bỏ quy định NSDLĐ phải trao đổi, nhất trí với Ban chấp hành công đoàn cơ sở khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trong các trường hợp thông thường tại Điều 38. NSDLĐ chỉ còn phải thực hiện thủ tục thỏa thuận với Ban chấp hành công đoàn cơ sở khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ đối với cán bộ công đoàn không chuyên trách theo Khoản 7 Điều 192 BLLĐ 2012.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Đỗ Thùy Dung là công trình nghiên cứu hệ thống và nghiêm túc về chế định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của BLLĐ 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Tác giả đã làm rõ các cơ sở lý luận nền tảng, chỉ rõ 5 đặc trưng của quan hệ hợp đồng lao động và sự cần thiết điều chỉnh pháp luật đối với hành vi chấm dứt của từng chủ thể. Điểm nhấn của công trình nằm ở việc phát hiện sâu sắc các bất cập kỹ thuật lập pháp và khó khăn thực tiễn trong việc áp dụng các căn cứ định tính, từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật có giá trị thực tiễn cao. Khóa luận cung cấp nguồn tư liệu học thuật hữu ích cho công tác đào tạo, nghiên cứu pháp luật lao động và thực tiễn quản trị nhân sự tại các doanh nghiệp.