phần mở đầu, kết luận, những công trình liên quan đến luận văn đã được công bố, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn gồm ba chương: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động và pháp luật về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động. Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động và thực tiễn thực hiện. Chƣơng 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động. 8 z Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN ĐƠN PHƢƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN ĐƠN PHƢƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG 1.
Khái niệm quyền đơn phƣơng chấm dứt hợp đồng lao động và quyền đơn phƣơng chấm dứt hợp đồng lao động của ngƣời lao động 1. Khái niệm quyền đơn phƣơng chấm dứt hợp đồng lao động Trước khi tìm hiểu khái niệm về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, chúng ta cần nắm rõ các nội dung liên quan đến quan hệ lao động. Theo đó, quan hệ lao động là loại quan hệ phát sinh dựa trên cơ sở sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động. Trong đó, đối tượng các bên tham gia quan hệ lao động hướng tới là sức lao động của người lao động bỏ ra trong quá trình lao động theo sự chỉ đạo, bố trí, tổ chức của người sử dụng lao động.
Hợp đồng lao động được coi là phương tiện để ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, mọi sự kiện làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt hợp đồng lao động đều dẫn tới việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động. Quan hệ lao động có thể được chấm dứt trong những trường hợp khác nhau, bởi những căn cứ, lý do khác nhau. Đó có thể chấm dứt theo thỏa thuận của hai bên, đương nhiên chấm dứt, chấm dứt do bất khả kháng hoặc theo ý chí của một bên tham gia quan hệ lao động.
Đối với các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động do thoả thuận của hai bên, do đương nhiên hoặc do có các sự kiện bất khả kháng luôn đảm bảo phù hợp quy định của pháp luật. Tuy nhiên, đối với việc thực hiện quyền đơn phương chấm dứt 9 z hợp đồng lao động của người sử dụng lao động hoặc người lao động thường là những vấn đề phức tạp, có nhiều ý kiến trái chiều và đem lại nhiều hệ lụy hơn so với các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động khác. Bởi xuất phát từ bản chất của quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là việc áp đặt ý chí của một bên vào hợp đồng lao động dẫn đến việc chấm dứt quan hệ lao động mà không phụ thuộc vào ý chí của bên còn lại trong quan hệ lao động. Do vậy việc thực hiện quyền này thường không được chủ thể còn lại chấp nhận, nên thường dẫn đến tranh chấp.
Mặt khác do việc thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động chỉ phụ thuộc vào ý chí của một bên, nên có thể có hoặc không tuân thủ các quy định của pháp luật. Chính vì vậy, tuỳ thuộc vào yếu tố hợp pháp hay không hợp pháp của chủ thể thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà hậu quả pháp lý của nó sẽ không giống nhau. “Quyền” theo nghĩa chung nhất là “khả năng thực hiện ý chí của mình được pháp luật hoặc xã hội chấp nhận, là cái mà pháp luật, xã hội, phong tục hay lẽ phải cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành, và khi thiếu được yêu cầu để có, nếu bị tước đoạt có thể đòi hỏi để giành lại.” [53] Đơn phương được hiểu là “Riêng một bên, không có sự thoả thuận hoặc sự tham gia của bên kia.” [54] Như vậy, quyền đơn phương là khả năng thực hiện ý chí được pháp luật hoặc xã hội chấp nhận của riêng một bên, không cần có sự thoả thuận hoặc sự tham gia của phía bên kia. Theo Báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án năm 1999 thì quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là việc “Một bên chủ thể quyết định chấm dứt việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ lao động mà không phụ thuộc vào ý chí của bên kia.TS Trần Thị Thuý Lâm thì “Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động được hiểu là trường hợp một trong các bên chấm dứt quan hệ khi hợp đồng vẫn còn thời hạn.
Việc chấm dứt này hoàn toàn chỉ do ý chí của một bên chủ thể mà không phụ thuộc vào ý chí của phía bên kia.” [33, tr22] Theo quan điểm của PGS.TS Đào Thị Hằng thì: Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là hành vi pháp lý trong đó thể hiện ý chí của một bên chủ thể nhằm chấm dứt quan hệ lao động với bên kia. Ý chí này phải được biểu thị ra bên ngoài dưới hình thức nhất định và phải được truyền đạt tới chủ thể đối tác mà không cần thiết phải được chủ thể đó chấp nhận. Về nguyên tắc, hình thức biểu thị ý chí đó có thể bằng văn bản hay bằng lời nói (miệng). Nếu bằng văn bản thì văn bản đó phải được gửi cho chủ thể bên kia và ý chí chấm dứt dứt quan hệ lao động trong đó phải được biểu đạt rõ ràng, cụ thể để người nhận có thể hiểu được.
Nếu bằng hình thức lời nói, bên bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động phải được truyền đạt, thông báo cụ thể từ bên có quyền và có thể hiểu được chính xác nội dung đó. [28, tr16] Trên cơ sở những nội dung đã phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động như sau: Quyền đơn phƣơng chấm dứt hợp đồng lao động là việc một chủ thể trong quan hệ lao động tự mình quyết định chấm dứt hiệu lực pháp lý của hợp đồng lao động đã ký kết giữa các bên trƣớc thời hạn mà không phụ thuộc vào ý chí của phía bên kia. Khái niệm quyền đơn phƣơng chấm dứt hợp đồng lao động của ngƣời lao động 11 z Trong khi Tổ chức lao động quốc tế định nghĩa hợp đồng lao động là “Một thoả thuận ràng buộc pháp lý giữa người sử dụng lao động và một công nhân, trong đó xác lập các điều kiện và chế độ việc làm.” [63] thì theo điều 15 Bộ luật lao động 2012 hợp đồng lao động được hiểu là: “sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động”. Bản chất hợp đồng lao động là một hợp đồng song vụ, trong đó các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động và người lao động và luôn gắn liền, đi đôi với nhau.
Hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động và người lao động với mục đích để ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động, không phải lúc nào các bên cũng tuân thủ các thoả thuận đã được ký kết nên quyền và lợi ích hợp pháp của các bên có thể bị vi phạm, không được đảm bảo. Chính vì vậy, khi phát sinh các sự kiện pháp lý làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của mỗi bên tham gia quan hệ lao động, người lao động hoặc người sử dụng lao động có thể áp dụng cơ chế tự bảo vệ quyền lợi của mình thông qua việc thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà pháp luật cho phép. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không chỉ là cách để người sử dụng lao động thực hiện quyền tự do của mình trong công tác tuyển dụng, phân bổ, sử dụng lao động một cách hợp lý, phù hợp với nhu cầu sản xuất, kinh doanh của người sử dụng lao động, là biện pháp để người sử dụng lao động bảo vệ lợi ích của mình khi bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại mà còn là công cụ hữu hiệu mà pháp luật dành cho người lao động để họ thực hiện quyền tự do việc làm, đồng thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong quan hệ lao động khi họ không thể 12 z tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động được nữa.
Khi người lao động không muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động hoặc vì lý do nào đó họ không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng, người lao động sẽ chấm dứt việc thực hiện hợp đồng lao động mà không cần phụ thuộc vào việc người sử dụng lao động có đồng ý hay không. Hay nói cách khác là việc chấm dứt hợp đồng lao động là do người lao động hoàn toàn quyết định. Từ những phân tích trên, ta có thể đưa ra khái niệm về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động như sau: “Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động là việc người lao động áp dụng các quy định của pháp luật để tự mình quyết định chấm dứt thực hiện các quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng lao động với người sử dụng lao động trước thời hạn”. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động có các đặc điểm sau: Thứ nhất, quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động chỉ được thực hiện khi hợp đồng lao động còn thời hạn Khi tham gia vào quan hệ lao động, các bên sẽ thực hiện việc ký kết hợp đồng lao động, trong đó thỏa thuận về loại hình lao động, thời gian làm việc đối với từng loại hợp đồng khác nhau.
Khi thời hạn hợp đồng kết thúc, các bên trong hợp đồng lao động sẽ không còn ràng buộc với nhau về quyền và nghĩa vụ. Chính vì vậy, các bên chủ thể không thể thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái với những quy định đã có và một trong số đó là thời hạn có hiệu lực pháp lý của hợp đồng lao động hoặc khi công việc mà người lao động có nghĩa vụ phải thực hiện chưa hoàn thành.