CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGHIÊN CỨU Chương này trình bày tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến chất lượng hoạt động học thực hành tại bệnh viện của sinh viên điều dưỡng, các quan điểm về việc đánh giá thực hành lâm sàng của sinh viên điều dưỡng, các khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu, các cơ sở lý luận của nghiên cứu và khung lý thuyết của nghiên cứu. Tổng quan các nghiên cứu liên quan. Học thực hành tại bệnh viện (hay còn gọi là học lâm sàng) là phương pháp học đặc thù của ngành Y tế, chiếm khoảng 35-40% tổng thời lượng học. Việc đánh giá hoạt động học thực hành tại bệnh viện của sinh viên là một yêu cầu không thể thiếu đối với một cơ sở đào tạo nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục.
Trong hầu hết các trường đại học ở nước ngoài, việc sinh viên đánh giá hoạt động học thực hành là một nguồn thông tin quan trọng. Thông tin thu được từ sinh viên có thể được giáo viên sử dụng để cải tiến công tác giảng dạy, tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu trong quá trình giảng dạy các môn khác nhau và những lớp khác nhau. Vậy việc đánh giá cần sự tham gia của những đối tượng nào? Sự đánh giá của các đối tượng này có những ưu – nhược điểm gì? M. Star Mahara (1998) cho rằng đánh giá lâm sàng trong đào tạo điều dưỡng có vai trò quan trọng với những ảnh hưởng lớn đến sinh viên điều dưỡng, giảng viên lâm sàng và người bệnh.
Việc đánh giá lâm sàng trong đào tạo điều dưỡng cần nhiều sự quan tâm đầu tư cũng như cần sự tham gia của nhiều nguồn lực. Việc đánh giá lâm sàng mang nặng tính chất chủ quan vì giảng viên lâm sàng (hoặc cố vấn học tập) thường cũng là người đánh giá nên rất dễ phát sinh các vấn đề từ tính chất chủ quan này. Saarikoskia và cộng sự (2007) khảo sát tám trường đào tạo điều dưỡng là thành viên của mạng lưới điều dưỡng theo chuyên đề Châu Âu (Thematic European Nursing Network - TENN) đã nhận thấy tuy các trường này có mức độ phát triển khác nhau nhưng việc tổ chức thực hành lâm sàng cho sinh viên điều dưỡng chủ yếu đều tương tự nhau. Nghiên cứu chỉ ra việc thực hành của sinh viên điều dưỡng theo 15 nhóm, giám sát và đánh giá thực hành theo nhóm là phổ biến nhất.
Trong đó tác giả nhận thấy vai trò của cố vấn thực hành trong đánh giá sinh viên là rất quan trọng. [54] Bridie Mc Carthy và Siobhan Murphy (2007) nhận xét về việc đánh giá sinh viên điều dưỡng chưa hoặc sắp tốt nghiệp của giảng viên. Các tác giả cho rằng sinh viên điều dưỡng sắp tốt nghiệp cần có tinh thần trách nhiệm trong công việc, có thể chứng minh được các kỹ năng chăm sóc và có khả năng ra quyết định trong công việc. Việc đánh giá sinh viên do các giảng viên điều dưỡng thực hiện.
Tuy nhiên việc đánh giá này chịu ảnh hưởng bởi kinh nghiệm của giảng viên. Một số giảng viên chưa có kinh nghiệm, không hoàn toàn theo sát quy trình đánh giá và không áp dụng tất cả các phương pháp đánh giá được đề xuất khi đánh giá sinh viên trong thực hành lâm sàng. [51] Theo Pamela Baxter và Geoff Norman (2011), sinh viên tự đánh giá là hoạt động quan trọng trong đào tạo điều dưỡng. Tuy nhiên, có một số hạn chế về tính chính xác của tự đánh giá.
Nhóm tác giả thực hiện việc so sánh kết quả tự đánh giá của sinh viên bằng bảng hỏi và kết quả giảng viên đánh giá sinh viên bằng việc thi lâm sàng khách quan theo cấu trúc (OSCE). Kết quả cho thấy việc sinh viên tự đánh giá và giảng viên đánh giá sinh viên bằng thi lâm sàng khách quan theo cấu trúc hầu như có mối tương quan thuận, tuy nhiên có mốt số yếu tố có mối tương quan nghịch. Theo nhóm tác giả, việc tự đánh giá để đo lường năng lực và sự tự tin trong thực hành lâm sàng của sinh viên có thể ít chính xác hơn đánh giá của giảng viên. Garrett và cộng sự (2013) thực hiện khảo đối với sinh viên từ năm thứ hai trở đi.
Theo nhóm tác giả, đánh giá của giảng viên tiện lợi cho việc thu thập dữ liệu, có thể theo dõi sự tiến bộ của sinh viên, liên kết được lý thuyết với thực hành. Đối với việc tự đánh giá của sinh viên, việc đánh giá cần phải chuẩn hóa quy trình để cho kết quả chính xác. [49] Hiện nay, với xu hướng đào tạo theo năng lực, việc đánh giá sinh viên điều dưỡng theo năng lực đang trở nên phổ biến. Roger Watson và cộng sự (2002) nhấn 16 mạnh việc đánh giá năng lực đang trở thành trọng tâm của đánh giá hoạt động thực hành lâm sàng của sinh viên điều dưỡng.
Nhóm tác giả chỉ ra vẫn có những sự không rõ ràng khi định nghĩa “năng lực” và hầu hết các phương pháp được sử dụng để xác định hay đo lường năng lực chưa được nghiên cứu một cách hệ thống và chưa giải quyết được các vấn đề về độ tin cậy của các công cụ dùng để đo lường năng lực. [58] Mary Pat Butlera và cộng sự (2011) chỉ ra sự thiếu hụt các phương pháp đánh giá thực hành lâm sàng đáng tin cậy và có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự đánh giá của giảng viên đối với sinh viên. Nghiên cứu chỉ ra có một số lượng lớn giảng viên gặp khó khăn trong việc hiểu và áp dụng các tài liệu về đánh giá năng lực lâm sàng của sinh viên. Các giảng viên đánh giá thiếu tính liên tục và thường đánh giá kiến thức và thái độ hơn là kỹ năng.
Tác giả khuyến nghị việc chuẩn hóa các quy trình đánh giá và cách phân giảng viên giảng dạy cũng như đánh giá để đảm bảo sự chuẩn xác của đánh giá lâm sàng. [52] Một số nghiên cứu đưa ra các cách thức đánh giá năng lực thực hành lâm sàng của sinh viên điều dưỡng và chỉ ra độ tin cậy của các cách thức đó. Gibbons SW và cộng sự (2002) cho rằng giáo dục lâm sàng trong đào tạo điều dưỡng đóng vai trò rất quan trọng bởi việc phát triển năng lực trong hoạt động thực hành sẽ quyết định chất lượng của hoạt động thực hành nghề nghiệp trong tương lai. Nhóm tác giả đề xuất việc đánh giá năng lực của sinh viên bằng cách sử dụng một môi trường lâm sàng nhất định, có thể coi như một trung tâm mô phỏng, với bệnh nhân đã được chuẩn hóa và cần sử dụng một hoặc nhiều phương pháp đánh giá và nhiều nguồn đánh giá (sinh viên đánh giá lẫn nhau, tự đánh giá, giảng viên đánh giá sinh viên, bệnh nhân đánh giá sinh viên).
Chambers (2002) cho rằng đánh giá hoạt động thực hành lâm sàng của sinh viên điều dưỡng là một vấn đề lâu dài và khó khăn đặc biệt là sự nhất trí trong việc xác định các năng lực để đánh giá hoạt động học thực hành lâm sàng của sinh viên điều dưỡng, khiến việc đánh giá thực hành lâm sàng chủ yếu mang tính chất chủ quan. Đồng thời, vai trò của cố vấn học tập và người đánh giá thường 17 dễ bị nhầm lẫn. Rất khó nâng cao độ giá trị và độ tin cậy của các công cụ dùng để đánh giá thực hành lâm sàng, khiến cho việc đánh giá trở nên phức tạp và khó khăn. Tác giả đề xuất sử dụng “Đánh giá quá trình” để đánh giá hoạt động thực hành lâm sàng của sinh viên điều dưỡng nhằm làm giảm bớt sự phức tạp và không nên đánh giá “khả năng nghĩ và viết” vì nó không có vai trò quan trọng trong việc bộc lộ khả năng trong việc thực hành lâm sàng.
Thi OSCE được áp dụng lần đầu tiên tại Bắc Mỹ vào năm 1979 và hiện nay được sử dụng rộng rãi tại các trường y và hội đồng cấp chứng chỉ hành nghề tại Mỹ, Anh, Australia, New Zealand, một số nước châu Âu và châu Á. Sinh viên khi thi OSCE sẽ lần lượt qua các trạm đánh giá kỹ năng. Tại mỗi trạm, sinh viên phải xử lý một ca lâm sàng cụ thể trên mô hình hoặc với người đóng vai bệnh nhân chuẩn. Người chấm điểm đã qua đào tào sẽ quan sát và đánh giá/cho điểm thái độ và kỹ năng của sinh viên dựa trên bảng hướng dẫn chấm điểm đã chuẩn hóa.
Hình thức thi OSCE có cho phép đánh giá khá tốt các kỹ năng của sinh viên nhưng cũng có một số hạn chế như phải chuẩn bị kỹ càng và thí điểm thi OSCE trước khi tiến hành thi thật, các công cụ cần phải chuẩn hóa để đảm bảo độ tin cậy và giá trị, và cần phải xem xét một cách cẩn thận về thời gian, số lượng và sự ảnh hưởng lẫn nhau của các trạm OSCE. Mặt khác, đây là một sự đánh giá tổng kết hơn là đánh giá quá trình nên khó có thể phản ánh chất lượng của quá trình học thực hành của sinh viên. [43] Anthony Ryan và cộng sự (2010) đề xuất việc sử dụng bệnh nhân đã chuẩn hóa để đánh giá kỹ năng giao tiếp của sinh viên điều dưỡng Kết quả đánh giá cho thấy phần lớn sinh viên đạt về những kỹ năng này. Nhóm tác giả chỉ ra tầm quan trọng của kỹ năng giao tiếp và tư vấn đối với sinh viên điều dưỡng.
Những kỹ năng này đã được đào tạo trong tất cả các chương trình đào tạo đại học điều dưỡng. Lenburg và cộng sự (2011) đưa ra mô hình đánh giá theo chuẩn năng lực đầu ra và thành quả (Competency Outcomes and Performance Assessment 18 Model - COPA) thay cho phương pháp truyền thống. Theo nhóm tác giả, hành vi lâm sàng cốt lõi và toàn diện cung cấp các bằng chứng về năng lực lâm sàng của sinh viên điều dưỡng, việc đánh giá cần tập trung vào vai trò giảng viên và việc dựa trên chuẩn năng lực đầu ra. [38] Theo Tracy Levett-Jones và cộng sự (2011), việc đánh giá năng lực lâm sàng của sinh viên điều dưỡng phải đối mặt với các vấn đề độ giá trị, độ tin cậy, tính chủ quan và thiên vị của người đánh giá.
Việc đánh giá thường xuyên cho phép đánh giá nhanh các kỹ năng giao tiếp và vận động, đánh giá sơ lược các kỹ năng chung hoặc đánh giá được thực hiện trong các phòng mô phỏng lâm sàng chứ không phải trên môi trường lâm sàng thực tế.