Phần Mở đầu Phần nội dung: gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1. Hiện trạng lựa chọn đối tác trong HTQT về KH&CN. Giải pháp thúc đẩy HTQT về KH&CN với các đối tác chiến lƣợc trong bối cảnh hội nhập. Phần Kết luận.
10 z PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG TIÊU CHÍ LỰA CHỌN ĐỐI TÁC CHIẾN LƢỢC TRONG HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1. Các khái niệm cơ bản 1. Hợp tác quốc tế Trƣớc hết chúng ta tìm hiểu khái niệm hợp tác. Hợp tác là cùng chung sức giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó, nhằm một mục đích chung.
Trong từ điển Webster năm 2000 định nghĩa hợp tác là một hành động hay một việc làm cùng với nhau vì mục đích và lợi ích chung. Ở từ điển khác ngƣời ta lại định nghĩa hợp tác là hành cộng của một vài ngƣời giúp đỡ bằng việc làm những gì cần thiết và yêu cầu trong nỗ lực chung và hợp tác. Tóm lại hợp tác là mọi ngƣời làm việc với nhau để đạt đƣợc những kết quả hoặc mọi ngƣời giúp đỡ nhau để đạt mục tiêu chung. Trong cuộc sống có nhiều loại hình hợp tác nhƣ hợp tác về kinh tế, hợp tác về lao động,.
HTQT là loại hình hợp tác mở rộng hơn mà nó vƣợt ra ngoài lãnh thổ của quốc gia. Thƣờng ngƣời ta hay đề cập tới hợp tác giữa hai nƣớc hoặc nhóm các nƣớc có chung tiếng nói và ý chí hành động. Theo tác giả Hoàng Khắc Nam (2006), “Hợp tác vừa là cách thức, vừa là mục đích mà nhân loại phấn đấu để đạt đƣợc”.Thực tế cho thấy, sự tƣơng tác giữa các chủ thể làm lên quan hệ, không có các chủ thể cùng tham gia thì sẽ không có hợp tác. Tác giả Hoàng Khắc Nam (2006), khẳng định “Chủ thể quan hệ quốc tế là những thực thể đóng một vai trò có thể nhận thấy đƣợc trong quan hệ quốc tế”.
Trong quan hệ quốc tế, các chủ thể ở đây đƣợc chia thành ba loại, bao gồm: chủ thểquốc gia, chủ thể phi quốc gia và chủ thể dƣới quốc gia.Năm 1933, Công ƣớc Montevideo đã ra 11 z đời và qui định về quyền vànghĩa vụ của quốc gia. Chủ thể quốc gia là chủ thể cơ bản và có vai trò lớn nhất. Chủ thể phi quốc gia là những chủ thể không phải là quốc gia, đây là loại chủ thể có sự độc lập tƣơng đối với quốc gia và có quy mô hoạt động vƣợt khỏi biên giới quốc gia nhƣ: các tổ chức phi chính phủ, công ty đa quốc gia, một số nhóm chính trị - xã hội,… Chủ thể dƣới quốc gia là chủ thể hoạt động phụ thuộc khá nhiều vào quốc gia nhƣng cũng có sự độc lập tƣơng đối và đóng vai trò nhất định, ví dụ nhƣ: chính quyền địa phƣơng, cá nhân,. Trong quá trình hình thành và phát triển của mỗi quốc gia, HTQT là một hiện tƣợng xuyên lịch sử.
Nó tồn tại trong giai đoạn lịch sử bất chấp thế giới đầy những xung đột và chiến tranh. Cho đến nay, HTQT đã trở thành xu thế lớn trong quan hệ quốc tế và lôi cuốn mọi quốc gia và con ngƣời khắp nơi trên thế giới cùng tham gia. HTQT là một hình thức tƣơng tác trong quan hệ quốc tế. Về mặt hành vi, đó là sự tƣơng tác hoà bình giữa các chủ thể quan hệ quốc tế, tức là trong đó bạo lực đƣợc loại ra.
Về mặt mục đích, hợp tác là cách thức phối hợp nhằm thực hiện các mục đích chung, lợi ích chung. Sự phối hợp đa dạng từ nhân lực, vật lực đến tài lực. Về mặt kết quả, sự hợp tác thƣờng đem lại kết quả nhƣ nhau cho các bên tham gia hợp tác tức là hoặc cùng đƣợc, hoặc cùng không thoả mãn,… Theo tác giả Hoàng Khắc Nam (2006), dựa vào các đặc trƣng trên có thể đƣa ra khái niệm chung cho HTQT nhƣ sau: "Hợp tác quốc tế là sự phối hợp hoà bình giữa các chủ thể quan hệ quốc tế nhằm thực hiện các mục đích chung”. Hội nhập quốc tế Ngày nay, HNQT đang diễn ra trong bối cảnh toàn cầu hoá ngày một gia tăng.
Đây là quá trình tìm kiếm lợi ích trong khuôn khổ hợp tác và cạnh tranh. Trong quá trình đó, bên cạnh những lợi thế có đƣợc do mở rộng quan hệ, tiếp thu kinh nghiệm, tìm kiếm đối tác, tranh thủ sự hỗ trợ của các nƣớc tiên tiến và các tổ chức quốc tế, các nƣớc đang phát triển cũng gặp không ít khó khăn, thách thức 12 z về thị trƣờng, vốn, trình độ quản lý, trình độ KH&CN, buộc phải nhanh chóng đổi mới một cách toàn diện cả về phƣơng thức lãnh đạo, quản lý, xây dựng định hƣớng, chiến lƣợc phát triển KT-XH để rút ngắn khoảng cách phát triển. Nhận thức đƣợc tính tất yếu HNQT đối với công cuộc phát triển, hầu hết các quốc gia đều chủ động tích cực mở rộng quan hệ HTQT dƣới nhiều hình thức và mức độ khác nhau, tiến tới HNQT sâu rộng. Qua quá trình nghiên cứu, PGS.TS Mai Hà đã đƣa ra định nghĩa tổng quát về HNQT nhƣ sau: “Hội nhập quốc tế là quá trình phát triển và tích hợp để trở thành bộ phận cấu thành tích cực của hệ thống quốc tế với thể chế đƣợc thống nhất, đảm bảo lợi ích lâu dài cho các bên tham gia” [18, tr.
Hội nhập quốc tế về KH&CN HNQT về KH&CN là quá trình phát triển KH&CN quốc gia và tích hợp để trở thành bộ phận cấu thành tích cực của hệ thống KH&CN quốc tế với thể chế đƣợc thống nhất, đảm bảo lợi ích lâu dài cho các quốc gia và các cộng đồng khoa học. Từ những đặc điểm của quá trình HNQT nói chung, HNQT về KH&CN có một số đặc thù sau: Tính tự nguyện (Willingness) trong trƣờng hợp này, thƣờng đi kèm với quá trình HNQT KT-XH, song cũng có những trƣờng hợp HNQT về KH&CN có bƣớc đi trƣớc, độc lập tƣơng đối so với hệ thống KT- XH. Hãy xét trƣờng hợp HNQT của KH&CN Cu Ba, Triều Tiên, Iran,… Giải thích điều này, ngƣời ta có thể thấy, nghiên cứu khoa học là quá trình đi tìm “cái khách quan”, “tính quy luật” của xã hội và tự nhiên. Do vậy, bản thân quá trình nghiên cứu khoa học đã buộc phải tuân thủ ở mức độ tối đa các luật lệ chung, các chuẩn chung, đó là các phƣơng pháp nghiên cứu, các quá trình thí nghiệm, qui trình công nghệ, các chuẩn đo lƣờng, các mẫu điều tra, các chuẩn công bố, chuẩn sản phẩm KH&CN,… Chính vì vậy, việc KH&CN hội nhập với quốc tế là điều khá tự nhiên.
Chỉ có 3 điều khác biệt giữa các quốc gia đó là: (i) chính sách đầu tƣ tài chính phát triển KH&CN, (ii) phƣơng thức tổ chức mạng lƣới các cơ quan 13 z nghiên cứu và triển khai, và (iii) chính sách sử dụng nhân lực và kết quả KH&CN; Cạnh tranh bình đẳng (Fair competition) trong nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ chủ yếu đƣợc dựa trên cơ sở của các hiệp định quốc tế về sở hữu trí tuệ và nền chung là hệ thống đổi mới quốc gia. Ở đó là sự cạnh tranh bình đẳng giữa các trƣờng phái khoa học, các tổ chức khoa học và cá nhân các nhà khoa học; Lợi ích bền vững (Sustainable interest) trong HNQT về KH&CN đó chính là quá trình đổi mới, mà trong đó KH&CN đóng vai trò then chốt: Đảm bảo lợi ích bền vững là yếu tố sống còn của HNQT nói chung. Đồng thời đó cũng là mục tiêu để các quốc gia HNQT, cùng hợp tác, cạnh tranh và phát triển. HNQT nói chung và về KH&CN nói riêng luôn chứa đựng những cơ hội phát triển to lớn cũng nhƣ nhiều thách thức đối với các quốc gia đang phát triển [18, tr.
Hợp tác quốc tế về KH&CN Khái niệm HTQT về KH&CN là một hình thức quan hệ quốc tế về KH&CN trong đó có sự hợp tác nghiên cứu, trao đổi thành tựu, tiến bộ KH&CN giữa các chủ thể trong quan hệ quốc tế về KH&CN. Nguyên nhân hình thành HTQT về KH&CN là do sự khác biệt về năng lực KH&CN của mỗi quốc gia, chi phí cho nghiên cứu KH&CN cũng tốn kém và xu thế quốc tế hoá hoạt động nghiên cứu và triển khai. Hoạt động HTQT về KH&CN diễn ra trên qui mô toàn cầu, diễn ra trong nhiều lĩnh vực dƣới nhiều hình thức đa dạng, các nƣớc công nghiệp phát triển và các công ty quốc gia đóng vai trò thống trị và chủ đạo. Đối tác Đối tác là thuật ngữ chỉ mối quan hệ cộng tác - hợp tác nhƣng ở mức độ cao hơn và cụ thể hơn.
Các nhà nghiên cứu định nghĩa: “Đối tác bao gồm hai hay nhiều bên hành động cùng nhau để nâng cao hợp tác bằng việc thực hiện những mục tiêu chung. Xây dựng những kênh/cơ chế giải quyết các bất đồng/tranh chấp, biện pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác và phƣơng pháp đánh giá tiến bộ cũng 14 z nhƣ chia sẻ những thành tựu hợp tác”. Hành động cùng nhau chung mục tiêu và chung lợi ích là những tiêu chí của quan hệ đối tác. Một mối quan hệ đối tác bao gồm sự gần gũi, bình đẳng, có đi có lại, và thoả thuận về những mục tiêu chung.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và HNQT hiện nay, không quốc gia nào có thể tự mình phát triển nếu không tham gia vào quá trình hội nhập, liên kết, vì những giá trị phát triển chung của nhân loại ngày càng đƣợc phổ biến, chia sẻ trên toàn cầu. Đặc biệt là về kinh tế, các chuỗi cung ứng giá trị hàng hoá đang hình thành thì không một quốc gia đơn lẻ nào có thể đảm đƣơng đƣợc tất cả. Quốc gia nào sớm tham gia vào chuỗi cung ứng giá trị đó sẽ sớm đƣợc hƣởng lợi và có đối tác. Đảng ta luôn khẳng định, Việt Nam “là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế” [1, tr.7], và “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, thực hiện nhất quán đƣờng lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hoá, đa phƣơng hoá trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” [1, tr.
Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 180 trong 193 quốc gia thành viên Liên hiệp quốc; có quan hệ thƣơng mại với gần 230 quốc gia và vùng lãnh thổ; là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế; hơn nữa, Việt Nam đã có gần 100 cơ quan đại diện tại các quốc gia và vùng lãnh thổ ở các châu lục.