CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM VỀ GIẢI PHÁP BẢO VỆ BỜ BIỂN 1.1 Các nghiên cứu trên thế giới - Những thành tựu khoa học chính, quan trọng: trong các lĩnh vực này đã có trên thế giới phải kể đến các công cụ, thiết bị điện tử đo đạc hiện trường, định vị toàn cầu, cập nhật được số liệu nhanh, đầy đủ và chính xác. Về mô hình toán, đã và đang được ứng dụng rộng rãi trên thế giới đó là: Hệ thống mô hình họ MIKE 21, cho phép giải quyết các vấn đề mực nước và dòng chảy 2 chiều, sự vận chuyển và khuếch tán của các chất hòa tan và lơ lửng, bùn cát, sự lan truyền dầu; sự lan truyền của sóng biển, tính toán sa bồi ở vùng cửa sông và ven biển. Mô hình toán MIKE 3, cho phép tính toán dòng chảy và bùn theo không gian 3 chiều, rất thích hợp để nghiên cứu bài toán sa bồi, xói lở cho vùng cửa sông, ven biển. Mô hình toán Ansys, phần mềm Litpack có khả năng mô phỏng quá trình diễn biến đường bờ biển theo không gian và thời gian, đánh giá tác động của công trình ven biển, tối ưu hóa hệ thống công trình ven biển, thiết kế và đánh giá hiệu quả công trình biển.
Ngoài ra phải kể đến một số mô hình thông dụng khác như Delft3D: bộ phần mềm 2D/3D mô hình hoá thủy lực, lan truyền chất, sóng, vận chuyển bùn cát, biến đổi đáy của WL|Delft Hydraulics, Hà Lan; SMS: bộ phần mềm 2D/3D mô hình hoá thủy lực, lan truyền chất, sóng, vận chuyển bùn cát, biến đổi đáy của Aquaveo, Mỹ. Về mô phỏng quá trình thủy động học vùng ven bờ có những tiến bộ về mặt lý thuyết cũng như công nghệ, vật liệu mới mô hình hóa các hiện tượng tự nhiên bằng mô hình vật lý thu nhỏ trong phòng thí nghiệm, cho phép theo dõi quá trình diễn biến hiện tượng tự nhiên đã, đang và sẽ xảy ra sau khi công trình hoàn thành, ở các mốc thời gian xác định, với độ chính xác cao. 5 Hình 1- 1: Hình ảnh mô hình vật lý nghiên cứu chi tiết về chế độ dòng chảy ven bờ tại phòng thí nghiệm của công ty đa quốc gia Hr Wallingford, Anh Quốc [16] Một trong những mô hình vật lý nghiên cứu chi tiết về chế độ dòng chảy ven bờ trong mối quan hệ với tác động của sóng, gió, triều dâng, xói lở bờ biển đang được tiến hành tại phòng thí nghiệm của Công ty đa quốc gia HR Wallingford, Anh Quốc (hình 1-1). Qua việc nghiên cứu nhiều công trình bờ biển, cửa sông cũng được xây dựng: biện pháp ổn định luồng tàu, chống bồi lấp cửa sông thường được sử dụng hệ thống đê hướng dòng, ngăn cát, giảm sóng.
ỞMỹ, trong 56 cửa sông có luồng tàu thì 31 cửa sông được xây dựng đê ngăn cát, giảm sóng. Ở Nhật, 72 cửa sông trong số 139 cửa được xây dựng đê ngăn cát, giảm sóng. Ngoài ra, có thể kể thêm những cửa sông lớn điển hình như sông Missisippi (Mỹ), Sein (Pháp), Đu Nai (chảy qua 08 nước châu Âu đổ ra biển Đen), sông Trường Giang (Trung Quốc). Việc ổn định luồng tàu cửa sông nhờ vào hệ thống công trình đê ngăn cát, giảm sóng (Lương Phương Hậu, 2005).
Chức năng của đê ngăn cát, giảm sóng là: 6 - Đưa dòng chảy sông tiếp tục theo đê, mang bùn cát đẩy ra vùng biển xa hơn, để bar chắn cửa không ảnh hưởng đến luồng, lạch. - Ngăn chặn bùn cát dọc bờ, bảo đảm giữ ổn định cửa sông và luồng tàu. Việc nghiên cứu để có thể đưa ra các giải pháp chỉnh trị các cửa sông là vấn đề phức tạp và đòi hỏi nhiều thời gian và số liệu thu thập (Lương Phương Hậu, Trịnh Việt An, Lương Phương Hợp, 2002). Sau 40 năm nghiên cứu (1958-1997) các nhà khoa học Trung Quốc đã đưa ra giải pháp KHCN chỉnh trị cửa sông Trường Giang đáp ứng được các mục tiêu “Trong điều kiện duy trì ổn định thế sông tổng thể của Trường Giang, chọn tuyến Bắc của lạch Nam để tiến hành chỉnh trị, phương án tổng quát là lợi dụng lúc triều rút, tiến hành chỉnh trị ở mực nước trung, ổn định nút phân lưu.
Giải pháp công trình là bố trí hệ thống gồm 2 đê hướng dòng với khoảng cách rộng với dãy mỏ hàn răng lược thu hẹp dòng chảy và kết hợp nạo vét bổ sung” (Hình 1-2). Hình 1- 2: Sơ đồ bố trí mặt bằng công trình chỉnh trị cửa sông Trường Giang (Trung Quốc). Ngày nay, xu thế các giải pháp khoa học công nghệ được đề xuất ngày càng thân thiện với môi trường hơn: Tạo bãi, nuôi bãi gây bồi, giữ bãi bằng cách trồng cây chắn sóng, xây dựng các mỏ hàn ngầm giảm sóng, bố trí các mỏ hàn mềm dạng túi cát đặt song song hoặc tạo một góc hợp lý với đường bờ. Những công trình loại này đem lại hiệu quả rất lớn ở nhiều nước trên thế giới như Nga, Pháp, Trung Quốc.
7 Hình 1- 3: Khối Tetrapot phá sóng ở cảng St Francis, Nam Phi (trái) và khối Ecopode, dùng để phá sóng ở Garachico - Tây Ban Nha (phải),[16] Hình 1- 4: Kè mỏ hàn chắn sóng, làm nơi trú ẩn của tàu bè ở Krijal, Croatia (trái), kè mỏ hàn chắn sóng ở cảng Zapuntel - Molat, Croatia (phải),[16] Trước thực trạng trái đất nóng dần lên làm khối lượng băng tan ở hai cực, khối lượng nước ở các đại dương bị dãn nở do nhiệt. Mặt khác một lượng nước ngầm không nhỏ đã được khai thác, bổ sung vào nước mặt. Thể tích đại dương bị thu hẹp do đất đá bề mặt lục địa bị bào mòn bồi lấp nhiều triệu năm nay. Nhiều nguyên nhân khác mà con người chưa thể khám phá được, đã gây nên tình trạng nước biển dâng cao dần, kéo theo một loạt vấn đề cần nghiên cứu, trong đó diễn biến xói bồi dải ven biển không còn diễn ra theo quy luật trước đây, gây ảnh hưởng tới đời sống kinh tế của nhiều nước, đặc biệt ở các nước có cao trình mặt đất tự nhiên thấp như: Hà Lan, Bangladet, Việt Nam.
Vấn đề biến đổi khí hậu, nước biển dâng được xem là vấn đề lớn cần được làm rõ trong thời gian ngắn ở các nước này. 8 - Các nghiên cứu về giải pháp chống xói lở, bảo vệ bờ biển: Các nghiên cứu về giải pháp có thể chia làm hai nhóm là nhóm giải pháp cứng và nhóm giải pháp mềm. Các giải pháp này nói chung có hai chức năng chính là kiểm soát sóng và dòng chảy ven bờ cũng như sự vận chuyển bùn cát dọc bờ. Nhóm các giải pháp cứng bao gồm: kè biển, kè mỏ hàn, đê ngầm phá sóng, kè mỏ hàn kết hợp đê ngầm phá sóng, “mũi đất” nhân tạo.
Các giải pháp mềm bao gồm: nuôi bãi, trồng rừng ngập mặn và đụn cát.2 Các nghiên cứu trong nước Cho đến nay việc nghiên cứu chỉnh trị và ổn định lòng dẫn các cửa sông tại nước ta bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định. Có thể tổng kết một số các phương pháp đã được ứng dụng ở Việt nam như sau: - Phương pháp bản đồ, ảnh viễn thám:Đây là phương pháp nghiên cứu biến động đường bờ, cửa sông bằng cách chập các bản đồ, ảnh viễn thám có cùng tỷ lệ với các mốc thời gian khác nhau để thấy rõ sự biến động của chúng. Ưu điểm của phương pháp này là có thể nghiên cứu trong phạm vi không gian rộng lớn và khoảng thời gian dài hàng chục năm. Tuy nhiên các yếu tố động lực thay đổi theo không gian và đặc biệt là theo cấu trúc thẳng đứng không được xem xét.
- Phương pháp điều tra theo phiếu thăm dò:Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, ít tốn kém và không mất nhiều thời gian, có thể tận dụng mọi tầng lớp trong xã hội nếu câu hỏi đề ra không phức tạp. Phương pháp này cho người nghiên cứu có cái nhìn định tính và một phần định lượng, biết được sự biến động đường bờ, cửa sông theo quá trình lịch sử. Áp dụng phương pháp này qua khảo sát lấy ý kiến nhiều người dân sinh sống tại khu vực cửa Lấp, kết quả nhiều người dân điều phản ánh tình trạng xói lở nơi đây diển ra ngày càng phức tạp, với tốc độ rất nhanh. Củng qua đó đả nắm được thêm tình trạng khai thác cát của con người diển ra một cách tràn lan làm ảnh hưởng một phần về xói lở tại khu vực cửa Lấp.
9 - Nghiên cứu đê chắn cát giảm sóng Cửa Lò nằm ở bờ nam sông Cấm thuộc huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh 15 km. Được xây dựng từ 1947-1985. - Các đề tài đã nghiên cứu thuộc cấp Bộ do Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam chủ trì: Nghiên cứu dự báo xói lở, bồi lắng lòng dẫn và đề xuất các biện pháp phòng chống cho hệ thống sông ở Đồng bằng sông Cửu Long; điều tra cơ bản vùng cửa sông thuộc hệ thống sông Tiền, sông Hậu; điều tra khảo sát biến đổi hình thái dải ven biển vùng Nam Trung Bộ và Nam Bộ;. Ngoài ra, các công trình nghiên cứu nêu trên đã để lại nhiều tài liệu điều tra, khảo sát cơ bản vô cùng quý giá về địa hình, thủy văn, hải văn, dân sinh, môi trường; các yêu cầu bức xúc của phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nam Bộ nói chung, vùng ven biển nói riêng.
- Các nghiên cứu về vùng biển Đông, biển Tây Nam Bộ: Viện Hải Dương học Nha Trang trong việc hợp tác thực hiện chương trình NAGA (1959 - 1961) và chương trình hợp tác với Viện Sinh học Biển Đông (1976 - 1986) đã để lại bộ số liệu rất quý về các yếu tố vật lý biển, môi trường và sinh thái biển. - Các nghiên cứu liên quan đến đề tài trong thời gian gần đây: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khoa học công nghệ phục vụ xây dựng hệ thống đê biển, đê ngăn mặn cửa sông Nam Bộ của Trần Như Hối; Nghiên cứu đánh giá, tìm nguyên nhân gây ra suy thoái rừng và đề xuất phương án bảo vệ, phát triển rừng phòng hộ đê biển Gò Công tỉnh Tiền Giang của Nguyễn Ân Niên thực hiện từ 2005 đến 2007. Kết quả các nghiên cứu đã để lại nhiều số liệu quý báu như: - Chế độ sóng, gió: sóng tại vùng nghiên cứu chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa Đông Bắc, Tây Nam.