Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về quản lý rừng và thực trạng tài nguyên rừng của tỉnh Bắc Kạn 1. Khái niệm rừng, quản lý rừng Rừng là một dạng tài nguyên thiên nhiên có thể tự tái tạo (nay có một phần là tài nguyên nhân tạo), là đối tượng tác động để tạo ra lợi ích vật chất trực tiếp như lâm sản, lợi ích môi trường dịch vụ phục vụ con người. Rừng lại là môi trường mà con người và nhiều sinh vật khác phát sinh, phát triển, song môi trường rừng còn có khả năng tương tác và cải thiện các dạng môi trường khác trong cùng không gian tồn tại như không khí, đất, nước.
Ngày nay, rừng đang đóng vai trò quan trọng trong môi trường sống, môi trường phát triển, và có tác dụng lớn trong việc hấp thụ, lưu trữ CO2 hạn chế quá trình thay đổi khí hậu trên trái đất. Do đứng từ nhiều góc độ nhìn nhận và sử dụng rừng, nhiều giai đoạn lịch sử phát triển nên đã có nhiều định nghĩa khác nhau về rừng. Những định nghĩa kinh điển xuất phát từ thế kỷ 18 và nửa đầu thế kỷ XIX đều định nghĩa rừng tạo thành từ quần thể thực vật, động vật, vi sinh vật, đất đai, có tương tác lẫn nhau tạo thành hoàn cảnh rừng và có tương tác với các hoàn cảnh xung quanh, trong đó phải có quần thể cây gỗ cao (hoặc cầy loài thân thảo), tạo thành hoàn cảnh rừng hoặc là một quần lạc sinh địa luôn phát triển như trường phái Nga: Morodop G.I (1944;1964) [5], hoặc trường phái Tây Âu: Tansley A. Việt nam chịu ảnh hưởng nặng từ những trường phái này, thể hiện trong các ấn phẩm nghiên cứu của Thái văn Trừng (1962,1998), Trần Ngũ Phương (1964).
Các giáo trình lâm học của Đại học Lâm nghiệp. Để hướng dẫn đo đạc và công bố độ che phủ rừng mỗi nước, FAO đã định nghĩa rừng, trong FAO FORESTRY PAPER số 12 đến 130: “Rừng là các hệ sinh thái có tối thiểu 10% tàn che của cây gỗ hoặc tre nứa trong điều kiện phức hệ đất, hệ động vật, hệ thực vật tự nhiên nói chung không phải là đối tượng để canh tác nông nghiệp. Rừng được phân chia theo nguồn gốc với 2 phạm trù: Rừng tự nhiên là các khu rừng có tổ thành gồm cây bản địa của vùng. Rừng trồng được con người tạo ra n 5 trên diện tích trước đây chưa từng có rừng nhưng thay đổi loài cây bản địa bằng loài mới khác, loài đa dạng di truyền”.
[3] Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế đưa ra định nghĩa, giống như FAO, được Thang Hooi Chiew (2006) tiếp nhận như sau:” Đất phải rộng trên 0,5 ha, với chiều cao của các cây hơn 5m và độ che phủ hơn 10% hoặc các cây có khả năng đạt đến ngưỡng nguyên vị của nó. Điều này không bao gồm đất mà phần lớn đang sử dụng đất đô thị hoặc nông nghiệp. Các cây có khả năng đạt đến độ cao tối thiểu là 5m. Những diện tích đang khôi phục mà chưa đạt được nhưng hy vọng sẽ đạt độ che phủ 10% thì dược chấp mhận và bao gồm cả các cây có chiều cao 5m…” [13] Trong quá trình hòa nhập, luật bảo vệ và phát triển rừng Việt nam (2004) đã định nghĩa” Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên.
Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng. Gần đây nhất Bộ NN-PTNT đã đưa ra định nghĩa mới (2009), theo xu thế hội nhập có định lượng các chỉ tiêu, mới ban hành 2009 là “ Rừng là hệ sinh thái, trong đó thành phần chính là các loài cây lâu năm thân gỗ, cau dừa có chiều cao vút ngọn từ 5m trở lên (trừ rừng mới trồng và một số loài cây rừng ngập mặn ven biển), có khả năng cung cấp gỗ. Lâm sản ngoài gỗ và các giá trị trực tiếp và gián tiếp khác như bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và cảnh quan”. Quản lý rừng Cũng giống như định nghĩa rừng, việc phân loại rất khác nhau, phong phú và đáp ứng yêu cầu sử dụng của người phân loại, chúng gồm phân loại theo đặc điểm sinh thái cấu trúc tự nhiên, theo sinh thái phát sinh, theo mục đích khai thác gỗ và quản lý rừng, theo năng lực phòng hộ nguồn nước, theo mục đích bảo tồn tự nhiên và đa dạng sinh học (ĐDSH).
Phân loại từ lâu nay và bao trùm cả thế giới là theo đặc điểm sinh thái cấu trúc, người ta phân cấp theo nguồn gốc, theo vùng, theo cáu trúc tổ thành loài,. Theo nguồn gốc thì có 2 cấp là rừng tự nhiên và rừng trồng; rừng tự nhiên lại được n 6 phân cấp theo điều kiện khí hậu như rừng ôn đới, nhiệt đới, rồi phân cấp thành rừng lá kím, lá rộng, tre nứa, rồi ẩm, khô, ngập nước, ngập mặn, đá vôi, rồi kín, hở, hỗn loại thuần loại, núi cao, đồi gò, thung lũng, ẩm ướt, ngập nước v. Ví dụ : Rừng hỗn loại, nhiệt đới, kín, ẩm, thường xanh, núi thấp, ưu thế cây họ dầu. Cách phân loại này kinh điển và cả thế giới áp dụng.
Phân loại theo lý thuyết sinh lạc quần địa theo lý thuyết Sucasev lấy “Kiểu rừng” = Type làm đơn vị cơ bản và hệ thống các kiểu phụ không chỉ thảm cây mà gắn liền với các nhân tố lập địa. Phân loại 14 kiểu rừng theo nhân tố sinh thái phát sinh của Thái văn Trừng (1962) [4]. Phân chia rừng phục vụ khai thác gỗ và quản lý rừng (1960) do chuyên gia CHDC Đức Loschau đưa vào Việt nam, đã được cải tiến, Việt nam hóa nhiều lần và sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay, gồm có 4 loại chính: Loại I. Không có rừng hoặc đã mất rừng, tùy theo thảm cỏ, cây bụi, cây gỗ tái sinh từ “ít đến nhiều” mà chia loại phụ Ia, Ib, Ic.
Rừng non tái sinh hoặc trồng, đã khép tán. Rừng tự nhiên đã bị khai thác chính 1 hoặc nhiều lần tùy theo mức độ khai thác từ “tàn kiệt đến khai thác ít” mà chia ra IIIa, IIIb, IIIc. Rừng nguyên chưa khai thác chính hoặc khai thác rất ít. Phân chia rừng và thảm thực vật theo chức năng phòng hộ nguồn nước dựa trên cơ sở tác dụng điều tiết nước (biến lượng mưa, dòng chảy mặt thành dòng chảy ngầm, và chống lũ lụt xói mòn rửa trôi đất) của 3 nhân tố rừng là “độ tàn che tán lá, số lượng tầng tán, kết cấu loài cây”, do Nguyễn Ngọc Lung và Võ Đại Hải, 1997, Chương trình 327, trồng rừng phòng hộ phủ xanh đất trống đồi núi trọc [6].
Phân chia rừng phục vụ mục đích bảo tồn thiên nhiên và bảo tồn ĐDSH của tổ chức IUCN được nhiều quốc gia áp dụng. Cấp phân loại đầu tiên là rừng sản xuất và rừng bảo vệ. Rừng bảo vệ được chia tiếp thành vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo tồn loài, khu bảo tồn cảnh quan,… n 7 *. Quản lý rừng và quản lý rừng bền vững Khoa học quản lý rừng bắt đầu có từ đầu thế kỷ XIX, khi gỗ có giá trị thương mại trao đổi lớn.
Chủ rừng muốn có nhiều lãi suất bằng cách nâng cao năng suất, sản lượng gỗ trên đơn vị diện tích trên cơ sở các giải pháp kỹ thuật tạo rừng, nuôi dưỡng, khai thác, thương mại dần dần trở thành các môn khoa học được nghiên cứu áp dụng. Suốt thế kỷ XIX và gần hết thế kỷ XX, khoa học quản lý rừng luôn nhằm mục tiêu sản lượng ổn định, nghĩa là năm sau không ít hơn năm trước, từ đó các lý thuyết về điều chỉnh sản lượng theo diện tích, theo cấp đất để hàng năm có thu hoạch gỗ, thu nhập đồng đều đã được xây dựng, phát triển cho môn quản lý /quy hoạch rừng. Nửa cuối của thế kỷ XX, trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ, môi trường, con người chờ đợi ở rừng nhiều hơn nữa các khả năng cung ứng không chỉ về gỗ, lâm sản ngoài gỗ mà còn các chức năng bảo vệ môi trường, như phòng hộ nguồn nước, chống thiên tai, bảo tồn đa dạng sinh học, giáo dục thẩm mỹ, môi trường,. môn quản lý rừng đã giao thoa với nhiều môn khoa học khác và cũng do vậy đem nhiều tên khác nhau, như quản lý rừng, điều chế rừng, quy hoạch rừng, thiết kế kinh doanh rừng, kinh lý rừng, nhưng nội dung vẫn tương đồng.
Những năm cuối cùng của thế kỷ XX, khi con người thức tỉnh từ hậu quả hàng thế kỷ, phát triển nhanh bất chấp môi trường bị hủy hoại, nhất là tại nhiều nước đang phát triển vùng nhiệt đới. Từ sau hội nghị thượng đỉnh toàn cầu Rio de Janeiro 1992, hàng loạt hoạt động của thế giới về phát triển bền vững, sôi động và được sự hưởng ứng của khắp nơi trên lục địa, biểu thị bằng các công ước, các chương trình, trong đó có hoạt động quản lý rừng bền vững đang phát triển sâu rộng trên một nửa diện tích mặt đất có rừng và cũng là nội dung xem xét trong phạm vi bài này. Khái niệm Quản lý rừng bền vững (QLRBV) được hiểu là chủ rừng hoặc người quản lý rừng tổ chức các hoạt động của một khu rừng xác định luôn thu được lợi ích về gỗ, lâm sản và giá trị dịch vụ tối đa mà không làm thay đổi diện tích, trữ lượng và năng suất lâm sản trong đó và không làm ảnh hưởng tới lợi ích lâu dài của khu rừng. n 8 Tiến sỹ Helsinki (1995) định nghĩa như sau: “Quản lý rừng bền vững là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng, và duy trì tiềm năng của rừng trong việc thực hiện, hiện nay và trong tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của chúng, ở cấp địa phương, quốc gia và toàn cầu, và không gây ra những tác hại đối với các hệ sinh thái khác”.