CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT XI MĂNG 1. Xi măng porlang- Vật liệu cơ bản trong công nghiệp xây dựng Xi măng (XM) là một trong những cơ sở công nghiệp được hình thành và phát triển sớm nhất ở Việt Nam. Cái nôi đầu tiên của Ngành XM Việt Nam là nhà máy xi măng (NMXM) Hải Phòng, được khởi công xây dựng ngày 25/12/1899 với nhãn mác con Rồng Xanh, Rồng Đỏ đã có mặt tại Hội chợ triển lãm Liege (Pháp) năm 1904 và hàng vạn tấn XM Hải Phòng đã có mặt trên thị trường tiêu thụ ở các nước như vùng Viễn đông, Vladivostoc, Java (Indonesia), Hoa Nam (TQ), Singapore. Ngành công nghiệp sản xuất XM Việt Nam từ khi ra đời đến nay đã liên tục đổi mới và phát triển cả về quy mô đầu tư, trình độ công nghệ sản xuất (CNSX) và gắn liền với nhu cầu xây dựng, phát triển của đất nước.
Không chỉ phát triển về CNSX, việc nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật, tiết kiệm năng lượng, tài nguyên và bảo vệ môi trường cũng luôn được quan tâm, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hiện trạng của ngành công nghiệp xi măng Ngành công nghiệp XM những năm gần đây dưới sự tác động của khủng hoảng và suy thoái kinh tế thế giới không tránh khỏi có nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành. Ở Việt Nam, mặc dù bị ảnh hưởng tác động nhưng tiêu thụ XM của toàn xã hội vẫn tiếp tục tăng hàng năm với khối lượng lớn. Thị trường XM Việt Nam đang bước vào thời kỳ “cung vượt cầu”, cạnh tranh quyết liệt do nhiều dự án XM mới được hoàn thành và đi vào hoạt động, đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ trong nước và dư một phần để xuất khẩu.
Thị trường nhập khẩu chủ yếu là các nước Châu Phi và một số nước trong khu vực Châu Á như Lào, TQ, Bangladesh. Hướng tới xuất khẩu là biện pháp giải quyết khó khăn tạm thời cho doanh nghiệp trong bối cảnh lãi suất ngân hàng đứng ở mức cao, trong khi tiêu thụ tại thị trường nội địa lại 13 Luận văn thạc sỹ khoa học Phạm Thị Chung khá chậm. Năm 2011 cả ngành đã xuất khẩu được trên 5,5 triệu tấn sản phẩm XM (chủ yếu là clinker). Tổng sản lượng tiêu dùng XM toàn xã hội năm 2011 đạt gần 50 triệu tấn.
Với mô hình hoạt động công ty mẹ - công ty con, Tổng công ty Công nghiệp XM Việt Nam chiếm thị phần khá lớn trong tổng thị phần XM toàn xã hội, khoảng 35% thị phần, các công ty XM liên doanh cũng chiếm 31% thị phần.1: Tương quan thị phần XM năm 2011 so với 2010 [14] Hình 1.2: Tương quan tiêu thụ XM 3 miền năm 2011 [19] Bước vào năm 2012, tình hình kinh tế thế giới và các nước trong khu vực vẫn chưa có dấu hiệu thoát khỏi suy thoái, ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển kinh tế của nước ta. Hiệp hội XM Việt Nam ước tính, trong năm 2012, lượng XM tiêu thụ tại thị trường nội địa đạt từ 52 - 53 triệu tấn và lượng xuất khẩu vào khoảng 6 triệu tấn. Sáu tháng đầu năm 2012 sản xuất clinker đạt 25,50 triệu tấn; XM đạt khoảng 24,30 triệu tấn giảm gần 10% so với cùng kỳ năm 2011. Tiêu thụ nội địa 14 Luận văn thạc sỹ khoa học Phạm Thị Chung XM đạt khoảng 23,60 triệu tấn giảm gần 10% so với cùng kỳ năm 2011.
Sáu tháng đầu năm đã xuất khẩu được khoảng 3 triệu tấn clinker và 0,7 triệu tấn XM. Tuy nhiên xuất khẩu clinker, XM là một công việc kinh doanh rất khó khăn và mới mẻ đối với doanh nghiệp XM Việt Nam. Tình hình sản xuất tiêu thụ XM 6 tháng đầu năm và dự kiến 6 tháng cuối năm 2012 ĐVT: Triệu tấn Thời điểm Công suất Sản lượng Nhu cầu Xuất khẩu thiết kế Clinker XM nội địa(XM) Cuối tháng 6/2012 67,20 25,50 24,30 23,60 3,0 Clinker 0,7 XM Cả năm 2012 70,86 50 - 51 52 - 54 47 - 48 6,2 Clinker 1,5 XM 1. Quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 và định hướng đến năm 2030 [18] Trong bản phê duyệt quy hoạch phát triển công nghiệp XM Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 và định hướng đến năm 2030 đã xác định rõ mục tiêu ngành là đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng XM trong nước (cả về số lượng và chủng loại), có thể xuất khẩu khi có điều kiện, đưa ngành CNXM thành một ngành công nghiệp mạnh, có công nghệ hiện đại, đủ sức cạnh tranh trong nước và quốc tế trong tiến trình hội nhập.
Bên cạnh đó, quan điểm đề ra là công nghiệp XM phải sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái, di tích lịch sử văn hóa, cảnh quan và đảm bảo các an toàn về an ninh quốc phòng. Sử dụng công nghiệp tiên tiến, tự động hóa ở mức cao, lựa chọn thiết bị phù hợp nhằm đảm bảo sản xuất, sản phẩm đạt chất lượng cao, ổn định giá thành và sản phẩm đa dạng. Tiết kiệm tối đa tài nguyên, khoáng sản và năng lượng trong sản xuất XM. Đầu tư đồng bộ hệ thống thiết bị tận dụng nhiệt khí thải trong các NMXM để phát điện, cụ thể: 15 Luận văn thạc sỹ khoa học Phạm Thị Chung + Các dự án XM đầu tư mới (ký hợp đồng cung cấp thiết bị từ ngày Quyết định này có hiệu lực) có công suất lò nung từ 2.500 tấn clanhke/ngày trở lên, phải đầu tư ngay hệ thống thiết bị tận dụng nhiệt khí thải để phát điện, trừ các dây chuyền sản xuất XM sử dụng chất thải công nghiệp và rác thải làm nhiên liệu; đối với các NMXM đang hoạt động, các dự án XM đang triển khai đầu tư nhưng đã ký hợp đồng cung cấp thiết bị trước ngày Quyết định này có hiệu lực phải hoàn thành đầu tư hạng mục này trước năm 2015.
+ Đối với các NMXM có công suất dưới 2.500 tấn clinke/ngày, khuyến khích nghiên cứu đầu tư hệ thống thiết bị tận dụng nhiệt khí thải để phát điện. - Khuyến khích đầu tư CNSXXM gắn với việc xử lý và sử dụng chất thải công nghiệp và rác thải (kể cả rác thải y tế) làm nhiên liệu để tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường. - Đến cuối năm 2015 hoàn thành chuyển đổi CNSXXM từ LĐ sang LQ. Các NMXM phải bảo đảm các chỉ tiêu về chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường theo tiêu chuẩn quy định.
Nguyên liệu, nhiên liệu sản xuất xi măng 1. Nguyên liệu [11] Để sản xuất XM có chất lượng đảm bảo cần phải lựa chọn nguồn nguyên liệu, nhiên liệu sao cho có thể chế tạo được phối liệu có đủ 4 oxit chính là CaO, SiO 2 , Al 2 O 3 , Fe 2 O 3 và hạn chế đến mức thấp nhất các tạp chất có hại như MgO, K 2 O, Na 2 O và lưu huỳnh. Nguồn nguyên liệu chủ yếu để sản xuất XM là đá vôi (cung cấp CaO) và sét (cung cấp SiO 2 , Al 2 O 3 , Fe 2 O 3 ). Trong sản xuất XM thường sử dụng thêm các loại phụ gia quặng sắt, laterit hoặc xỷ pyrite để bổ sung Fe 2 O 3 , đất giầu silic hoặc cát mịn để bổ sung SiO 2 , boxit để bổ sung Al 2 O 3.
Đá vôi Đá vôi là loại đá canxit, tức là loại đá carbonat canxi (CaCO 3 ). Đá này thường lẫn các tạp khoáng dolomite – muối kép carbonat canxi và magnezi (MgO.(CO 2 ) 2 ), đá sét, đá silic và rất ít (≤ 0.5%) các quặng sắt, photphorit, kiềm và các muối clorua. 16 Luận văn thạc sỹ khoa học Phạm Thị Chung Đá vôi dùng làm nguyên liệu để sản xuất XM pooclăng phải thỏa mãn yêu cầu về hàm lượng % các chất theo bảng 1.2: Thành phần hóa học của đá vôi [12] MKN CaO MgO Al 2 O 3 Fe 2 O 3 SiO 2 R2O SO 3 P2O5 Cl- Tổng ≥ 42.1 100 Ngoài ra, còn có yêu cầu lựa chọn loại đá vôi kết tinh thô, xốp để tạo độ hoạt tính phân hủy carbonat của nó đạt được 100% trong khoảng nhiệt độ 820 – 950oC nhằm thực hiện tốt các phản ứng tạo khoáng trong quá trình nung luyện clinke. Thông thường, các nhà máy XM ở nước ta đều sử dụng đá vôi có hàm lượng CaCO 3 = 90 – 98% (CaO = 50 – 55%), MgO < 3% và ô xit kiềm không đáng kể.
Hầu hết nguồn đá vôi để sản xuất XM có chất lượng khá tốt. Tuy nhiên, có thể sử dụng đá vôi san hô hoặc vỏ sò ở một số nơi hiếm đá vôi, nhưng phải khai thác và để lâu ngày cho mưa rửa trôi hết muối NaCl. Đối với đá vôi có lẫn khoáng sét xen kẹp đều đặn như đá vôi các mỏ Văn Xá, Long Thọ (Huế) thì yêu cầu về hàm lượng CaO có thấp hơn, nhưng giá trị trung bình hàm lượng CaO của toàn mỏ không được thấp hơn 49% và hàm lượng MgO ≤ 2. Đá/Đất sét Đất hoặc đá sét dùng để sản xuất XM cũng phải thỏa mãn yêu cầu kỹ thuật riêng của nó về chất lượng và trữ lượng.
Hỗn hợp sét dùng làm nguyên liệu để sản xuất XM pooclăng phải có hàm lượng các oxit trong khoảng sau: SiO 2 = 55-70%, Al 2 O 3 = 10-24%, K 2 O + Na 2 O ≤ 3% (Theo TCVN 6071:1996 ) Ở nước ta, hầu hết các nhà máy XM đều sử dụng đất sét đồi có hàm lượng: SiO 2 = 58 - 66%, Al 2 O 3 = 14-20%, Fe 2 O 3 = 5-10%, K 2 O + Na 2 O = 2-2. Ngoài ra ở một số nơi có thể dùng sét ruộng hoặc sét phù sa. Những loại sét này thường có hàm lượng SiO 2 thấp hơn, Al 2 O 3 và kiềm cao hơn sét thường dùng, nên cần có nguồn phụ gia cao silic để bổ sung SiO 2. Việc này trở nên khó hơn khi cần sản xuất XM yêu cầu hàm lượng kiềm thấp.
17 Luận văn thạc sỹ khoa học Phạm Thị Chung Để xác định bổ sung nguồn phụ gia cao silic hay cao nhôm thường dùng modun silicat: SiO 2 (%) n = Al 2 O 3+ Fe 2 O 3(%) Khi đánh giá chất lượng của toàn mỏ sét người ta chọn trị số trung bình n= 3±0.7 thì phải tìm kiếm thêm nguồn sét cao silic (78-90%) hoặc nguồn cát mịn để pha chế điều chỉnh. Ngược lại, nếu n của mỏ > 3.3 thì phải cần tìm nguồn sét cao nhôm (Al 2 O 3 ≥ 23%) hoặc quặng sắt boxit để điều chỉnh hệ số modun này. Phụ gia điều chỉnh [12] Tùy thuộc vào mục tiêu điều chỉnh, người ta sử dụng các loại phụ gia khác nhau.