Đảng Lãnh Đạo Thực Hiện Tiến Bộ và Công Bằng Xã Hội Trong Lĩnh Vực Y Tế Từ Năm 1996 Đến Năm 2006

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đảng lãnh đạo thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong lĩnh vực y tế từ năm 1996 đến năm 2006, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2012

152
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Tiến Bộ và Công Bằng Y Tế Việt Nam 1996 2006

Tiến bộ và công bằng xã hội là mục tiêu chiến lược của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn xây dựng đất nước thời kỳ đổi mới cho thấy, thực hiện các vấn đề xã hội, đặc biệt là mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội, có ý nghĩa quan trọng, thể hiện bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Đại hội VI (1986) của Đảng đã coi “những mục tiêu xã hội là mục đích của các hoạt động kinh tế”. Trên cơ sở quan điểm đó, Đại hội VII (1991), Đại hội VIII (1996), Đại hội IX (2001) và Đại hội X (2006) của Đảng đã nêu lên các chủ trương, giải pháp thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong các vấn đề xã hội cụ thể, bao gồm cả lĩnh vực y tế. Giai đoạn 1996-2006 là giai đoạn quan trọng, đánh dấu nhiều thay đổi và tiến bộ trong lĩnh vực y tế công cộng của Việt Nam.

1.1. Khái niệm cốt lõi Tiến bộ và Công bằng Xã hội là gì

Tiến bộ xã hội phản ánh sự vận động từ thấp đến cao của xã hội, từ đơn giản đến phức tạp. Đó là sự vận động của xã hội loài người từ hình thái kinh tế - xã hội này lên hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn, hoàn thiện hơn, cả về cơ sở hạ tầng kinh tế lẫn kiến trúc thượng tầng. Công bằng là phạm trù đạo đức và pháp luật dùng để đánh giá những quan hệ và hành động xã hội với quan niệm là mọi người đều bình đẳng. Hai khái niệm này có mối liên hệ mật thiết và là kim chỉ nam cho phát triển chính sách y tế Việt Nam.

1.2. Thực trạng Y tế Việt Nam trước 1996 Bối cảnh và Thách thức

Trước năm 1996, hệ thống y tế Việt Nam còn nhiều hạn chế, đặc biệt trong việc đảm bảo tiếp cận dịch vụ y tế cho người dân ở vùng sâu, vùng xa. Cơ sở hạ tầng còn yếu kém, nguồn nhân lực y tế còn thiếu và trình độ chưa cao. Bất bình đẳng y tế giữa các vùng miền và các nhóm dân cư là một vấn đề nhức nhối. Các chính sách y tế chưa thực sự hiệu quả trong việc giảm thiểu tỷ lệ tử vong trẻ em và nâng cao tuổi thọ trung bình.

II. Cách Đảng Lãnh Đạo Tiến Bộ Y Tế 1996 2001 Chủ Trương

Từ năm 1996 đến năm 2001, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra nhiều chủ trương quan trọng nhằm thúc đẩy tiến bộ và công bằng xã hội trong lĩnh vực y tế. Quan điểm chung của Đại hội VIII là “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển”. Chủ trương và giải pháp của Đại hội VIII về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong lĩnh vực y tế là “tiếp tục củng cố hệ thống y tế nhà nước; mở rộng, đa dạng hóa, nâng cao chất lượng, hiệu quả các dịch vụ chăm sóc sức khỏe…”.

2.1. Chủ trương Đổi mới Hệ thống Y tế Quốc gia 1996 2001

Chủ trương của Đảng tập trung vào việc củng cố hệ thống y tế nhà nước, mở rộng và đa dạng hóa các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Đồng thời, nhấn mạnh việc nâng cao chất lượng và hiệu quả của các dịch vụ này. Mục tiêu là đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và đa dạng của nhân dân, đặc biệt chú trọng đến y tế cho người nghèo và các đối tượng chính sách.

2.2. Chỉ đạo Thực hiện Đầu tư và Triển khai Chính sách Y tế

Quá trình chỉ đạo thực hiện bao gồm việc tăng cường đầu tư vào y tế, đặc biệt là cơ sở hạ tầng và trang thiết bị. Triển khai các chính sách y tế, như chính sách bảo hiểm y tế, nhằm giảm gánh nặng chi phí khám chữa bệnh cho người dân. Đồng thời, chú trọng đến công tác đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực y tế để nâng cao trình độ chuyên môn.

2.3. Cải cách cơ chế quản lý và chính sách viện phí thời kỳ 1996 2001

Chủ trương giải pháp của Đại hội IX về thực hiện tiến bộ và công bằng trong lĩnh vực y tế là “Thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức 3 khỏe; đổi mới cơ chế và chính sách viện phí, có chính sách trợ cấp và bảo hiểm y tế cho người nghèo, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân”. Đây là tiền đề quan trọng cho việc mở rộng phạm vi bảo hiểm y tế và đảm bảo quyền lợi cho người dân, đặc biệt là những người có hoàn cảnh khó khăn.

III. Đẩy Mạnh Công Bằng Y Tế 2001 2006 Cơ Hội và Thách Thức

Từ năm 2001 đến năm 2006, Đảng tiếp tục đẩy mạnh thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong lĩnh vực y tế. Quan điểm chung của Đại hội IX là “Tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường”. Chủ trương giải pháp của Đại hội IX về thực hiện tiến bộ và công bằng trong lĩnh vực y tế là “Thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe; đổi mới cơ chế và chính sách viện phí, có chính sách trợ cấp và bảo hiểm y tế cho người nghèo, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân”.

3.1. Cơ hội và Thách thức mới trong Giai đoạn Hội nhập

Giai đoạn này, Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, mang lại nhiều cơ hội để phát triển ngành y tế. Tuy nhiên, cũng đặt ra không ít thách thức, như sự gia tăng của các bệnh không lây nhiễm, ô nhiễm môi trường và sự chênh lệch ngày càng lớn về tiếp cận dịch vụ y tế giữa các vùng miền.

3.2. Chính sách mới về BHYT và Ưu tiên Y tế Dự phòng 2001 2006

Chính sách bảo hiểm y tế tiếp tục được hoàn thiện và mở rộng, hướng tới mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân. Đồng thời, Đảng đặc biệt chú trọng đến y tế dự phòng, tăng cường công tác kiểm soát dịch bệnh và nâng cao sức khỏe cộng đồng.

3.3. Tác động của đổi mới đến lĩnh vực y tế giai đoạn 2001 2006

Chủ trương và giải pháp thực hiện quan điểm trên trong lĩnh vực y tế của Đảng là “Đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế theo hướng công bằng, hiệu quả và phát triển; tạo cơ hội cho mọi người được bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe. Xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam” [ 37 , tr . Y tế là lĩnh vực xã hội rộng lớn, có bản chất nhân đạo, liên hệ với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

IV. Thành Tựu và Hạn Chế của Y Tế Việt Nam Giai Đoạn 1996 2006

Giai đoạn 1996-2006 chứng kiến những thành tựu đáng kể trong lĩnh vực y tế của Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế cần khắc phục. Nhận xét chung là việc chỉ đạo thực hiện của Đảng về tiến bộ và công bằng xã hội trong lĩnh vực y tế đã đạt được một số thành quả quan trọng. Về những hạn chế, vẫn còn những tồn tại cần phải giải quyết.

4.1. Các Thành tựu Nổi bật Giảm Tỷ lệ Tử vong và Tăng Tuổi thọ

Một trong những thành tựu nổi bật là việc giảm đáng kể tỷ lệ tử vong trẻ em và tăng tuổi thọ trung bình của người dân. Các chương trình y tế quốc gia, như chương trình tiêm chủng mở rộng, đã đạt được những kết quả ấn tượng. Chất lượng dịch vụ y tế cũng được nâng cao nhờ đầu tư vào cơ sở vật chất và đào tạo nhân lực.

4.2. Những Hạn Chế Cần Khắc Phục Bất Bình Đẳng và Thiếu Nguồn Lực

Mặc dù đã có nhiều tiến bộ, bất bình đẳng y tế vẫn còn là một vấn đề đáng lo ngại. Người dân ở vùng sâu, vùng xa và các nhóm dân cư nghèo vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ y tế. Nguồn lực tài chính cho ngành y tế còn hạn chế, gây khó khăn cho việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng và nâng cao chất lượng dịch vụ.

V. Kinh Nghiệm Lãnh Đạo và Khuyến Nghị cho Phát Triển Y Tế

Từ quá trình lãnh đạo thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong lĩnh vực y tế từ năm 1996 đến năm 2006, có thể rút ra một số kinh nghiệm quan trọng. Đồng thời, cần đưa ra một số khuyến nghị để nâng cao hiệu quả của công tác này trong giai đoạn tiếp theo.

5.1. Bài học về xây dựng và thực hiện chính sách công bằng

Cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách y tế, đặc biệt là chính sách bảo hiểm y tế, để đảm bảo quyền lợi cho mọi người dân. Đồng thời, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để đảm bảo chính sách được thực hiện một cách hiệu quả. Cần đảm bảo chính sách y tế dự phòng tiếp tục được ưu tiên để giảm thiểu gánh nặng bệnh tật và nâng cao sức khỏe cộng đồng.

5.2. Gợi ý cho y tế Việt Nam trong bối cảnh mới

Tăng cường đầu tư vào y tế, đặc biệt là cơ sở hạ tầng và trang thiết bị ở vùng sâu, vùng xa. Tiếp tục đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực y tế để nâng cao trình độ chuyên môn. Phát huy vai trò của y học cổ truyền trong việc chăm sóc sức khỏe nhân dân.Tăng cường hợp tác quốc tế để tiếp thu kinh nghiệm và công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực y tế.

5.3. Củng cố hệ thống y tế công cộng Việt Nam

Cần đặc biệt chú trọng đến phát triển hệ thống y tế cơ sở, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa. Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa công tác y tế, huy động các nguồn lực xã hội để chăm sóc sức khỏe nhân dân. Tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khỏe, nâng cao nhận thức của người dân về phòng bệnh và chăm sóc sức khỏe.

28/05/2025
Luận văn thạc sĩ đảng lãnh đạo thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong lĩnh vực y tế từ năm 1996 đến năm 2006

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN TIẾN BỘ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG LĨNH VỰC Y TẾ TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2001 1. Sơ lược về thực trạng tiến bộ và công bằng xã hội trong lĩnh vực y tế trước năm 1996 1. Khái niệm chung về tiến bộ và công bằng xã hội 1. Tiến bộ xã hội Lịch sử thế giới cho thấy, sự vận động của xã hội diễn ra với những bước tiến, bước lùi, những quá trình cách mạng và phản cách mạng, hưng thịnh và suy vong… Song, xét tổng thể, xu hướng chung của xã hội là tiến bộ.

Mỗi hình thái kinh tế - xã hội là một nấc thang tiến bộ xã hội. Hình thái kinh tế - xã hội cao hơn đã kế thừa những giá trị vật chất và tinh thần của hình thái kinh tế - xã hội trước đó. Biện chứng của xã hội còn cho thấy tính không đồng đều của tiến bộ xã hội. Các yếu tố, các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội có liên hệ mật thiết với nhau, đồng thời có tính độc lập tương đối với nhau.

Sự phát triển của chúng vừa tuân theo quy luật chung, vừa tuân theo quy luật đặc thù. Để hiểu biết sự phát triển xã hội, chủ nghĩa Mác hướng về chính con người, chủ thể trực tiếp của hoạt động riêng biệt của chính mình. Hoạt động của con người không phải là trừu tượng, phiến diện của một cá nhân riêng rẽ mà là hoạt động thực tiễn gồm ba dạng: thực tiễn sản xuất vật chất, thực tiễn cải tạo xã hội và thực tiễn thực nghiệm khoa học. Hạt nhân của hoạt động thực tiễn là sự phát triển của lực lượng sản xuất với tư cách là tiêu chuẩn cao nhất của tiến bộ xã hội.

Lực lượng sản xuất nằm trong mối liên hệ với quan hệ sản xuất. Vì vậy, 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2006 nói đúng hơn, hạt nhân của sự tiến bộ xã hội là phương thức sản xuất. Tiêu chuẩn này đem lại quan điểm lịch sử toàn thế giới là một quá trình thống nhất, trong đó những hình thái kinh tế - xã hội khác nhau tồn tại và thay thế nhau theo nguyên tắc xã hội mới trội hơn xã hội trước về chất, theo những chỉ số cơ bản về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa. Sự ra đời, phát triển của chủ nghĩa xã hội là một kiểu khác về nguyên tắc.

Chủ nghĩa xã hội là khởi đầu của kỷ nguyên mà tiến bộ xã hội được thực hiện một cách toàn diện. Sự phát triển xã hội là kết quả sáng tạo lịch sử của quần chúng nhân dân. Ý nghĩa của sự sáng tạo ấy là thực hiện đầy đủ nguyên tắc công bằng xã hội đi đôi với trình độ cao của phúc lợi xã hội. Như vậy, tiến bộ xã hội là một khái niệm phản ánh sự vận động của xã hội từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, là sự vận động của xã hội loài người từ hình thái kinh tế - xã hội này lên hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn, hoàn thiện hơn, cả về cơ sở hạ tầng kinh tế lẫn kiến trúc thượng tầng về pháp lý, chính trị và hình thái ý thức xã hội.

Lịch sử loài người nói chung bao giờ cũng vận động theo hướng tiến bộ mà mỗi hình thái kinh tế - xã hội là một nấc thang của tiến bộ xã hội. Tiến bộ xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam có những tiêu chí sau: - Lực lượng sản xuất phát triển với hàm lượng khoa học ngày càng cao và với quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; kinh tế tăng trưởng nhanh, có chất lượng cao và bền vững. - Quyền làm chủ của nhân dân đối với mọi mặt của đời sống xã hội được bảo đảm; nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân trong sạch, vững mạnh. Dân chủ được phát huy, kỷ luật, kỷ cương được tôn trọng.

11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2006 - Văn hóa, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ được mở mang, trình độ dân trí phát triển, quan hệ giữa con người với con người lành mạnh, những thói hư, tật xấu và tệ nạn xã hội được đẩy lùi. Đây là thước đo trí tuệ và đạo đức của tiến bộ xã hội. - Môi trường sinh thái được bảo vệ và cải thiện. - Con người có điều kiện từng bước phát triển về thể chất, trí tuệ, đạo đức, nghề nghiệp; có cuộc sống ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc; được cống hiến và hưởng thụ công bằng thành quả của sự phát triển.

Một xã hội vận động theo hướng đi lên chủ nghĩa xã hội phải là một xã hội ngày càng giàu có về của cải vật chất, đem lại cho con người cuộc sống ngày càng đầy đủ, sung túc hơn. Cái đích hướng tới của tiến bộ xã hội phải là con người, là sự phát triển toàn diện của con người. Tiến bộ trong lĩnh vực y tế có các tiêu chí: Một là, cung cấp và sử dụng nguồn lực y tế. Cụ thể là có nguồn lực tài chính giúp ngành y tế phát triển bền vững.

Hai là, nguồn nhân lực và thiết bị y tế. Cụ thể là phải có số lượng, chất lượng cán bộ và thiết bị y tế phù hợp đáp ứng được nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Ba là, hệ thống y tế dự phòng được phát triển về mặt tổ chức và trang thiết bị. Bốn là, hệ thống y học cổ truyền được củng cố và phát triển.

Như vậy, các tiêu chí tiến bộ xã hội là cơ sở, điều kiện cơ bản cho sự tiến bộ xã hội trong lĩnh vực y tế. Sự tiến bộ trong lĩnh vực y tế là cơ sở để thực hiện công bằng trong lĩnh vực y tế. Công bằng xã hội 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2006 Công bằng là phạm trù đạo đức và pháp luật dùng để đánh giá những quan hệ và hành động xã hội với quan niệm là mọi người đều bình đẳng [58, tr. Công bằng có vai trò rất quan trọng trong ý thức quần chúng.

Nội dung của công bằng không có tính chất chung chung, không bất di bất dịch, mà có tính chất lịch sử - xã hội – nghĩa là nó luôn thay đổi cùng với sự thay đổi của sự phát triển lịch sử, nó phản ánh hoàn cảnh kinh tế, xã hội và chính trị của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định vào sự đánh giá về mặt đạo đức và pháp luật của từng giai cấp theo quyền lợi của mình. Khái niệm công bằng liên hệ mật thiết với khái niệm bình đẳng. Bình đẳng là khái niệm chỉ quan hệ như nhau của con người đối với tư liệu sản xuất, đối với quyền và nghĩa vụ công dân – bình đẳng trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa của đời sống xã hội [58, tr. Các giai cấp khác nhau trong xã hội có quan niệm khác nhau về bình đẳng.

Theo quan điểm của các nhà kinh điển Mác – Lênin, dưới chủ nghĩa xã hội, công bằng xã hội là sự ngang nhau giữa người với người trong xã hội chủ yếu về phương diện phân phối sản phẩm xã hội theo nguyên tắc: cống hiến lao động ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau. Khi đề cập tới nguyên tắc phân phối dưới chủ nghĩa xã hội, chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội là công bằng hợp lý: Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng. Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được nhà nước giúp đỡ, chăm nom” [52, tr. Như vậy, vào thời của mình, các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học và chủ tịch Hồ Chí Minh chủ yếu nói về công bằng xã hội thể hiện tập trung ở chế độ phân phối theo lao động dưới chủ nghĩa xã hội.

Còn chế độ phân phối trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội – tức là thời kỳ nằm ở nấc thang phát 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2006 triển thấp hơn so với thời kỳ chủ nghĩa xã hội – thì các ông chưa có đủ điều kiện bàn tới. Đây chính là điều Đảng ta từng bước bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng những kết luận mới rút ra từ thực tiễn sinh động của quá trình đổi mới toàn diện đất nước. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X chỉ rõ: “Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội” [37, tr. Ngày nay, công bằng xã hội được hiểu không chỉ giới hạn ở công bằng về kinh tế - mặc dù đây là yếu tố nền tảng – mà còn là công bằng trong lĩnh vực chính trị, pháp lý, văn hóa, xã hội… Công bằng xã hội là một giá trị cơ bản định hướng cho việc giải quyết mối quan hệ giữa người với người trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội theo nguyên tắc: Cống hiến về vật chất và tinh thần ngang nhau cho sự phát triển xã hội thì được hưởng ngang nhau những giá trị vật chất và tinh thần do xã hội tạo ra, phù hợp với khả năng hiện thực của đất nước [28, tr.

Song, vì hoàn cảnh cụ thể của mỗi người khác nhau, cho nên việc tạo điều kiện cho mọi người nhất là những người trong hoàn cảnh khó khăn, đều có cơ hội tiếp cận công bằng các cơ hội, phát triển, các nguồn lực phát triển, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản về giáo dục, y tế, việc làm, thông tin… mang tính an sinh xã hội luôn giữ một vai trò quan trọng trong thực hiện công bằng xã hội ở nước ta hiện nay. Để thực hiện công bằng trong lĩnh vực y tế, điều quan trọng là tạo điều kiện cho nhân dân tiếp cận, sử dụng các dịch vụ y tế cơ bản của các tuyến và coi đó là quyền của một người dân như Hiến pháp năm 1992 đã ghi nhận. Khi xác định đó là quyền của người dân thì các cấp ủy Đảng, các cấp chính quyền và nhân dân phải nỗ lực phấn đấu cao để đạt hiệu quả. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2006 Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vấn đề công bằng trong lĩnh vực y tế không có nghĩa là ngang bằng mà công bằng có nghĩa là ai có nhu cầu nhiều hơn thì được chăm sóc nhiều hơn, còn ngang bằng có nghĩa là mọi người có nhu cầu ít hay nhiều đều được chăm sóc như nhau.

Ở đây, nhu cầu khác với sức mua.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ