CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Nam 1. Vị trí địa lý Hà Nam là một tỉnh nằm ở trung tâm Đồng bằng Châu thổ sông Hồng, được bao quanh bởi TP. Hà Nội ở phía Bắc và Tây Bắc; tỉnh Hòa Bình ở phía Tây; tỉnh Nam Định ở phía Nam; tỉnh Ninh Bình ở phía Nam - Tây Nam; và tỉnh Thái Bình, tỉnh Hưng Yên ở phía Đông, có tọa độ địa lý nằm trong khoảng: 105o45’00” đến 106o10’00” Kinh độ Đông 20o20’00” đến 20o45’00” Vĩ độ Bắc Hà Nam có 01 thành phố là Phủ Lý và 5 huyện, bao gồm: Duy Tiên, Lý Nhân, Bình Lục, Thanh Liêm và Kim Bảng.
Trong đó, có 116 đơn vị hành chính cấp xã, gồm có 7 thị trấn, 11 phường và 98 xã. Trên địa bàn tỉnh có nhiều tuyến giao thông quan trọng chạy qua. Về đường bộ, đường sắt có các tuyến giao thông huyết mạch nối thủ đô Hà Nội với các tỉnh phía Nam như trục đường Quốc lộ 1A, đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình [13]. Địa hình Hà Nam có diện tích tự nhiên là 86.
Địa hình Hà Nam có sự tương phản rõ ràng, bao gồm: dạng địa hình núi đá vôi vách đứng, dạng địa hình đồng bằng và dạng đồi thấp xâm thực, đỉnh tròn nằm xen kẽ tại vùng chuyển tiếp hai dạng địa hình trên. -Dạng địa hình núi đá vôi: phân bố chủ yếu ở phía Tây và Tây Nam tỉnh Hà Nam, trên địa bàn 2 huyện Thanh Liêm và Kim Bảng với độ cao tuyệt đối lớn nhất khoảng +419m và mức địa hình cơ sở địa phương dao động từ +10m đến +14m. Các núi đá vôi tập trung thành dải, bị phân cắt mạnh, sườn dốc đứng, nhiều đỉnh nhọn. Đây là vùng có nhiều tiềm năng để phát triển công nghiệp đặc biệt là khai thác đá và sản xuất vật liệu xây dựng.
-Địa hình đồng bằng: phân bố trên một diện tích rộng ở các huyện Duy Tiên, Bình Lục, Lý Nhân, thành phố Phủ Lý và một phần thuộc các huyện Kim Bảng, Thanh Liêm. Bề mặt địa hình khá bằng phẳng, nhưng do hình thành giữa các sông, cao độ các khu vực trong dạng địa hình này không đồng nhất. Cụ thể, đồng bằng Duy 5 (LUAN.nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam Tiên, Kim Bảng có cao độ trung bình +3 đến +4m; Lý Nhân +2m đến+3m; đồng bằng phía Đông huyện Thanh Liêm, Bình Lục +1m đến +3m; nơi thấp nhất là cánh đồng xã An Lão huyện Bình Lục, cao độ chỉ đạt 1m. Bề mặt địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi khá dày đặc, thuận lợi cho canh tác nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản…, nhưng nhạy cảm với lũ lụt, ngập úng về mùa mưa và nhạy cảm với chất thải từ hoạt động công nghiệp, khai khoáng.
- Địa hình đồi thấp: bao gồm các đồi xâm thực, xói mòn, dạng bát úp nằm xen kẽ hoặc ven rìa địa hình núi đá vôi; phân bố thành một dải (tại khu vực các xã Thanh Lưu, xã Liêm Sơn) hoặc đứng độc lập (tại các xã Thanh Bình, Thanh Lưu, Đọi Sơn). Đây là vùng thuận lợi cho phát triển các cây công nghiệp [13]. Bản đồ địa hình tỉnh Hà Nam [13] Địa hình đa dạng, thuận lợi để phát triển các ngành công nghiệp, khai khoáng, nông nghiệp, lâm nghiệp. Tuy nhiên, do có địa hình ô trũng ở giữa các sông và bề mặt địa hình bị chia cắt mạnh bởi hệ thống các dòng chảy, nên vấn đề lũ lụt, ngập úng và nhạy cảm với ô nhiễm được tạo ra từ những nguồn thải trong và ngoài tỉnh là những 6 (LUAN.nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam yếu tố bất lợi làm gia tăng mức độ các áp lực của các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh lên các thành phần môi trường.
Thời tiết, khí hậu Hà Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều thuộc tiểu khí hậu vùng đồng bằng Bắc Bộ chịu ảnh hưởng sâu sắc của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam, đặc điểm nổi bật nhất là sự tương phản giữa mùa Đông và mùa Hè. Theo số liệu điều tra do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nam cung cấp các số liệu liên quan đến hạn hán và lũ lụt từ năm 2011-2014 như sau: Năm 2015 tình hình hạn hán vụ Đông Xuân tiếp tục xảy ra, mực nước trên các sông xuống rất thấp. Tình hình lũ lụt năm 2016 xuất hiện 02 đợt lũ, Mực nước đỉnh lũ tại Phủ Lý có ở mức xấp xỉ báo động II (3,5m), cao hơn đỉnh lũ năm 2015 (3,0 m). Mực nước đỉnh lũ năm trên sông Hồng tại Yên Lệnh xấp xỉ báo động I [13].
- Lượng mưa Lượng mưa trung bình từ năm 2012 đến năm 2016 biến động khá lớn, thấp nhất vào năm 2015 là 1.246 mm cao nhất vào năm 2016 là 1. Lượng mưa trung bình trong những năm gần đây khoảng 1.732 mm/năm, chia hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 chiếm khoảng 80% lượng mưa cả năm, tập trung các tháng 5, 6, 7, 8, 9, 10. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau [14].
- Độ ẩm Nhìn chung độ ẩm không khí trung bình hàng năm khu vực Hà Nam tương đối lớn, dao động từ 81,8– 84%. Diễn biến độ ẩm phụ thuộc vào lượng mưa nên trong một năm thường có hai thời kỳ, một thời kỳ độ ẩm cao và một thời kỳ độ ẩm thấp [14]. - Nhiệt độ Nhiệt độ trung bình các năm gần đây chênh lệch nhau tương đối lớn, dao động trong khoảng 24 -25 0C, các tháng nóng nhất trong năm là tháng 6, 7, 8, 9, tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất trong năm thường là tháng 1, 2, 12 [14]. - Nắng và bức xạ : Tổng số giờ nắng trong năm tại Hà Nam thấp nhất năm 2013 là 1004,8 giờ và cao nhất trong năm 2015 là 1.482 giờ nắng, mùa hè chiếm khoảng 82% số giờ nắng cả năm, các tháng có giờ nắng cao là tháng 5, 6, 7, 8, 9,11.nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam Bức xạ mặt trời là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chế độ nhiệt trong vùng, ảnh hưởng đến quá trình phát tán cũng như biến đổi các chất ô nhiễm.
Tầng bức xạ trung bình hàng ngày ở Hà Nam là 100-120 kcal/cm2. Các tháng có bức xạ cao nhất là các tháng mùa hè (tháng 6, tháng 8 và tháng 9) và thấp nhất là các tháng mùa Đông [14]. - Đặc điểm Thủy văn Chảy qua tỉnh Hà Nam có các sông lớn như sông Hồng, sông Đáy, sông Châu và các sông đào đắp như sông Nhuệ, sông Sắt, sông Nông Giang, v.v… + Hệ thống các sông chính: Sông Hồng chảy dọc ranh giới phía Đông, Đông Bắc tỉnh Hà Nam với chiều dài khoảng 38,6 km, rộng trung bình từ 500 - 600 m, đáy sông sâu từ (-6,0 m) đến (-8,0 m) cá biệt tới (-15 m). Hàm lượng phù sa, bùn cát lắng đọng ở lòng sông rất lớn nhưng luôn được di chuyển bồi hoàn do hoạt động vận chuyển bồi lắng không ngừng của dòng chảy.
Sông Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nam với chiều dài khoảng 47,6 km, có chiều rộng khoảng 150 - 250 m, chảy qua thành phố Phủ Lý và các huyện Kim Bảng, Thanh Liêm; đáy sâu trung bình từ (-3,0 m) đến (-5,0 m), cá biệt có đoạn sâu tới (-9,0 m). Tại Phủ Lý lưu lượng nước Sông Đáy vào mùa khô khoảng 105m3/s và mùa mưa khoảng 400 m3/s. Sông Nhuệ là sông đào dẫn nước sông Hồng từ xã Thụy Phương huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội và đi vào Hà Nam với chiều dài đoạn qua Hà Nam là 16 km gặp sông Đáy và sông Châu ngay tại Phủ Lý. Sông Nhuệ là trục tưới tiêu chính của hệ thống thuỷ lợi thành phố Hà Nội có lưu lượng phụ thuộc vào chế độ đóng mở cống Liên Mạc.
Là sông tiêu thuỷ lợi, thoát của Hà Nội qua một số khu vực làng nghề Hà Nội, vì thế nguồn nước của sông bị nhiễm bẩn. Vào mùa nước kiệt, chiều sâu nước ở một số đoạn chỉ còn - 0,6m đến - 0,8m. Sông Châu bắt nguồn từ Tắc Giang, Duy Tiên nhận hợp lưu của sông Nông Giang đến An Mông chia thành hai nhánh, một nhánh làm ranh giới giữa huyện Lý Nhân và Bình Lục nhánh này chảy ra trạm bơm tưới tiêu Hữu Bị rồi ra sông Hồng và một nhánh làm ranh giới giữa huyện Duy Tiên và Bình Lục nhánh này ra sông Đáy tại thành phố Phủ Lý.nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam Châu có chiều dài khoảng 58,6 km. Mực nước trung bình năm là + 2,18 m; Mực nước cao nhất là + 4,00 m [14].
+ Hệ thống sông nhỏ và mạng lưới các ao, hồ, đầm: Sông Nông Giang ở phía bắc huyện Duy Tiên (ranh giới với huyện Phú Xuyên của Hà Nội) dài chừng 12,5 km. Sông Biên Hoà nằm trên lãnh thổ huyện Bình Lục và huyện Thanh Liêm dài khoảng 15,5 km. Sông Ninh (Ninh Giang): Sông Ninh khởi nguồn từ bờ hữu sông Châu, tại địa phận thôn Thanh Trực, xã An Ninh, huyện Bình Lục. Sông Ninh có chiều dài 29,5 km.
Sông đi ra khỏi huyện Bình Lục ở địa phận thôn Lan, xã An Lão đi vào huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Sông Sắt: Là một chi lưu của Sông Châu khởi nguồn ở bờ hữu gần cầu An Bài, xã Đồng Du, huyện Bình Lục. Sông Sắt dài 9,75 km, đổ nước vào sông Ninh ở cửa sông gần thôn Giải Động, xã An Đổ đối diện bên kia sông là xã Trung Lương [13]. Những sông này tạo nên mạng lưới dòng chảy phong phú góp phần tiêu nước và cấp nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của cư dân.
Mạng lưới ao, hồ, đầm là một bộ phận trong hệ thống thủy văn, chúng chiếm khoảng 7,6% diện tích tự nhiên của tỉnh, chúng lưu giữ một khối lượng nước khá lớn đáp ứng những nhu cầu đa dạng của con người trong sản xuất và đời sống. Các ao, hồ nhỏ được hình thành trong quá trình đắp đê làm bối, vượt đất làm nền làm công trình giao thông, kênh mương, cầu cống. Do đặc điểm địa hình đồng bằng Hà Nam thấp với mức phổ biến từ 1,5 – 5 m, cho nên để có được nền đất cao cho các công trình hầu hết phải vượt đất tôn nền và hình thành nên những ao, hồ [13]. Tài nguyên thiên nhiên 1.
Tài nguyên đất đai Tài nguyên đất đai với địa hình đa dạng là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế của tỉnh Hà Nam. Hà Nam có diện tích tự nhiên 851 km2 nằm trong vùng trũng của đồng bằng sông Hồng và giáp với vùng núi của tỉnh Hòa Bình và vùng Tây Bắc.