CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TỪ CHUYỂN NHƯỢNG BẤT ĐỘNG SẢN 1. CƠ SỞ CHO VIỆC THỰC HIỆN THUẾ ĐỐI VỚI THU NHẬP CÁ NHÂN TỪ CHUYỂN NHƯỢNG BẤT ĐỘNG SẢN 1. Khái niệm bất động sản và thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản 1.
Bất động sản Căn cứ vào đặc tính di dời của tài sản, tài sản được chia làm hai loại: động sản và bất động sản. Đây là hai loại tài sản có những đặc điểm khác nhau nên các quan hệ xã hội có liên quan đến chúng cần phải được điều chỉnh bởi các quy định pháp luật riêng biệt, phù hợp. Ở các nước như Anh, Thái lan, Malaysia…, chế định bất động sản được quy định trong một văn bản pháp luật riêng với tên gọi là Luật bất động sản.2 Bất động sản là một loại tài sản đặc thù, có những đặc điểm quan trọng mang tính khác biệt so với các loại tài sản khác. Cụ thể như: - Bất động sản có tính cố định về vị trí.
- Bất động sản thường là những tài sản có giá trị lớn, có vai trò đặc biệt quan trọng như nhà ở, cơ sở hạ tầng, các hệ sinh thái… - Mỗi bất động sản là tài sản cá biệt. Ví dụ như các lô đất có thể giống nhau về hình thể, diện tích, mục đích sử dụng nhưng không giống hệt nhau ở tất cả các yếu tố, trước hết là vị trí của chúng. - Bất động sản có vị trí gần nhau hoặc trong một khu vực có sự tương tác về mặt giá trị. Ví dụ việc xây dựng siêu thị, bến xe có thể làm tăng giá các bất động sản lân cận.
Việc phân loại tài sản theo đặc tính di dời có nguồn gốc từ Bộ luật 12 bảng La Mã năm 452 trước Công nguyên và được tiếp tục kế thừa trong pháp luật các nước cho đến ngày nay, theo đó bất động sản không chỉ là đất đai, của cải trong lòng đất 2 Phạm Công Lạc (2000), “Quan niệm về bất động sản và động sản trong Luật Dân sự một số nước”, Tạp chí Luật học, (số 4/2000), trang 36 [15]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 11 - mà còn là tất cả những gì được tạo ra do sức lao động của con người trên mảnh đất. Tuy nhiên, mỗi nước lại có quan niệm khác nhau về những tài sản “gắn liền” với đất đai được coi là bất động sản. Điều 520 Luật Dân sự Pháp quy định “mùa màng chưa gặt, trái cây chưa bứt khỏi cây là bất động sản, nếu đã bứt khỏi cây được coi là động sản”.
Trong khi đó, Điều 100 Luật Dân sự Thái Lan quy định: “bất động sản là đất đai và những vật gắn liền với đất đai, bao gồm cả những quyền gắn với việc sở hữu đất đai”. Như vậy, tài sản gắn liền với đất có thể được liệt kê cụ thể hoặc không giải thích rõ về khái niệm này và dẫn tới các cách hiểu khác nhau về những tài sản “gắn liền với đất đai”. Điều 130 của Bộ Luật Dân sự Nga năm 1994 đã có bước đột phá khi một mặt, liệt kê tương tự các Luật Dân sự truyền thống; mặt khác, đưa ra khái niệm chung về bất động sản là “những đối tượng mà dịch chuyển sẽ làm tổn hại đến giá trị của chúng”. Ngoài ra, Luật này còn liệt kê những vật không liên quan gì đến đất đai như “tàu biển, máy bay, phương tiện vũ trụ…” cũng được xem là bất động sản.
Quan niệm về bất động sản của Việt Nam được quy định tại điều 174, Bộ luật Dân sự 2005. Theo đó bất động sản và động sản được xác định như sau: “Bất động sản là các tài sản bao gồm: a) Đất đai; b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; c) Các tài sản khác gắn liền với đất đai; d) Các tài sản khác do pháp luật quy định. Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.” Như vậy, theo Bộ luật Dân sự, bất động sản không chỉ được xác định căn cứ vào đặc tính không di dời mà nó còn bao gồm cả những tài sản khác do pháp luật quy định mặc dù những tài sản này là có thể di dời như tàu thủy, máy bay. Những bất động sản thuộc loại thứ hai thực chất chỉ là những bất động sản mang tính quy LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 12 - ước dựa vào yếu tố giá trị của chúng.
Vì thế, dấu hiệu quan trọng nhất để xác định bất động sản là tính gắn liền với đất. Có thể nói, không có đất đai sẽ không có bất động sản. Do Bộ luật dân sự quy định không chặt chẽ về bất động sản, đặc biệt là “các tài sản khác” theo điểm c, d khoản 1 điều 174, thêm vào đó điều 163 Bộ luật dân sự quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” lại càng mở rộng phạm vi bất động sản là “các tài sản khác”, theo đó các quyền tài sản cũng có thể là bất động sản nếu pháp luật có quy định. Tuy nhiên, Thông tư 84/2008/TT-BTC3 lại thu hẹp phạm vi và xác định bằng cách liệt kê tài sản gắn liền với đất bao gồm: - Nhà ở; - Kết cấu hạ tầng và các công trình xây dựng gắn liền với đất; - Các tài sản khác gắn liền với đất bao gồm các tài sản là sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp (như cây trồng, vật nuôi).
Điều này dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau và khó khăn trong việc xác định tài sản là bất động sản trong các hợp đồng mua bán nhà dự án, hợp đồng góp vốn xây dựng của các hộ dân trong một số dự án chung cư… 1. Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản Luật không đưa ra khái niệm thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản mà chỉ liệt kê các khoản thu nhập tại khoản 5 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007, bao gồm: 1. Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Tài sản gắn liền với đất bao gồm: - Nhà ở; - Kết cấu hạ tầng và các công trình xây dựng gắn liền với đất; - Các tài sản khác gắn liền với đất bao gồm các tài sản là sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp (như cây trồng, vật nuôi).2, Khoản 5, mục II, phần A Thông tư 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và Nghị định 100/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở. Thu nhập từ chuyển quyền thuê đất, thuê mặt nước. Các khoản thu nhập khác nhận được từ chuyển nhượng bất động sản. Khoản 1, 2, 3 chỉ mang ý liệt kê, còn khoản 4 là quy định mở để nhằm bù đắp thiếu sót.
Việc liệt kê các khoản thu nhập không cần thiết trong khi lại thiếu một khái niệm để xác định thế nào là thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản. Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông4, chuyển nhượng là chuyển quyền sở hữu. Do chế độ sở hữu công đối với đất đai nên trong trường hợp này có thể suy rộng thành chuyển quyền sử dụng, quyền thuê đất… Còn thu nhập được định nghĩa là tổng các giá trị tài sản và của cải được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ mà một cá nhân nào đó nhận được từ các nguồn lao động, tài sản hay đầu tư thông qua quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong khoảng thời gian nhất định (thường là một năm).5 Từ đó, có thể đưa ra khái niệm như sau: Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản là tổng các giá trị tài sản và của cải được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ mà một cá nhân, tổ chức nhận được từ hoạt động chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền thuê bất động sản. Cơ sở lý thuyết cho chính sách thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản.
Một nguyên lý tổng quát chi phối hệ thống thuế của các quốc gia được phát biểu như sau: thu thuế theo năng lực kinh tế hay khả năng chi trả của cá nhân. Có ba căn cứ phản ánh năng lực kinh tế, cũng chính là ba cơ sở thuế: (1) mức tiêu dùng hàng năm; (2) thu nhập hàng năm; (3) giá trị tài sản. Trên cơ sở đó hình thành ba nhóm thuế: nhóm thuế tiêu dùng (thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu), nhóm thuế thu nhập (thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân) và nhóm thuế tài sản (thuế nhà, đất).6 4 Viện ngôn ngữ học (2002), Từ điển tiếng Việt phổ thông, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh [39] 5 Nguyễn Như Phát (2007), “Góp ý dự thảo Luật Thuế thu nhập cá nhân”, Nhà nước và Pháp luật, (07), tr. 16 [19] 6 Nguyễn Hồng Thắng (2010), Sự cần thiết cải cách thuế tài sản tại Việt Nam [32] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 14 - Hai tác giả người Anh Chrisopher Pass và Bryan Lowes đã nhận định: “Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập của của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản”.7 Về vấn đề nguồn gốc của thu nhập, Mác đã nghiên cứu và phát hiện ra nền tảng cho những lý luận cơ bản về thuế: lao động với tư cách là hàng hóa - một loại hàng hóa đặc biệt, qua hoạt động lao động luôn tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị của nó, phần mới sáng tạo ra đó được Mác gọi là thu nhập.
Đó chính là cơ sở đảm bảo cho tái sản xuất mở rộng, là nguồn động viên tài chính của Nhà nước.8 Như vậy, xét về bản chất, mọi hình thức quy định nghĩa vụ thuế đều dựa trên thu nhập. Song do yêu cầu của quá trình tái sản xuất, thu nhập trải qua một quá trình vận động trong một chu trình kinh tế và thay đổi trạng thái biểu hiện của nó.