Chương 1: Tổng quan tải liệu; ~ Chương2: Thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu; ~ Chương 3: Kết quả và thảo luân; ~ Kết luận và kiến ngh. ~ Danh mục tà liệu tham khảo ~ Phụ lục CHƯƠNG1 TONG QUAN TAI LIEU 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ SINH VẶT NGOẠI LAI XÂM HẠI “Theo Luật Đa dạng sinh học đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008, loài ‘ngoai Iai và loài ngoại lai xâm hai được định nghĩa như sau: Lodi ngoại lai là loài sinh vật xuất hiện và phát triển ở khu vực vốn không phải là môi trường sống tự nhiên của chúng, có khả năng thích nghỉ, phát triển, tăng. nhanh số lượng cá thể rong hệ sinh thái hoặc nơi sống mới và là nguyên nhân gây a sự thay đổi về cấu trúc quần xã đe dọa đến da dang sinh học bản dia Loài ngoại lai xâm hại là loài ngoại lá lên chiếm nơi sinh ự hoặc gây hại cối với các loài sinh vật bản địa, làm mắt cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện và phát triển Theo Thông tư số 35/2018/TT-BTNMT của Bộ tải nguyên và Môi trường.
ngày 28 thing 12 năm 2018: Loài ngoại lai xâm hại là loài ngoại lai đáp ứng một trong các tiêu chí: dang chiếm nơi sinh sống, cạnh tranh thức ăn hoặc gây hại đối với các sinh vật bản địa, phát tán mạnh hoặc gây mắt cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện và phát triển ở Việt Nam; được đánh giá là có nguy cơ xâm hại cao đối với đa dạng sinh học vã được ghi nhận là xâm hại ở khu vực có khí hậu tương đồng với Việt Nam hoặc cqua khảo nghiệm, thứ nghiệm có biểu hiện xâm hại. Loài ngoại lai có nguy cơ xâm hai là loài ngoại lai đáp ứng một trong các tiêu chí: có khả năng phát triển và lan rộng nhanh, có biểu hiện cạnh tranh thức ăn, môi trường sống à có khả năng gây hại đến các loài sinh vật bản địa của Việt Nam; được ghi nhận là xâm hại tại khu vực có khí hậu tương đồng với Việt Nam; được đánh giá là có nguy cơ xâm hại cao đối với da dang sinh học của Việt Nam. Sinh vật ngoại lai xâm hại có thể bao gồm các loài sinh vật ở tắt cả các nhóm phân loại, cõ đặc tính sinh học nỗi bật, đễ thích nghỉ với các điều kiện khắc nghiệt của môi trường, gây ra những thiệt hại to lớn đến môi trường và hệ sinh thái, làm suy giảm I in dia va suy giảm đa dạng sinh học, ảnh hưởng đến kinh tế sức khỏe con người. Việc nghiên cứu chuyên sâu về sự phân bố cũng như đặc tính sinh học chúng giúp chúng ta dễ dàng ngăn chặn những tác hại của chúng đến hệ sinh thái, để làm tốt điều này đồi hỏi nhiều kiến thức trong nhiề lĩnh vực khác nhau 1.
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TVNLXH TRÊN THẺ GIỚI 1. Da đạng sinh học các loài TVNLXH đã ghỉ nhị Hiện nay trên thể giới có 890 loài SVNLXH, thẳng kê rong 57 quốc gia thi trung bình mỗi quốc gia cố 50 loài SVNILXH gây tác động tiêu cực đến đa dạng sinh học. Theo IUCN, trén thé gidi có 36 loài thực vật ngoại lại xâm hại nguy hiểm trong 46 có 4 loài thực vật thủy sinh và 32 loài thực vật ở cạn. Một số loài thường bắt gặp ở Việt Nam như bèo Nhật Bản (Eichhornia crassipes), Cổ lào (Odorata chromolaena), Cay to minh (Hiptage benghalensis), Cd tranh (Imperata cylindrica), Ngi she (lantana camara), Keo gigu (Leucocephala), Theo báo cáo của World Bank (2007) 106 quốc gia có Vườn quốc gia đã được ghỉ nhận là có các loài thực vật ngoại lai xâm hại, trong đó có 326 loài NLXH được xác định là vin đề lớn đối với các khu báo tồn.
Loài TVNLXH xuất hiện ở nhiều khu vực trên thế giới, tuy nhiên các khu vue Chiu A, Châu Phi, Nam và Trung Mỹ (bao gồm Mexico và Caribe) có số lượng loài và diện tích phân bổ lớn hơn so với các khu vục khác, Dựa vào mức độ nghiêm trọng mà TVNLXH đã gây ra, IUCN (Liên Minh các Tổ chức bảo tần thiên nhiên thể giới) đã nghiên cứu và đưa ra danh mục các loài xâm hại toàn cầu (Global Invasive Species Database), với 100 loài có nguy cơ xâm bại cao, trong đồ có 32 loài thực vật trên cạn và4 loài thực vat thủy sinh. Nhìn tổng thể, các loài thực vật ngoại lai xâm hại hầu hết là sinh vật có khả năng phát tần nhanh, có khả năng sinh trưởng, thích nghỉ cao trong điều kiện khắc nghiệt, cây phát triển nhanh và khó diệt trừ. ñ vậy tác hại chính của thực vật ngoại lai xâm hại là làm suy giảm đa dạng sinh học các loài bản địa [16] Tại Bắc Mỹ những nghiên cứu đầu tiên về TVNLXH được Chính phủ Mỹ thực hiện vào những năm đầu thập ky 90 đã ghi nhận tại Mỹ và Canada có khoảng 2.100 loài thực vật ngoại lai xâm bại. Nhiều loài rong tổng số 5.000 loài thực vật ngoại lai hiện dang bắt gặp trong các hệ sinh thái tự nhiên ở Hoa Kỳ là những loài được du nhập để làm thúc ăn, lấy sợi hoặc làm cây cảnh (U.S Congress, 1993; Pimental vi cộng sự, 2000).
Ở Hoa Kỳ, số lượng loài thực vật ngoại lai xâm hại ở các bang không giống nhau và biển động từ 836 đến 47% tổng số loài thực vật của từng bang (USDA Forest Service, 2002) Tại Châu Phi hu h quốc gia đều bị ảnh hướng bởi các sinh vật ngoại lại xâm hại. Năm 2004, IUCN đã xác định được 49 loài ở Maurideus, 44 loài ở Swaziland, 37 6 Algeria va Madagascar, 35 loài ở Kenya, 28 loài ở Egypt, 26 loài ở Ghana va Zimbabwe, 22 loai & Ethiopia (IUCN/SSC/ISSG, 2004), Riêng đổi với TVNLXH, tại Cộng hòa Nam Phi, IUCN (2004) đã xác định được 81 loài sinh vật ngoại lai nhưng một nghiên cứu khác của Henderson (1995) cho rằng quốc gia này ít nhất có 161 loài thực vật ngoại lai xâm hại bắt gặp trong các hệ sinh thái tự nhiên và bán tự nhiên. Ngoài ra, theo một nghiên cứu của Van Wilgen (2004), có khoảng 750 loài thực vật thân gỗ và gần 8.000 loài cây bụi, cây quả mọng nước và cây thân thảo được ghỉ nhận đã du nhập vào Nam Phi. Trong số các loài này, có tối 161 loài thực vật ngoại lai xâm hại, trong đó có 110 loài (chiếm 68% các loài xâm.
bại) thuộc nhóm thực vật thân gỗ (Richardson, Higgins, 1998). Tổng diện tích bị các loài thực vật thân gỗ ngoại lai xâm hại ở Nam Phi là hơn 100.đương 8% điện tích quốc gia) (Van Wilsen và công sự, 2001). Tại Châu Á Viện Hàn Lâm Khoa Học Trung Quốc (2007), đã phát hiện ra loài day leo Bim Bim hoa vàng (Merremia boisiana) là một loài thực vật xâm hại nguy. hiểm, chúng phát tán nhanh bằng hạt, chỏi, rễ, thân.
Các nhà khoa học Trung Quốc. cđánh giá đây là loài nguy hiểm bậc nhất trong các loài xâm hại ở Trung Quốc [11]. 'Nhật Bán là nơi có số lượng lớn cá thể các loài sinh vật sống được nhập khẩu hang năm (Japanese Customs, 2003), theo thống kê ban đầu của Bộ Mỗi trường Nhật Bản (2004) có 1.556 loài thực vật đã ghỉ nhận tạo lập quần thể ở Nhật Bản hoặc tìm thấy. trong vùng hoang đã ở Nhật Bản (Mito và Uesugi, 2004).2 Ảnh hướng của các loài TVNLXH dén các hệ sinh thái trên thế giới Nghiên cứu của Trung tâm Giám sát bảo tồn thé giới (World Conservation Monitoring Centre) 4% chi ra ring céc loai sinh vật ngoại lai xâm hại đã lâm tuyệt “chủng 39% số loài xuất hiện trên bề mặt trái đất kể từ năm 1600, phá huỷ mắt 36%.
các hệ sinh thái, trong đó Châu Úc là lục địa bị ảnh hưởng năng nhất bởi những loài xâm lần, 90 loài thực vật xâm lin trên thể giới có nguồn ốc tại châu lục này[ 12] Việc soát và ngăn ngừa tác động của các loài TVNLXH cũng khăn và tốn chỉ phí,chỉ tính riêng các qu gia Châu Phi, ước tính đã USD/năm để kiểm soát các loài béo Nhat Bin. O Oxtriylia, ly Trình nữ thần gỗ lan rộng trên diện tich 18000 ha và Chính phủ đã bỏ ra 12 triệu USD/năm để diệt trừ nhưng vẫn không thu được kết quả như mong muốn, dự kiến loài này có thể lan rộng ra diện tích 42.000 ha đắt canh tác trong thời gian tới. Theo Mạng lưới Toàn cầu Chuyên gia về loài xâm hại (ISSG) thuộc IUCN, ước tính chỉ phí do gây hai va kiểm soát ngoại lại hàng năm của nước Mỹ phải hơn 138 triêu đô-la. Tại Anh, hàng năm phải mất 344 triệu USD cho việc diệt trừ các loài cỏ dại ngoại lại gây hại, hệ sinh thái bản địa không thể tái sinh một khi đã bị các loài này xâm lược [7] Sinh vật ngoại lại xâm hại không chỉ tác động trực tiếp lên các hệ sinh thái, gây thiệt hại về kinh tế mã còn ảnh hưởng đến sức khoẻ con người.
Những ảnh hưởng do sinh vật ngoại lai xâm hại gây ra đang đe dọa tới đa dạng sinh học, kinh tế và sức khỏe của con người. Vì vậy, việc quản lý sinh vật ngoại lai xâm hại là một vấn đề được quan tâm trên toàn thể giới Đã có nhiều nghiên cứu đánh giá mức độ xâm hại và ảnh hưởng của TVNLXH <dén hệ sinh thái và sự đa dang sinh học. Cụ thể, theo Kevin Heffeman, (Cục Bảo tồn và Du lịch, Virginia, Mỹ) cho rằng tác động của các loài ngoại lai lên các loài bản địa tỷ lệ thuận với diện tích xâm hại, mật đô cá thể đạt được và tác động sinh thai của ching (Parker va es, 1999). Trong một nghiên cứu độc lập khác, Hanno Sandvik (2013) kết luận mức độ tác động của loài ngoại lai được đánh giá dựa trên 2 trụ tác động tiềm năng xâm nhập và tác động sinh thái của chúng, thông qua ma trận đánh giá mức độ xâm hại có thể đánh giá mức độ nguy hại của thực vật ngoại lai xâm hại ở 5 cấp độ: tác động nghiêm trong (SE), tác động cao (HI), tác động tiềm an cao (PH), tác động thấp (LO), và không nhận thấy tác động (NK).
Một loài có điểm thấp trên một trong những trục này sẽ có tác động thấp, dù điểm số của nó ở trục kia nhur thé nào [23]. Hiện nay, trên thí ii, da có rất nhiều tổ chức, chính sách toàn cầu và khu vực đề cập đếi để sinh vật ngoại lại xâm hại như Công ước Đa dạng Sinh học (CBD), Công ức quốc tế về Báo vệ thực vật IPPC), Công ước về các loài hoang i di cu (CMS), .