CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Virus gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người 1. Khái niệm HIV là tên viết tắt của Human Immunodeficiency Virus (Virus gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người).
Virus này tấn công và làm suy yếu hệ miễn dịch ở người. Nếu không được điều trị, HIV có thể gây ảnh hưởng tới hệ miễn dịch của người bệnh đến mức cơ thể họ không còn khả năng tự bảo vệ. Một số đặc điểm của virus HIV HIV có đặc điểm chung của họ Retroviridae, chúng có dạng hình cầu kích thước khoảng 80 - 100mm. Genom là ARN một sợi và có enzyme sao chép ngược (RT: Reverse Transcriptase).
Có 5 nhóm lớn trong họ Retroviridae,1 trong số 5 nhóm đó có khả năng lây nhiễm trùng chậm là Lentivirus. HIV – 1,HIV – 2 của Lentivirus có khả năng gây bệnh AIDS ở người. Cấu trúc của HIV Virus hoàn chỉnh gồm 3 lớp: Lớp vỏ ngoài (vỏ pepton): lớp này là 1 màng lipid kép,với 72 cấu trúc lồi trên bề mặt, có bản chất là glycoprotein,với trọng lượng 120 và 41 kilodalton. Vỏ trong (vỏ capsid): vỏ này gồm 2 lớp protein: Lớp ngoài hình cầu, cấu tạo bởi protein có trọng lượng phân tử 17 kilodalton.
Lớp trong hình trụ, cấu tạo bởi các phân tử có trọng lượng phân tử là 24 kilodalton. Lõi là những thành phần bên trong của vỏ capsid, bao gồm: 4 Luan van Hai phân tử ARN đơn, đó là bộ gen di truyền HIV (genom). Genom của HIV chứa 3 gen cấu trúc: Gen Gag (group specific antigen) là các gen mã hoá cho các kháng nguyên đặc hiệu của capsid của virus. Gen EnV (envelop) mã hoá cho glycoprotein lớp vỏ pepton của HIV.
Vòng đời của HIV Sau phơi nhiễm 5 – 7 ngày, những tế bào có kết quả xét nghiệm sàng lọc dương tính HIV di chuyển đến cơ quan lympho ngoại vi, tại đây virus sẽ nhân lên nhanh chóng. HIV chỉ có thể thực hiện được chu trình nhân lên trong những tế bào cơ thể người có thụ thể CD4 trên bề mặt. Quá trình nhân lên của HIV trải qua các giai đoạn sau: Giai đoạn gắn kết: Nhờ phân tử CD4 và các đồng thụ thể (CCR5 và CXCR4) với đại thực bào T, virus được hòa màng envelop của HIV với màng tế bào và xâm nhập vào tế bào chủ. Giai đoạn sao chép ngược: Nhờ RT, ADN bổ sung cho HIV được tạo thành từ khuôn mẫu ảnh của nó, đầu tiên là phân tử lai ARN – ADN, sau đó ARN được tách khỏi ADN nhờ ARN – ase và sợi ADN bổ sung mới được tổng hợp thành ADN chuỗi kép.
Giai đoạn nhân lên: Bằng cách ADN chuỗi kép chui vào nhân tế bào chủ và tích hợp vào AND tế bào nhờ intergrase. ADN bổ sung của HIV sao mã thành ARN genom, ARNm, các protein cần thiết của HIV. 5 Luan van Giai đoạn nảy chồi: Từ các thành phần đã được tổng hợp, các hạt HIV mới được lắp ráp ở bào tương tế bào, các hạt virus tiến gần màng sinh chất và đẩy màng nẩy chồi. Giai đoạn trưởng thành, từ cách nảy chồi từ hạt virus được giải phóng khỏi tế bào và tiếp tục lây nhiễm cho tế bào mới.
Các tế bào giúp cho virus nhân lên thì bị chết. Động học của HIV HIV nhân lên hàng ngày trong cơ thể người nhiễm. Song song với hàng chục triệu virus nhân lên mỗi ngày thì tế bào lympho TCD4 hình thành mới nhiều hay ít. Điều này được chứng minh bằng động học của kháng nguyên p24 trước sự biến đổi của kháng thể chống kháng nguyên p24, kháng thể tăng thì kháng nguyên p24 giảm và ngược lại hoặc thời gian nung bệnh của HIV – 2 dài hơn HIV – 1 hoặc tế bào lympho TCD4 mới nhiều thì sự giảm đi của TCD4 sẽ chậm hơn.
Một ít trường hợp virus tích hợp trong tế bào lympho TCD4 không hoạt hóa quá trình sao chép và dịch mã để tổng hợp ra các protein cần thiết của virus thì tạo nên nhiễm trùng tiềm tàng. HIV còn tồn tại trong cơ thể vĩnh viễn mặc dù thuốc kháng Retrovirus kéo dài. HIV sẽ nhân lên và phục hồi sau khi ngừng thuốc. Các yếu tố liên quan đến có kết quả xét nghiệm sàng lọc dương tính HIV Người ta phân lập được HIV từ máu, tinh dịch, dịch tiết từ âm đạo, nước bọt, nước mắt, sữa mẹ, nước tiểu và các dịch khác của cơ thể.
Nhìn chung sự lây có kết quả xét nghiệm sàng lọc dương tính HIV phụ thuộc vào: Số lượng HIV có trong máu và dịch thể của người có kết quả xét nghiệm sàng lọc dương tính HIV; 6 Luan van Đường vào của HIV, sự có mặt của STIs; Thời gian tiếp xúc; Sức đề kháng (hay miễn dịch) của cơ thể; Độc tính hay tính gây nhiễm của virus. Mặc dù có sự phân bố rộng lớn của HIV trong cơ thể, nhiều nghiên cứu dịch tễ học cho thấy rằng chỉ có máu, tinh dịch và dịch tiết âm đạo đóng vai trò quan trọng trong việc lây truyền HIV. Các phương thức lây truyền chính của HIV: lây truyền qua đường tình dục; lây truyền qua máu và các chế phẩm của máu; lây truyền mẹ - con; lây truyền trong chăm sóc y tế [5]. Lây truyền qua đường tình dục Đây là phương thức lây truyền HIV quan trọng và phổ biến nhất trên thế giới (98%).
Sự lây truyền xảy ra qua quan hệ tình dục khác giới giữa nam và nữ: giao hợp âm đạo - dương vật từ nam sang nữ và từ nữ sang nam, qua quan hệ tình dục đồng giới nam theo đường giao hợp dương vật - hậu môn hay tình dục lưỡng giới. Những vết xước nhỏ không thể nhìn thấy bằng mắt thường trên bề mặt niêm mạc âm đạo, hậu môn hay dương vật sẽ là đường vào của virus trong lúc giao hợp và từ đó vào máu. Có kết quả xét nghiệm sàng lọc dương tính HIV có một mối quan hệ chặt chẽ với các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STIs) đặc biệt là các bệnh viêm loét như hạ cam, giang mai, herpes simplex… Những bệnh này làm tăng cảm nhiễm với HIV và tăng nguy cơ lây có kết quả xét nghiệm sàng lọc dương tính HIV có thể lên gấp 20 lần. Phương thức tình dục miệng - bộ sinh dục có thể lây truyền HIV, hôn sâu và mạnh có thể lây truyền HIV nếu ở miệng có vết loét.
Lây truyền qua máu và các chế phẩm của máu HIV có mặt trong máu toàn phần và các chế phẩm từ máu như khối hồng cầu, tiểu cầu, huyết tương, các yếu tố đông máu. Do đó HIV có thể được truyền qua máu hay các sản phẩm của máu có có kết quả xét nghiệm sàng lọc dương tính HIV. Nguy cơ lây truyền HIV qua đường truyền máu có tỷ lệ rất cao, trên 90%. Tuy nhiên, ngay cả khi xét nghiệm máu có kết quả âm tính, khả năng lây có kết quả xét nghiệm sàng lọc dương tính HIV vẫn có thể xảy ra đó là khi người cho máu có thể mới có kết quả xét nghiệm sàng lọc dương tính HIV, đang ở trong “thời kỳ cửa sổ huyết thanh” nên chưa phát hiện được HIV bằng các xét nghiệm thông thường.
HIV cũng có thể truyền qua việc sử dụng chung bơm kim tiêm bị có kết quả xét nghiệm sàng lọc dương tính HIV không tiệt trùng đúng cách, đặc biệt ở những người nghiện chích ma tuý, ngay cả khi có một lượng máu nhỏ còn sót lại trong bơm kim tiêm. Lây truyền mẹ - con Nếu không can thiệp, lây truyền HIV từ mẹ sang con có thể đạt tới tỷ lệ 25 - 40% đối với HIV-1, đối với HIV-2 là 1 - 4% tuỳ theo các nghiên cứu khác nhau. Theo một chuyên khảo tỷ lệ lây truyền mẹ - con trong lúc mang thai 5 – 10%, vào lúc đẻ 10% - 20% và khi cho con bú 5 - 20%. Nồng độ virus trong huyết tương mẹ, những tai biến, biến chứng lúc đẻ là những yếu tố chính của nguy cơ lây truyền mẹ - con.
Sau ba mươi sáu năm, khi ca AIDS đầu tiên ở trẻ em lây truyền từ mẹ sang con năm 1983. Nhờ sử dụng thuốc kháng retrovirus trong thai kỳ đã ngăn ngừa HIV nhân lên, làm giảm lượng HIV trong cơ thể người mẹ. Có ít HIV trong cơ thể thai phụ sẽ bảo vệ sức khỏe của người phụ nữ và giảm nguy cơ truyền HIV sang con trong khi mang thai và sinh nở [6]. Lây truyền trong chăm sóc y tế Còn được gọi là tai nạn phơi nhiễm và mới đây được sử dụng là thuật ngữ nhiễm trùng bệnh viện.
Phơi nhiễm với máu trong môi trường nghề nghiệp xảy ra với y tá là 0,03%, với hộ lý và bác sĩ là 0,02%. Tai nạn chủ yếu là do mũi tiêm và các dụng cụ sắc nhọn. Tuy nhiên số trường hợp có chuyển đổi huyết thanh (bị nhiễm) do tai nạn nghề nghiệp hiện có khoảng 48/11.000 người bị phơi nhiễm, trong đó chủ yếu là y tá. Các giai đoạn của quá trình có kết quả xét nghiệm sàng lọc dương tính HIV Có 3 giai đoạn như sau: Giai đoạn có kết quả xét nghiệm sàng lọc dương tính HIV cấp tính: Thường thường người ta không biết mình có kết quả xét nghiệm sàng lọc dương tính HIV lúc nào và cho tới khi thông qua 1 xét nghiệm vì ốm đau hay vì 1 vài lí do gì đó mới biết.
Có thể 1 vài biểu hiện lâm sàng, song ít được chú ý vì nó giống cảm cúm. Giai đoạn HIV không triệu chứng: Người có kết quả xét nghiệm sàng lọc dương tính HIV vẫn khỏe mạnh bình thường, hệ miễn dịch vẫn có khả năng chống lại virus giai đoạn này gọi là “thời kì ủ bệnh”, đây là khoảng thời gian từ khi có kết quả xét nghiệm sàng lọc dương tính HIV tới khi người nhiễm phát bệnh có virus, thời gian này ở người lớn trung bình là 10 năm. Phần lớn người trong số họ chưa thấy bất kì triệu chứng nào và nhiều người còn chưa biết mình bị có kết quả xét nghiệm sàng lọc dương tính HIV và họ có thể làm lây nhiễm sang người khác. Giai đoạn có biểu hiện triệu chứng lâm sàng: 9 Luan van Sau thời kì ủ bệnh, người có kết quả xét nghiệm sàng lọc dương tính HIV bắt đầu trở nên ốm yếu, virus làm suy yếu hệ thống miễn dịch của họ tới mức họ mắc các bệnh nhiễm trùng mà ở người có hệ miễn dịch bình thường có thể vượt qua được.
Các bệnh nhiễm trùng này gọi là nhiễm trùng cơ hội và một số bệnh ung thư là nguyên nhân khiến người có kết quả xét nghiệm sàng lọc dương tính HIV ốm đau.